You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

521

Saturday, February 10th 2018, 4:31pm

Phải ăn năn sám hối như thế nào để được sống?

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê:
Anh em thân mến, như những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện và được yêu thương, anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và hãy tha thứ cho nhau nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện.
Nguyện cho bình an của Chúa Kitô làm chủ trong lòng anh em, sự bình an mà anh em đã được kêu gọi tới để làm nên một thân thể.
Anh em hãy cảm tạ Thiên Chúa.
Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em.
Với tất cả sự khôn ngoan, anh em hãy học hỏi và nhủ bảo lẫn nhau. Hãy dùng những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca của Thần khí, cùng với lòng tri ân, để hát mừng Thiên Chúa trong lòng anh em.
Và tất cả những gì anh em làm, trong lời nói cũng như trong hành động, tất cả mọi chuyện, anh em hãy làm vì danh Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người mà tạ ơn Thiên Chúa Cha.
Hỡi các bà vợ, hãy phục tùng chồng trong Chúa cho phải phép.
Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình, đừng đay nghiến nó.
Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa. Hỡi những người cha, đừng nổi cơn phẫn nộ với con cái, kẻo chúng nên nhát đảm sợ sệt.
Ðó là lời Chúa.
(Colossians 3, 12-21)

522

Tuesday, February 20th 2018, 3:20am

Đầu năm, NP xin tặng một bài ca cổ cho các quan tham sắp được vào nằm trong nghĩa địa cấp cao:
Trang Tử cổ bồn ca
莊子鼓盆歌
堪嘆浮世事,Kham thán phù thế sự,
有如花開謝。Hữu như hoa khai tạ.
妻死我必埋,Thê tử ngã tất mai,
我死妻必嫁。Ngã tử thê tất giá.
我若先死時,Ngã nhược tiên tử thời,
一場大笑話。Nhất trường đại tiếu thoại.
田被他人耕,Điền bị tha nhân canh,
馬被他人跨。Mã bị tha nhân khóa.
妻被他人戀,Thê bị tha nhân luyến,
子被他人罵。Tử bị tha nhân mạ.
以此動傷心,Dĩ thử động thương tâm,
相看淚不下。Tương khán lệ bất hạ.
世人笑我不悲傷,Thế nhân tiếu ngã bất bi thương,
我笑世人空斷腸。Ngã tiếu thế nhân không đoạn trường.
世事若還哭得轉,Thế sự nhược hoàn khốc đắc chuyển,
我亦千秋淚萬行。Ngã diệc thiên thu lệ vạn hàng.

Vô Danh phỏng dịch:
Nên than ôi, thế sự
Ðường hoa đơm lại rã
Vợ chết ắt mi chôn
Mi chết vợ cải giá
Ví bằng mi chết trước
Một trò cười ha hả
Ruộng bị người khác cày
Ngựa bị người khác cưỡi
Vợ được người khác lấy
Con bị người khác mắng
Nghĩ lại có chạnh lòng
Vậy nên tuôn dòng lệ
Ðời cười mi chẳng bi thương
Mi cười đời không đoạn trường
Nếu khóc mà việc đời chuyển biến được
Thì mi nên khóc thiên thu hàng vạn dòng!
----------

Trang sinh tên Trang Chu cũng gọi là Trang Tử, học đạo Lão Tử, người đời Chiến Quốc.

523

Thursday, March 1st 2018, 6:03pm

USS Carl Vinson tới Đà Nẵng và còn gì nữa?
BBC Tiếng Việt
1 tháng 3 2018

Sau chuyến thăm vào Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson, Hoa Kỳ sẽ mở ra một loạt hoạt động của Đối tác Thái Bình Dương về hải quân trong vùng. Bản thân chuyến thăm của hàng không mẫu hạm Mỹ lần đầu trở lại Việt Nam từ cuộc chiến tranh, kết thúc năm 1975 có ý nghĩa lớn cho quan hệ Mỹ - Việt.

Prashanth Parameswaran bình luận trên The Diplomat (01/03/2018 ) rằng:

"Có cả lý do nội bộ khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa USS Carl Vinson sang Đông Nam Á.Căng thẳng tăng lên, thể hiện bằng các sự cố và trì hoãn gần đây của Hạm đội 7 khiến một giải pháp là để Hạm đội 3 tham gia vào hoạt động nhiều hơn ở Tây Thái Bình Dương."

Tàu USS Carl Vinson, đóng ở cảng San Diego, California, là tàu chủ đạo cho Nhóm tấn công của Hạm đội 3. Còn về quan hệ khu vực, vẫn Prashanth Parameswaran viết rằng:
“Tại vùng Đông Nam Á đang có lo ngại rằng sau năm củng cố quyền lực của ông Tập Cận Bình ở kỳ Đại hội Đảng Cộng sản 2017, Trung Quốc sẽ cứng rắn hơn trong năm 2018. Điều này khiến Hoa Kỳ càng thể hiện quyết tâm coi vấn đề Biển Đông cũng là của họ trong năm nay.”

Một tác giả khác, Kyle Mizokami viết hôm 27/02 rằng Hoa Kỳ thể hiện mạnh mẽ nhằm quyến rũ Việt Nam, nước nhỏ nhưng có ảnh hưởng lớn (small but influential country).
Trang Washington Times (21/2) nói rõ hơn khi trích lời Phó đô đốc John Fuller, tư lệnh nhóm tấn công phát biểu trên tàu USS Carl Vinson rằng:
"Sự hiện diện của Hoa Kỳ có ý nghĩa lớn. Tôi nghĩ điều thật rõ là chúng tôi đã có mặt trong vùng biển Nam Trung Hoa và đang hoạt động ở đây."
Một sỹ quan Mỹ phát biểu:
“Mục tiêu của tàu USS Carl Vinson tại Biển Đông là để thúc đẩy tự do hàng hải, để bay lá quốc kỳ của Mỹ và hợp tác với các đối tác và đồng minh - tất cả để gửi thông điệp cho Trung Quốc là cả vùng biển này không phải của họ".
Dương hỗ trợ Hạm đội 7
Sự hiện diện của Hải quân Mỹ lần này khi đến Biển Đông là cả một nhóm tấn công gồm các tàu USS Carl Vinson, USS Wayne E. Meyer (DDG 108 ) và tuần dương hạm mang hỏa tiễn USS Lake Champlain (CG 57).

Nhưng năm 2018 còn có nhiều hoạt động khác của Hải quân Hoa Kỳ

Theo trang Defense News từ Úc, một chiến dịch chuẩn bị khắc phục thảm họa (disaster-response preparedness) tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương.
Đối tác Thái Bình Dương, mà một phần có chuyến thăm vào Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm Mỹ đầu tháng 3 - có mục tiêu tăng hợp tác với các đối tác khu vực. Năm 2018, đối tác này sẽ nhận 800 quân nhân và nhân viên dân sự từ Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, Pháp, Peru và Nhật Bản lên tàu y tế USNS Mercy và tàu vận tải USNS Fall River trong chuyến đi khu vực tới đây.
USNS Mercy sẽ đến thăm Indonesia, Sri Lanka, Malaysia và Việt Nam, còn tàu USNS Fall River sẽ đến đảo Yap, Palau, Malaysia và Thái Lan.
trang Defense News cho hay Đối tác Thái Bình Dương cũng sẽ quay lại Sri Lanka trong năm thứ nhì, đánh dấu sự hiện diện hải quân của Mỹ ở Ấn Độ Dương, sau lần đầu năm 2017.

Tại sao Việt Nam?
Riêng với Việt Nam, quan hệ ngoại giao bằng các chuyến thăm hải quân của Hoa Kỳ tiến chậm mà chắc. Nhưng gần đây, các hoạt động này có vẻ tăng lên với cường độ nhanh hơn:
- Tháng 10/2017, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Nguyễn Chí Vịnh đã thăm tàu USS Carl Vinson khi đến Mỹ.
- Đại sứ Việt Nam Phạm Quang Vinh tại Mỹ cũng đã thăm tàu sân bay USS George H.W. Bush ở Norfolk, Virginia.
- Hồi tháng 05/2017 Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc cũng đã thăm Tòa Bạch Ốc
- và đến tháng 11/2017 Tổng thống Donald Trump thăm Việt Nam, đọc diễn văn nêu viễn kiến về khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

USS Carl Vinson là tàu sân bay đầu tiên của Hoa Kỳ quay lại Đà Nẵng từ 1975
Các nhà quan sát cho rằng sau khi Philippines và Thái Lan có động thái ngả dần sang Trung Quốc, Hoa Kỳ nay muốn thể hiện quyết tâm hơn ở Biển Đông và Việt Nam hoan nghênh điều này.

524

Thursday, March 1st 2018, 7:03pm

Nhận đinh:
Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên:
“ Theo cái kinh nghiệm với sự học hỏi của Nguyên là chiến tranh ở vùng ĐNA sẽ không đi tới tại vì ảnh hưởng về kinh tế, về xã hội của Trung cộng và nước Mỹ đã dính liền với nhau rất là nhiều, đưa đến chiến tranh thì rất là khó. Thể nào cũng đưa ra giải pháp yên ổn (tiếng Mỹ gọi là “peaceful solution”) nhưng với một điều kiện là quân đội Hoa Kỳ phải có mặt ở đó."

NP đồng ý với ông Cao Nguyên một phần. Ông chỉ ra rất đúng: không phải chỉ là vấn đề ý thức hệ , mà chính vấn đề kinh tế mới là then chốt. Đúng y với câu:

"It's the economy, stupid ! "
(James Carville, Chiến Lược Gia của cuộc vận động bầu cử tổng thống 1992 cho Bill Clinton )
Hởi những thằng đầu đất, mọi sự đều do miếng ăn mà ra cả !
Vì nghèo đói nên mới có chiến tranh và vì có chiến tranh mới nghèo đói.

Tuy nhiên NP lại e rằng khi mà “ a peaceful solution” không thể có được, khi mà chính phủ VN và chính phủ Hoa Kỳ không bắt tay và hợp tác với nhau được thì chiến tranh ắt phải xảy ra.Nguy hơn nữa là trước khi Mỹ khởi động chiến tranh với Trung Cộng thì cả Mỹ và Trung Cộng sẽ khởi động lại cuộc nội chiến ở VN, giống y như cuộc nội chiến của Ukrain đã bị Nga Sô châm ngòi ở Crimea.

Nguy hơn nữa là hiện thời cả ba phe Mỹ-Nga-TC đều hiện đang có mặt ở VN và cả ba đang rốt ráo ra sức lũng đọan chính trường VN. Giả sử rằng:
- Nga thì muốn VN giử vững dược sự thống nhất đất nước dưới sự cai trị của phe thân Nga để biến VN thành một cái que lúc cần thì sẽ chọt mông TC.
- TC thì đang khuynh lóat chính trường VN và cố biến VN trở lại thành một thuộc địa của họ, nhưng mà cảm thấy như đang gậm một cái chân gà chưa rút được hết xương nên khó nuốt.
- Mỹ thì đang muốn trở lại VN với một tầm mức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn xưa gấp bội phần để kiềm tỏa TC và chặn đứng ảnh hưởng của Nga.

Vậy thì cả Nga và TC cùng mong muốn dùng thế lực của Mỹ để lọai bỏ ảnh hưởng của nhau. Kết qủa là trong một chừng mực nào đó thì cả hai sẽ phải chấp nhận sự trở lại VN của Mỹ. Bởi vì Mỹ sẽ không tự nhiên mà đem quân tấn công TC hoặc là Nga, trong khi đó Nga và TC là hai kẻ cựu thù có chung đường biên giới nên sẳn sàng ngọam nhau bất cứ lúc nào.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 4th 2018, 6:32pm)


525

Friday, March 2nd 2018, 4:21am

Trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, TS Nguyễn Tiến Hưng có nói:
“Hoàn cảnh lịch sử hiện nay của Mỹ hết sức khó khăn. Nó khác hẳn với hoàn cảnh trong những thập niên 60 và 70. Trong hai thập niên ấy, chiến lược của Mỹ là ngăn chặn TC, còn bây giờ là phải trực diện đối đầu với TC. Cho nên về chiến lược ở Biển Đông: Mỹ đang xúc tiến cho thật nhanh diễn tiến “Xoay Trục”.
Nhưng “Xoay Trục”khó có thể hoàn thành mau lẹ và thành công nếu không có sự cộng tác của Việt Nam, vì đây là địa điểm chiến lược quan trọng nhất như Bộ Quốc Phòng Mỹ đã xác định ngay từ đầu thập niên 50.
Vì vậy Mỹ muốn thúc đẩy hợp tác quân sự chặt chẽ hơn đối với Việt Nam. Mỹ và VN đã khẳng định kế hoạch hợp tác quốc phòng Việt - Mỹ trong giai đoạn 2018-2020. Hai bên hoan nghênh hàng không mẫu hạm Mỹ lần đầu tiên tới thăm một hải cảng của Việt Nam trong năm 2018. Ta thấy giai đoạn 2018-2020 là trùng hợp với khung thời gian Mỹ đặt ra cho mục tiêu hoàn thành bước đầu của chiến lược Xoay Trục khi 60% của hải lực Mỹ sẽ có mặt ở Thái Bình Dương.

Trong Chiến tranh Việt Nam, nhiều hàng không mẫu hạm Mỹ như USS Constellation, Hancock, Ticonderoga có tham chiến, nhưng chỉ đậu ở Subic Bay (Phi Luật Tân), Yokosuka (Nhật Bản) hay thả neo ở ngoài khơi, chưa bao giờ vào Đà Nẵng (hay Cam Ranh).
Năm 1964 chỉ có một hàng không mẫu hạm USS Card chở quân trang, quân cụ và thiết bị vào Sài Gòn và bị đánh bom. Nhưng tàu này rất nhỏ, thuộc vào loại hộ tống Bogue, cũ kĩ vì sản xuất từ 1941.

USS Carl Vinson sẽ cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, là tàu quân sự lớn nhất và mạnh nhất của Hoa Kỳ đến thăm một cảng ở Việt Nam Đây là lần đầu tiên kể từ trước tới nay một hàng không mẫu hạm tiến vào hải phận VN và cập cảng Đà Nẵng. USS Carl Vinson là một trong số chiến hạm lớn nhất thế giới, có chiều cao bằng Tháp truyền hình Tokyo, chở theo 72 phi cơ, gồm các chiến đấu cơ F/A-18 Super Hornet.
USS Carl Vinson thuộc lớp Nimitz, siêu mẫu hạm loại mới (2009), chạy động cơ nguyên tử. Nó cũng là tàu chỉ huy của Đội mẫu hạm tấn công 1 (Carrier Strike Group 1). gồm các tàu USS Carl Vinson, USS Wayne E. Meyer (DDG 108 ) và tuần dương hạm mang hỏa tiễn USS Lake Champlain (CG 57), mới thành lập, có trụ sở tại San Diego. Nó được gọi là một "không quân nhỏ" (small air force) lưu động
Đây là một phần của Đệ tam Hạm đội, mạnh nhất thế giới, thường thả neo ở các đại dương khác chứ không phải ở Thái Bình Dương vốn là nơi do Đệ thất Hạm đội đảm trách.
Tàu này thực sự chứa những khí giới gì ngoài những phi đội khu trục thì còn là một bí mật quân sự - nhưng có thể Trung Quốc cũng đã biết.

Đà Nẵng là căn cứ không quân quan trọng nhất yểm trợ hai Quân Khu I và II của VNCH khi xưa.
Đưa nhiều hàng không mẫu hạm, chiến hạm vào Biển Đông thì cần phải có cơ sơ hỗ trợ từ đất liền - hải cảng, sân bay, bảo trì, tiếp vận xăng nhớt, thực phẩm, tiện nghi. Những cơ sở ấy thì thực tế nhất, tiện lợi nhất là vùng duyên hải của Việt Nam - đặc biệt là Cam Ranh và Đà Nẵng. Đây là hai nơi mà Mỹ đã xây cất, sử dụng trong nhiều năm nên đã quá quen thuộc.

Vị thế của Nga ở VN thì tương đối dễ dàng tiến thóai. Nga có thể rời bỏ VN khi mà họ thấy không có lợi lộc gì để mà dính dáng vào. Hơn nữa Nga còn đang chịu những hậu qủa nặng nề về kinh tế sau khi sát nhập Crimea.

Còn TC thì sau năm 1990 đã biến VN thành sân sau của mình nên phải chịu đựng áp lực từ mọi phía. Nếu một ngày nào đó mà áp lực từ Nga và Mỹ qúa nặng (nhất là áp lực kinh tế), mà TC không dám khởi động can qua, thì TC sẽ lại sẳn sàng đi đêm với Mỹ để đưa ra đề nghị lại chia đôi nước VN như trước năm 1975(Hòa Đàm Ba lê vẫn chưa ráo mực mà!).

Về phần Mỹ thì mọi động thái chuẩn bị đang được triển khai:
- Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson công khai nói về sự cần thiết về một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở trong 100 năm tới. Ca ngợi mối liên hệ hiện nay giữa Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản, ông ám chỉ khả năng bổ sung nước Úc vào nhóm này, qua đó ủng hộ mong muốn làm sống lại "Tứ giác kim cương" (NATO của châu Á) theo một hình thức nào đó.
- Đối tác Thái Bình Dương, mà một phần có chuyến viếng thăm của hàng không mẫu hạm Mỹ USS Carl Vinson vào Đà Nẵng đầu tháng 3 - có mục tiêu tăng hợp tác với các đối tác khu vực. Năm 2018, đối tác này sẽ nhận 800 quân nhân và nhân viên dân sự từ Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, Pháp, Peru và Nhật Bản lên tàu y tế USNS Mercy và tàu vận tải USNS Fall River trong chuyến đi khu vực tới đây.
- Tàu y tế USNS Mercy sẽ đến thăm Indonesia, Sri Lanka, Malaysia và Việt Nam (có thể là ở Cam Ranh),
- Tàu vận tải USNS Fall River sẽ đến đảo Yap, Palau, Malaysia và Thái Lan.
- trang Defense News cho hay Đối tác Thái Bình Dương cũng sẽ quay lại Sri Lanka trong năm thứ nhì, đánh dấu sự hiện diện hải quân của Mỹ ở Ấn Độ Dương, sau lần đầu năm 2017.
Liên minh quân sự đã hình thành, chiến trường đã được lựa chọn, lực lượng tấn công đã đến nơi, vận tải và tiếp liệu đã trù tính, y tế và cứu thương đã sẳn sàng, vậy thì bước đi kế tiếp của Mỹ sẽ là gì???
Không lẽ chỉ để hù dọa TC???
Hoặc một khi TC không chỉ tuyên bố chủ quyên suông mà có những hành động khiêu khích hay lấn chiếm thêm Biển Đông thì Mỹ sẽ phản ứng ra sao?
Có khi nào những căng thẳng đó đưa đến mức xung đột khiến cho Mỹ phải dùng tới khả năng quân sự sẳn có nầy để triệt đường tiếp vận của TC không?
Và trong thế triệt buộc đó TC sẽ làm gì?
Tuyên chiến với Mỹ chăng?
Hay lại xuống thang để cầu hòa bằng cách bán đứng cho Mỹ một nữa nước VN?

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 4th 2018, 6:31pm)


526

Friday, March 2nd 2018, 8:02pm

Đó là giải pháp “ổn định và hòa bình trong trật tự (do Mỹ làm trùm)” ở Biển Đông và Đông Nam Á. Nếu “a peaceful solution”, với điều kiện là quân đội Hoa Kỳ phải có mặt ở đó, không thể đat được giửa 3 “thế lực phản động” nầy thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Thật là “đơn giản như đang giởn”, không HÒA thì là CHIẾN thôi!
Bọn dư luận viên đầu đất sẽ ra sức để bảo rằng Mỹ sẻ không bao giờ dám đánh TC vì sẽ dẫn đến Thế Chiến Thứ Ba. Thật là khôi hài!!!
Vâng, Mỹ và Nga sẽ không bao giờ trực tiếp đánh nhau vì đó là hai siêu cường có sức mạnh nguyên tử ngang nhau, cái đó là thế “lưỡng bại câu thương”, Mutual assured destruction or mutually assured destruction (MAD).
Nhưng Mỹ và đồng minh của Mỹ hòan tòan có dư khả năng để xé nát TC ra thành từng mãnh vụn, cái đó là thế “thập diện mai phục”.

Thực tế cho thấy Mỹ-Nga-Hoa đã từng đánh nhau và vẫn đang đánh nhau, từ xưa tới nay trên khắp thế giới, điển hình là ở các chiến trường Korea, Vietnam, Afghanistan, Iran, Syria …

Vấn đề được đặt ra là:
Chúng sẽ đánh nhau ở mức độ nào và ở đâu?
Những ai sẽ bị ảnh hưởng?
Hậu quả sau đó sẻ như thế nào?

Bàn cờ thế giới luôn luôn chuyễn dịch với những nước cờ bí hiểm do sự tác động của con người (nhân), thời thế (thiên) hay vị thế (địa). Bởi thế người xưa mới nói mưu sự gì, tính tóan việc chi, thì cũng nên có đủ 3 yếu tố là:
- Thiên thời (good timing = đúng lúc).
- Địa lợi (good location = đúng nơi).
- Nhân hòa (good cause = đúng ý mọi người, tức là có chính nghĩa)
Đó cũng là cốt tủy của Kinh Dịch: một quẻ (a situation = một hòan cảnh) sẽ chuyễn biến thành một quẻ khác (another situation = một hòan cảnh khác) do sự tác động của một hào hội đủ 3 yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa, gọi là “hào động” (a transduction).
Chỉ với kiến thức căn bản nầy thì ta có thể hiểu được những nước cờ bí hiểm hay những chuyễn biến lạ lùng của bàn cờ thế giới.

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 5th 2018, 6:57pm)


527

Monday, March 5th 2018, 6:11am

Có hai sự kiện chính trị, một lớn và một nhỏ, có liên hệ mật thiết với nhau đã làm đảo lộn bàn cờ địa chính trị trên vùng Biển Đông. Đó là:
- Phi Luật Tân (Philippines) đột nhiên bỏ Mỹ theo TC.
- TC ra sức chiếm đóng và bồi đắp các vùng đá chìm ở Hòang-Trường sa.

Như mọi người đều biết Phi Luật Tân (Philippines) là một quốc gia duy nhứt của vùng Đông Nam Á bị chiếm làm thuộc địa của phương Tây trước khi xứ sở nầy có cơ hội để hình thành một chính quyền trung ương, cho vùng lãnh thổ rộng lớn của mình, hay một trong những nền văn hóa của họ có cơ hội thống lĩnh những nền văn hóa còn lại.

Mãi đến thế kỷ thứ 15 thì Hồi Giáo mới xâm nhập vào vùng nầy qua ngã Brunei trên đảo Borneo. Đến giữa thế kỷ thứ 16 thì hai tiểu vương quyền (two sultanates) được thiết lập do một số bộ tộc (barangays) được quy tụ dưới sự khuynh đảo của họ. Ngay cả một tộc trưởng (datu) quyền uy ở mãi tận Manila cũng hân hoan chấp nhận Hồi Giáo. Cùng lúc với luồng sóng truyền bá Hồi Giáo thì người Tây Ban Nha (Spanish) cũng đến Phi Luật Tân (Philippines). Nếu như họ đến nơi nầy trể hơn một thế kỷ, hoặc nếu như mục đích của họ chỉ thuần là thương mãi thì người Phi Luật Tân (Filipinos) ngày nay có lẽ đa số là người hồi giáo.

Tuy nhiên động cơ của thực dân Tây Ban Nha (Spanish) không phải chỉ thuần là thương mãi. Họ lúc đầu chỉ coi Phi Luật Tân (Philippines). là một viên đá lót đường để tiếp cận vùng East Indies trù phú (Spice Islands). Thế nhưng ngay cả sau khi người Bồ Đào Nha (Portuguese) và người Hòa Lan (Dutch) đã dẹp tiệm thì họ vẫn tiếp tục hiện diện trên quần đảo nầy.
Khi Ferdinand Magellan, nhà thám hiểm và hàng hải Bồ Đào Nha, đổ bộ lên Cebu vào tháng Ba năm 1521 thì ông ta đã cầm đầu một cuộc càn quét để xâm chiếm Phi Luật Tân (Philippines). Rồi thì một thời gian sau ông ấy lại nhận lấy một cái chết bất đắc kỳ tử trên hòn đảo Mactan gần đó. Sau khi Vua Philip II (mà từ đó những hòn đảo được mang tên) đã phái thêm 3 chuyến hải hành đều kết thúc trong thãm họa, thì ông liền sai Miguel López de Legazpi, người đã thiết lập khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha (Spanish) ở Cebu, vào năm 1565. Thành phố Tây Ban Nha Manila được xây dựng vào năm 1571, và đến cuối thế kỷ thứ 16 thì hầu hết các vùng đồng bằng và duyên hải từ Luzon đến phía bắc của Mindanao đã ở dưới sự kiểm sóat của người Tây Ban Nha (Spanish). Các Sư Huynh (Friars) đã đồng hành với binh lính và hòan tất mau chóng cuộc cãi sang đạo Công Giáo La Mã của tất cả người địa phương đang ở dưới sự cai trị của người Tây Ban Nha (Spanish). Nhưng người hồi giáo (Muslims) của hai vùng Mindanao và Sulu, mà người Tây Ban Nha (Spanish) gọi là Moros, chưa bao giờ hòan tòan khuất phục bởi Tây Ban Nha (Spain).

Trong 100 năm đầu tiên luật lệ của Tây Ban Nha (Spanish rule) được thi hành trên mọi miền dưới hình thức của một lọai thuế nông phẩm nhập cảng từ các nước Châu Mỹ, được biết dưới tên encomienda. Nhưng sự hà lạm đối với những người địa phương đóng thuế và sự bỏ phế những giáo huấn của của bọn thu thuế (encomenderos ), cũng như sự cầm giử thường xuyên phần hoa lợi của triều đình đã khiến cho người Tây Ban Nha (Spanish) hủy bỏ hệ thống nầy vào cuối thế kỷ thứ 17.
Viên Tòan Quyền (The governor-general), được phong chức bởi nhà vua, đã bắt đầu chỉ định các thống đốc dân sự và quân đội của riêng mình để trực tiếp cai trị.
Chính quyền trung ương ở Manila giử vững thể chế trung cổ cho đến thế kỷ thứ 19.
Và viên Tòan Quyền (The governor-general) đầy quyền lực dược coi như vua một cõi. Manila không phải chỉ thống lĩnh các đảo như là thủ đô chính trị mà nó còn là thủ đô tôn giáo của Phi Luật Tân (Philippines).
Viên Tòan Quyền (The governor-general) còn là thủ lãnh dân sự của giáo hội trên các đảo, nhưng đức Tổng Giám Mục (archbishop) thường tranh chấp với ông ta về thế thượng phong trong chính trị. Trong thế kỷ thứ 17 và 18 đức Tổng Giám Mục (archbishop), còn có vị thế là Phó Thống Đốc, thường thắng thế trong cuộc tranh chấp chính trị nầy.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 5th 2018, 6:19am)


528

Tuesday, March 6th 2018, 6:11am

Và cứ như thế người Tây Ban Nha (Spanish) tiếp tục cai trị các đảo của Phi Luật Tân (Philippines) cho đến cuối thế kỷ thứ 18. Lúc đó những thay đổi về chính trị và kinh tế ở Âu Châu bắt đầu ảnh hưởng đến nước Tây Ban Nha (Spain), do vậy cũng ảnh hưởng đến Phi Luật Tân (Philippines). Quan trọng là việc từ từ chấm dứt tình trạng độc quyền của thương thuyền đi buôn đến Acapulco ở Mễ Tây Cơ (Mexico)như là một biện pháp khuyến khích nền giao thương. Thương thuyền cuối cùng đến Manila vào năm 1815, đến giữa những năm 1830 thì Manila mở cửa cho các thương gia ngọai quốc hầu như không có một cấm đóan nào.
Sự phát triển của nền thương mãi nông phẩm khai sinh một giai cấp nhà giàu mới là những chủ đồn điền cà phê, đay, mía, thường là tài sãn của các doanh nghiệp có chủ mang hai giòng máu Hoa-Phi (Chinese-Filipino mestizos). Chinese Filipinos (Filipino: Pilipinong Tsino, Tsinoy [tʃɪnoɪ] or Intsik [ɪntʃɪk]) là những ngưới Phi (Filipinos) hậu duệ của người Hoa (Chinese), phần lớn được sinh ra và lớn lên ở Phi Luật Tân (Philippines). Chinese Filipinos là một trong những cộng đồng người Hoa lớn nhất ở hải ngọai trong vùng Đông Nam Á (Southeast Asia). Cộng đồng nầy có dân số khỏang 1,5 triệu người Phi (Filipinos) có tổ tiên là thuần Hoa, tức là vào khỏang 1.8% của dân số Phi. Thêm vào đó còn phải kể đến những người Phi có dòng máu Hoa (Sangleys—Filipinos) làm nên một cộng đồng thiểu số đáng kể của dân số Phi, mặc dù không có consố thống kê chính xác.
Những người Phi gốc Hoa (Chinese Filpino) từ lâu đã hình thành một giới trung lưu sắc tộc (middle class ethnic group) có mặt trong hầu hết mọi giai tầng của xã hội Phi. Những người Phi gốc Hoa (Chinese Filpino) cũng nắm vai trò lãnh đạo trong thương trường và áp đảo trong nền kinh tế của Phi hiện nay. Họ thực sự đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và chính trị của Phi Luật Tân (Philippines).


Vẫn không có một nền giáo giục công ở Phi Luật Tân (Philippines) mãi cho đến năm 1863 và cả đến khi đó chương trình học vẫn còn bị họach định bởi giáo hội.
Chưa đến 1/5 của tòan thể học sinh có thể đọc và viết tiếng Tây Ban Nha (Spanish) và còn ít hơn số đó nữa những học sinh có thể nói đúng ngôn ngữ nầy. Tuy nhiên vào khỏang năm 1880 thì có nhiều con cái của những người giàu được gởi qua Âu Châu du học. Thế là chủ nghĩa quốc gia và hòai bảo cải tổ xã hội nở rộ trong bầu không khí tự do cởi mở.

Từ nhóm du học sinh ưu tú Phi Luật Tân nầy phát sinh một phong trào vận động tuyên truyền gọi là the Propaganda Movement. José Rizal, một khuôn mặt sáng chói của phong trào, sáng tác 2 quyển tiểu thuyết chính trị—Noli me tangere (1886; Touch Me Not) and El filibusterismo (1891; The Reign of Greed)—đã tác động mạnh vào xứ Phi Luật Tân. Năm 1892 Rizal hồi hương và thành lập hội đòan Liga Filipina, nhóm cải cách xã hội ôn hòa và vẫn trung thành với Tây Ban Nha (Spain), mà không đả động gì đến ý muốn độc lập. Nhưng Rizal nhanh chóng bị bắt và bị đày tới một hòn đảo xa xôi biệt lập ở phía nam và sau cùng bị xử tử bởi những ngưởi Tây Ban Nha (Spanish) vào năm 1896. Trong lúc đó thì ý muồn giành độc lập đã lớn mạnh trong tư tưởng của giai cấp trung lưu cấp tiến nầy. Chấn động bởi việc bắt giử Rizal vào năm 1892, những nhà họat động nầy thành lập tổ chức Katipunan dưới sự lãnh đạo của Andres Bonifacio, một thủ kho tự học. Tổ chức Katipunan nhất quyết đánh đuổi ngưởi Tây Ban Nha (Spanish) ra khỏi quần đảo bằng cách mạng vỏ trang. Cuộc cách mạng vỏ trang nầy đã bùng nổ sớm hơn dự định vào tháng 8 năm 1896 và bị dẹp tan vào tháng 12 năm 1897. Lãnh đạo của cuộc nổi dậy là thị trưởng Emilio Aguinaldo được trả cho một số tiền lớn và được phép rời đi Hong Kong cùng với những lãnh đạo khác. Ngưởi Tây Ban Nha (Spanish) cũng hứa là sẽ cải tổ xã hội. nhưng sự cải tổ rất chậm đến và nhiều nhóm chống dối nhỏ không tin tưởng chính quyền nên đã không từ bỏ vỏ trang, đưa đến những cuộc đụng độ thường xuyên.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 6th 2018, 6:57pm)


529

Thursday, March 8th 2018, 1:06am

Trong khỏang thời gian đó thì cuộc chiến Hoa Kỳ và Tây Ban Nha bùng nổ (the Spanish-American War). Sau chiến thắng của Hải Quân Mỹ trong trận hải chiến ở Vịnh Manila vào tháng năm, Aguinaldo và các thuộc hạ trở về Phi Luật Tân nhờ sự giúp đở của Đô Đốc Adm. George Dewey. Tin tưởng vào sự ủng hộ của Mỹ, Aguinaldo tái tổ chức lực lượng của mình và sớm chiếm được nhiều thị xã phía nam Manila. Tuyên ngôn độc lập được công bố vào ngày June 12 (Independence Day). Quốc Hội Lập Hiến (constitutional congress) họp tại Malolos, bắc của Manila vào tháng 12 để phát thảo một đạo luật căn bản dựa theo các đạo luật có trước của Âu Châu và Châu Mỹ Latin. Một chính phủ được thành lập dựa trên căn bản của Bản Hiến Pháp ban hành trong tháng giêng năm 1899, với Aguinaldo là Tổng Thống của quốc gia mới thành lập, thường gọi là “Cộng Hòa Malolos” (Malolos Republic).

Lúc đó thì quân Mỹ đã chiếm đóng được Manila với sự hổ trợ đắc lực của người Phi, buộc vị Tư Lịnh Tây Ban Nha tại đây phải đầu hàng vào tháng 8 năm 1898. Vậy mà người Mỹ lại không muốn để lực luợng của Phi vào thành phố nầy. Không lâu, Aguinaldo và những cố vấn của ông đã nhận ra rằng mối thiện cảm mà Dewey và nhân viên tòa Lãnh Sự U.S. ở Hong Kong trước đây đã dành cho cuộc tranh đấu giành độc lập của người Phi thật ra chẳng có ý nghĩa gì. Họ cảm thấy bị phản bội.

Thế rồi Hiệp Định Ba Lê (Treaty of Paris) được ký kết ngày 10 tháng 12 năm 1898, trong đó Tây Ban Nha (Spain) phải trao trã Phi Luật Tân (Philippines) cho Mỹ theo như đòi hỏi của Đặc Sứ Hoa Kỳ. Sau đó Thượng Viện Mỹ (U.S. Senate) đã phê chuẩn hiệp định nầy vào tháng 2 năm 1899, nhưng chỉ với 1 phiếu trên 2/3 tổng số Thượng Nghị Sĩ.
Trước khi hiệp định nầy được phê chuẩn thì lòng căm ghét đã bộc phát giửa hai lực lượng Mỹ và Phi. Bởi vì lãnh đạo Phi không công nhận sự cai trị của Mỹ trên quần đảo và Tư Lịnh Mỹ không đếm xỉa gì đến tuyên bố độc lập của Phi nên sự xung đột không thể tránh khỏi.
Phải mất 2 năm dẹp lọan và một vài thương thảo khôn khéo trên chính trường mới có thể khuất phục sự kháng cự của phe quốc gia. Aguinaldo bị bắt giử vào tháng ba năm 1901 và sau đó đã thuyết phục quốc dân chấp nhận sự cai trị của Mỹ.

Cuộc cách mạng Phi có hai mục tiêu, quốc gia và xã hội:
- Mục tiêu thứ nhất là quốc gia độc lập, hiện hữu chỉ trong thời gian ngắn và bị ức chế bởi quyết định tiếp tục cai quản quần đảo của Mỹ.
- Mục tiêu thứ hai là cải tổ căn bản của xã hội, xuyên qua việc quốc hữu hóa đất đai của giáo quyền (nationalization of friar lands) bởi Cộng Hòa Malolos (Malolos Republic), cũng bị vô hiệu hóa bởi sự hồi phục của những cơ sở thâm căn cố đế nầy. Các tá điền (share tenants) là những người ủng hộ với chủ trương của Aguinaldo, một phần vì lý do kinh tế, chỉ giống như đổi từ chủ nầy sang chủ khác mà thôi.
Dù gì đi nữa, Tuyên Ngôn của nền Cộng Hòa năm 1898 đã ghi dấu là dân tộc Phi là dân tộc Á Châu đầu tiên đã cố gắng lật đổ sự cai trị của thực dân Âu Châu.

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 8th 2018, 1:38am)


530

Saturday, March 10th 2018, 3:21am

Quyết định đầy mâu thuẩn giửa truyền thống dân chủ Mỹ và thể chế quân chủ trên dân tộc Phi đả chia rẻ hầu hết dân Mỹ, đến mức việc hướng dẫn cho người Phi tiến đến một nền tự trị và độc lập (Malolos Republic) đã bị cố tình làm ngơ từ lúc đầu. —và đó là biện minh chính cho hành động bá quyền của Mỹ. Các diểm khác biệt trong chủ trương của hai đãng ở Mỹ tập trung vào tốc độ của việc mở rộng nền tự trị và thời điểm ban bố nền độc lập cho Phi Luật Tân.
Năm 1899 Tổng Thống William McKinley đã gởi đến Phi một Ủy Ban Nghiên Cứu năm người(a five-person fact-finding commission) cầm đầu bởi chủ tịch Jacob G. Schurman của Cornell University. Schurman đã báo cáo rằng người dân Phi (Filipinos) muốn một nền độc lập tòan diện, nhưng báo cáo nầy đã không có một ảnh hưởng tức thời nào trên chính sách của Mỹ. McKinley lại gởi thêm một ủy ban thứ hai (Philippine Commission) vào năm 1900, dưới quyền William Howard Taft; vào khỏang tháng Bảy năm 1901 ủy ban nầy đã thành lập một chính phủ dân sự.

Năm 1907 Hội Đồng Phi Luật Tân (Philippine Commission), hành xử vừa là cơ quan lập pháp vừa là nội các của tòan quyền, sau nầy đã trở thành Thượng Viện của thể chế lưỡng viện. Một quốc hội Phi gồm 80 nghị viên được trực tiếp bầu lên bởi một cử tri đòan có vẻ giới hạn bởi các quận chỉ có một thành viên, được coi như là một cơ quan lập pháp dân cử đầu tiên ở vùng Đông Nam Á. Khi Tòan Quyền Francis B. Harrison đề cử một đa số người Phivào Hội Đồng trong năm 1913, thì tiếng nói của người Mỹ trong tiến trình lập pháp càng giảm đi.

Harrison là vị Tòan quyền duy nhất được phong chức bởi một Tổng Thống thuộc đãng Dân Chủ trong suốt 35 đầu dưới sự cai trị của Mỹ. Ông được TT. Woodrow Wilson gởi đến với một chỉ thị đặc biệt là chuẩn bị Phi Luật Tân cho một nền độc lập tòan diện, một mục tiêu mà Wilson rất hết lòng ủng hộ.
Trong nhiệm kỳ của Harrison, một quốc hội kiểm sóat bởi đảng Dân Chủ ở Washington, D.C., quyết tâm hòan tất những hứa hẹn của một vận động lâu ngày để có cùng một kết qủa như vậy.
Đạo luật Jones Act, được Thượng Viện thông qua năm 1916, có thể đã ấn định dược một ngàychắc chắn cho nền độc lập Phi nếu như không bị Hạ Viện ngăn lại. Trong văn bản cuối cùng có ghi rằng:
“Mục tiêu của dân chúng Mỹ là công nhận nền độc lập Phi ngay khi mà một chính quyền ổn định có thể được thiết lập tại đây.”
Một dấu mốc quan trọng hơn cho sự tự trị của Phi là dưới hiệu lực của đạo luật nầy là Hội Đồng đã được giải tán và thay thế bởi một Thượng Viện gồm 24 nghị sĩ hầu hết được bầu lên. Cử tri đòan được mở rộng bao gồm tất cả các người đàn ông biết chữ.
Tuy nhiên cũng còn những giới hạn đáng kể áp đặt trên nền tự trị của Phil Luật Tân. Quốc Phòng và Ngọai Giao vẫn còn là thẩm quyền đặc biệt của Mỹ. Chỉ đạo của Mỹ trên chính sự nôi địa của Phi phần lớn là thực thi qua viênTòan Quyền và ngành hành pháp của chính quyền bảo hộ (insular government).

Tính ra có hơn một thập kỷ Phi bị đặt dưới sư cai trị của chính quyền Mỹ, lại là một thời gian tương đối ngắn cho việc thiết lập những nề nếp lâu dài. Khi mà Mỹ hòan thành 51% dịch vụ dân sự vào năm 1903, 29% vào năm 1913 và 6 % vào năm 1923. Đến năm 1916 thì người Phi thống lĩnh trong cả hai ngành lập pháp và tư pháp của chính quyền và đồng thời phục vụ trong càc ngành hạn chế là hành pháp và hành chính của Mỹ.

Đến năm 1925, người Mỹ duy nhất còn lại trong chính phủ Tòan Quyền là Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, ông ấy đồng thời là Phó Tòan Quyền (lieutenant governor-general). Điều nầy cho thấy ưu tiên cao về giáo dục trong chánh sách Mỹ. Trong những năm đầu Mỹ cai trị, hằng trăm thầy cô đến từ Mỹ. Nhưng thầy cô người Phi được đào tạo rất nhanh, cho nên đến năm 1927 thầy cô của các trường công lập đều là người Phi. Số trường tăng gấp 5 lần trong một thế hệ; Chi phí giáo dục chiếm phân nữa sự chi tiêu tổng cộng của Chính phủ , và cơ hội học vấn ở Phi nhiều hơn bất kỳ một thuộc địa nào ở Á Châu.

Hậu qủa tất nhiên của sự bùng nổ trong ngành sư phạm là số người biết chữ tăng gấp dôi, gần phân nữa của năm 1930s, và người Phi có học sở đắc một ngôn ngữ phổ thông và một chìa khóa ngôn ngữ để mở cửa vào nền văn minh phương tây.

Đến năm 1939 khỏang ¼ dân số có thể nói tiếng Anh, một thành phần đông hơn so với bất cứ một phương ngữ bản địa nào khác. Có thể quan trọng hơn là một con đường mới được mở ra của xã hội năng động đang tiến lên mà học vấn đã cống hiến. Chính sách giáo dục là cố gắng thành công duy nhất mà Mỹ dùng để thiết lập căn bản văn hóa xã hội cho một chính thể dân chủ.

Người Mỹ cũng cố tạo nên cơ hội công bằng kinh tế nhưng khiêm nhượng và ít thành công hơn. Trong một xứ nông nghiệp là phần lớn thì hình thức sở hữu đất đai là yếu tố quyết định. Chiều hướng ngày càng tập trung sở hữu, bắt đầu từ thế kỷ 19, tiếp đến thời Mỹ cai trị, bất chấp những rào cản pháp lý. Các đồn điền rộng bát ngát của người Mỹ bị mua phổng tay trên, nhưng các ngăn cấm pháp lý có rất ít hiệu qủa trên nhưng người Phi giỏi móc nối chính trị với mục tiêu vơ vét tài sản nầy. Phần trăm của các nông dân chịu dưới quy chế tá diền (share tenancy) tăng gấp đôi từ năm 1900 đến năm 1935, và sự bất bình của các tá điến (tenants) đã đột phát trong 3 cuộc nổi dậy nhỏ ở miền trung của Luzon trong khỏang các năm 1920s và 1930s.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 31st 2018, 9:57pm)


531

Wednesday, March 21st 2018, 5:54am

Chính sách Mậu Dịch của Mỹ cũng không giúp được gì cho sức mạnh kinh tế của Phi. Từ năm 1909 Đạo Luật thuế quan Payne-Aldrich đã cho phép hàng hóa Phi được miễn thuế nhập cảng vào thị trường Mỹ, nhưng cùng lúc đó thì sản phẩm Mỹ, phần lớn là kỹ nghệ phẩm, cũng được miễn trừ thuế quan khi nhập vào Phi. Lưu lượng sản phẩm Mỹ nhập tự do vào Phi là một yếu tố tẩy sạch mạnh mẽ sự tăng trưởng của nền kỹ nghệ Phi. Nền xuất cảng nông phẩm, đặc biệt là đường mía, hưởng lợi to trong thị trường bảo hộ của Mỹ. Chủ nhân của các nhà máy đường và những đồn điến rộng lớn là có lợi nhất, thế cho nên lại cũng cố thế áp đảo của giới địa chủ.
Công trình chuẩn bị của người Mỹ cho nền dân chủ tự trị của Phi đã bị tổn thương bởi một nghịch lý thăm căn cố đế, có thể không được nhận ra lúc đó. Sự chuyễn giao chính quyền cho những người có khả năng không nối tiếp được với việc xây dựng căn bản kinh tế xã hộicho một chính thể dân chủ. Tự trị cần nhất là quyền bính được chuyễn giao cho những người đang ở vào vị trí lãnh đạo trong xã hội Phi. Nhưng mà những người nầy phần lớn lại xuất thân từ giới địa chủ. Việc tranh đọat vị thế chính tri và xã hội của họ không phù hợpp với ý niệm công bằng cơ hội.

Ngay cả sự mở rộng của giai cấp trung lưu có học cũng không nhất thiết sẽ làm thay đổi cơ chế của quyền lực. Hầu hết những người trong giai cấp trung lưu có tham vọng làm lãnh đạo chính trị thì cũng tự điều chỉnh theo giá trị và tập quán của giới thượng lưu hiện tại đang cầm quyền. Giới lãnh đạo người Phi khéo léo và nhanh chóng lợi dụng cơ hội tự trị mà người Mỹ đã mở ra cho họ.

Những thiên tài chính trị Phi chói sáng nhứt trong một định chế ngọai pháp lý – đó là đảng phái chính trị. Đảng phái đầu tiên là Federal Party, được Mỹ yểm trợ và hợp tác chặc chẽ với những lãnh chúa, đến nỗi gần như là bản sắc của quốc gia Philippines. Tuy nhiên khi Đảng Nacionalista Party, những người công khai theo quốc gia chủ nghĩa hô hào độc lập, được phép khiếu nại trong cuộc bầu cử năm 1907,thì họ đã thắng cử vẻ vang.
Đảng viên Federalists (Liên Hiệp) sống sót với một cái tên mới, Progressives (Cấp Tiến), và một chủ trương mới, độc lập tòan vẹn sau khi cải tổ xã hội. Nhưng cả hai thành phần Progressives (Cấp Tiến) và thành phần tiếp nối sau năm 1920s, Democrats (Dân Chủ), chưa bao giờ chiếm được hơn 1/3 số ghế trong cơquan lập pháp.
Đảng Nacionalista Party dưới sự lãnh đạo của Manuel Quezon and Sergio Osmeña đã áp đảo chính trường Philippine từ năm 1907 cho đến khi nước nầy độc lập.
Điều đáng nói hơn cuộc tranh đua giửa đảng Nacionalistas và đối thủ của họ là việc kéo dài của sự thù địch giửa Quezon và Osmeña. Thật ra hiểu được sự mâu thuẩn của cá tính hai người sẽ giúp cho người ta thấy rõ hơn những thực tại của chính trường trước cuộc chiến Philippine hơn là bất cứ một công trình khảo cứu nào về chính trị hay lý thuyết.

Năm 1933 Quốc Hội Mỹ thông qua Hare-Hawes-Cutting Act, là đạo luật ấn định ngày Mỹ trao trả độc lập cho Phi. Đạo luật nầy thực thi lời hứa mơ hồ trong đạo luật Jones Act; nó cũng đồng thời đáp ứng đòi hỏi của hàng lọat những “independence missions” (sứ vụ đòi độc lập) được gởi đến Washington bởi cơ quan lập pháp Philippine.

Nhưng việc chuyễn giao quyền bính chưa từng có nầy được quyết định trong một ngày đen tối của cuộc Đại Khủng Hỏang Kinh Tế trong những năm 1930s (the Great Depression of 1930s) —và với sự giúp sức của các đồng minh lạ đời. Cuộc Đại Khủng Hỏang Kinh Tế đã khiến cho nông trại Mỹ chú tâm tìm kiếm một cách tuyệt vọng sự trợ giúp, còn đối với những người cảm thấy bị tổn thương thực sự hay trong tưởng tượng bởi sự canh tranh của nông sản Phi thì tìm cách lọai trừ những sản phẩm nầy.
Họ đã thất bại trong việc trực tiếp cố đòi sửa đổi mức quan thuế áp đặt lên sản phẩm nhập cảng từ Phi, nhưng họ nhận thấy rằng cái yêu sách chính đáng cho nền độc lập Phi đã gia tăng một cách hiệu quả cơ may của họ.Gắn liền với nền độc lậplà sự chấm dứt nhập khẩu miễn thuế vào thị trường Mỹ các nông sản của Phi như đường, dầu dừa, dây thừng và các thứ linh tinh khác. Cái lợi ích kinh tế đạt được đó là điều họ đã làm, phần nào giải thích được bởi lý do là ảnh hưởng chính trị của họ rất lớn so sánh với một nhúm các thương gia Mỹ và các nhà đâu tư Philippines.
Cơ quan lập pháp Philippine đã từ chối đạo luật Hare-Hawes-Cutting Act, có vẻ như là kết qủa của sự thù địch Osmeña-Quezon, thật là bực bội cho các viên chức Mỹ. Nhưng, khi Quezon đến Washington trong năm sau để trình một dự luật mới, thì cũng cùng một thế lực ủng hộ trong quốc hội Mỹ sọan ra một dự luật gần như giống hệt đạo luật củ, Tydings-McDuffie Act. Ủng hộ bởi Quezon và được phê chuẩn với một thái độ hào hứng bởi cơ quan lập pháp ở Manila, đạo luật nầy đề ra một thời gian 10-year commonwealth (10 năm thịnh vượng chung). Trong thời gian nầy Mỹ vẫn giử lại thẩm quyền về ngọai giao và quốc phòng. Ngưởi dân Phi sẽ sọan thảo Bản Hiến Pháp của riêng họ, với sự chấp thuận của Tổng Thống Mỹ.

Một bản hiến pháp đậm nét tương tự với mẫu hiến pháp Mỹ, hòan chỉnh và đã nhanh chóng được biểu quyết Quốc Hội Lập Hiến và phê chuẩn bởi Tổng Thống Franklin D. Roosevelt. Vị Tòan Quyền cuối cùng, Frank Murphy, đã trở thành Ủy Viên Cao Cấp đầu tiên (high commissioner), có tính cách ngọai giao hơn là hành chính. Hiệp Định Thịnh Vượng Chung (The commonwealth) bắt đầu có hiệu lực từ November 15, 1935. Đảng Nacionalista Party dàn hòa nội bộ và đề cử Quezon làm Tổng Thống và Osmeña làm Phó Tổng Thống. Họ đã thắng cử vẻ vang.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 21st 2018, 6:01am)


532

Wednesday, April 4th 2018, 7:04pm

Nhận định:
Như vậy từ trong nội tại của lịch sử Phi đã có một động cơ sâu xa để bỏ Mỹ mà vuốt đuôi theo TC:
- Dù sao Mỹ cũng là một nước đã từng đô hộ Phi (nhưng không xâm lược).
- Thành phần thiểu số có thế lực về kinh tế lẫn chính trị của dân Phi là những sắc dân có nguồn gốc là Tàu hay lai Tàu, kể cà các lãnh đạo của cuộc cách mạng giành độc lập.
Nó khác rất xa hòan cảnh lịch sử của VN:
- Từ ngàn xưa Tàu là thiên cổ cừu nhân của Việt.
- Tàu vẫn mãi mãi muốn chiếm nuớc Việt và đồng hóa người Việt, và nay đã chuyễn sang quyết định diệt chủng Việt.
- Mỹ chưa bao giờ đô hộ hay muốn chiếm đất Việt.
Thế nhưng con buôn chính trị Việt thì với chính sách “đu dây” đã biến VN thành như một cô gái điếm thập thành, mà hiện giờ chưa biết có thể ngã hẳn về ai:
- Đi theo thằng ma cô Trung Cộng thì nhục nhã ê chề qúa, chưa kể là sẽ bị nội chiến máu đổ đầu rơi !
- Mà chạy theo bám đít Mỹ để hưởng “bơ thừa sữa cặn” (như “bọn chạy theo đế quốc Mỹ” ấy), thì lại sợ thằng ma cô Trung Cộng, nó đánh cho vỡ đầu. Chưa kể trong bụng vẫn hồ nghi Mỹ là “anh chàng sở khanh” sẽ quất ngựa truy phong sau khi đã lừa tình!
Vậy thì cuộc diện sắp tới sẽ ra sao khi mà bọn phản dân hại nước nầy “vô kế khả thi” ???
Dĩ nhiên là thế sự sẽ đảo điên dù bọn chúng có ra sức chống chỏi như thế nào đi nữa, rồi cũng sẽ đi đến nước đó mà thôi!

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 5th 2018, 5:00am)


533

Friday, April 6th 2018, 4:27am

Bọn con buôn chính trị thường hay lừa mị quần chúng bằng từ ngữ “cân bằng quyền lực”. Ra cái điều là chỉ có ta và băng đảng của ta mới là thiên tài được sinh ra để làm được một cách tuyệt vời cái chuyện “cân bằng quyền lực”. Thực chất ra chúng chỉ chơi cái trò “đu dây”, hay nói rõ hơn là làm cái nghề “đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Hay ho gì mà lắm lời !
Nhưng mà cái trò nầy có nhằm nhò gì không ? có ích lợi gì không ?
Ích lợi thì có đó, nhưng chỉ ích lợi cho bọn “sâu dân mọt nước” mà thôi! Lũ chúng nó chắc là sẽ được “vinh thân phì da” rồi! Thế nhưng nước VN sẽ giống như thân xác của các cô gái VN đáng thương đang làm điếm khắp nơi hiện nay.
Cái trò “đu dây” của bọn khốn nầy có nhằm nhò gì không ? có “cân bằng quyền lực” được không?
Hỏi như thế thì chẳng khác gì hỏi một người đi đường có thể nào “đu dây” hay “cân bằng quyền lực” giửa hai, ba tên lưu manh đang muốn trấn lột mình không ?
Bởi vậy cái trò “hạ cấp” nầy thật ra chả nhằm nhò gì cả!!!
Cái bọn khốn kiếp chúng nó bộ “não ngắn, không có nếp nhăn” hay sao mà quên mất rằng: trong xã hội lòai người luôn luôn có mâu thuẩn đối kháng mà hể phe nào mạnh thì thắng (Duy vật sử quan).
Còn Kinh Dịch thì dạy rằng : sự đời luôn biến chuyễn không ngừng, như dòng nước đang cuồn cuộn chảy không phút giây ngừng nghỉ, thì làm sao có thể tìm được một thế cân bằng lâu bền nào trên những cuồng lưu ấy?
Thế thì giửa hai, ba xung lực đối kháng ta có thể nào tìm ra được một trọng tâm không ?
Mà có cần và có nên nằm ở một điểm giửa nào đó hay không?
Có khi nào cái điểm mà chúng đang “đu dây” tòn teng đó lại chính là đích ngắm của bao nhiêu mủi tên của “các thế lực thù địch” không ?
Hóa ra cái trò “đu dây” nầy còn thua cái chiêu “nắng bề nào thì che bề đó” hay “mưa lúc nào thì vuốt mặt khi ấy”.
Thôi thì chẳng thà bọn khốn kiếp chúng bây cứ lựa một thằng mạnh nhứt mà “liếm gót giầy” mà thờ lạy nó cho dân VN còn đở khổ hơn!

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 7th 2018, 5:04am)


534

Tuesday, April 10th 2018, 2:03am

Gió giật đổ tượng đồng Tần Thủy Hoàng
BBC Tiếng Việt
9 tháng 4 2018

Bức tượng Tần Thủy Hoàng khổng lồ nặng sáu tấn đã đổ ngã, úp mặt xuống đất.
Tượng đúc bằng đồng cao 19m tại tỉnh Sơn Đông bị gió lớn thổi đổ cả phần bệ tượng bằng đá hôm thứ Sáu. Do đổ úp mặt xuống đất, phần đầu của vị hoàng đế bẹp dí, khiến nó trông "giống chiếc bánh kếp", Global Times nói.
Các công nhân đã nhanh chóng mang máy xúc, đến để di dời các tàn tích của khối kim loại nhiều tấn. Một công nhân nói với Global Times:
"Đây là thứ bạn không thể che giấu mọi người. Mọi người đều có điện thoại. Làm sao bạn có thể che đậy điều này?"

Những bức ảnh về bức tượng bị lật đổ ở Tân Châu, tỉnh Sơn Đông cho thấy phần bên trong bị rỗng, và bên ngoài là khung kim loại. Tần Thủy Hoàng là người sáng lập triều đại nhà Tần và được coi là người đầu tiên đi chinh phục thống nhất Trung Nguyên, khoảng 221-206 trước Công nguyên. Ông cũng khét tiếng về việc đốt sách giết học trò. Ông là người cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành, và lăng mộ của ông là nơi nổi tiếng với hàng ngàn tượng chiến binh bằng đất nung.
Theo tin từ AFP, tượng "mặt dẹp như bánh kếp" ở Tân Châu được xây dựng năm 2005 nhằm thu hút khách du lịch.

535

Tuesday, April 10th 2018, 2:42am

Lời bàn:
Trong đời sống của người Tàu trãi qua hàng ngàn năm, họ có một tập quán ăn sâu vào xương tủy là thói mê tín dị đoan. Cái thói nầy của họ cũng ảnh hưởng rất nhiều lên người Việt. Mà cái thói đó lại tỏ ra càng ngày càng nặng ở cả hai nước “XHCN anh nhem” Tàu-Việt, nhứt là trong giới “quan chức chóp bu”. Vì là thói mê tín dị đoan nên “tuyệt đại đa số” là vô căn cứ.
Thế nhưng qua những bộ tiểu thuyết được người Tàu ưa thích họ vẫn lập đi lập lại một mẫu chuyện là: Trước khi ra quân mà có một ngọn gió lớn thổi gẩy ngọn sóai kỳ thì trận đánh nầy “phe ta” thế nào cũng từ chết tới bị thương, bị đập cho tan tành không còn manh giáp và nhất là tên chủ tướng thế nào cũng toi mạng.

Cái đám Hán tặc tụi bây nghĩ sao khi tượng đồng nặng sáu tấn của một tên bạo chúa đại gian ác bị một ngọn cuồng phong thổi bậc đế, ngã sấp mặt ????
Phải, thân tượng to lớn thì còn nguyên, nhưng đế là một tảng đá lớn thì bị bật lên, còn mặt thì bị dẹp lại như cái bánh “cờ-rếp”. Ha, Ha, Ha….!!!
Đế ở đây là “cái mộng đế vương” đấy !
"Một chiếc cùm lim chân có ĐẾ
Ba vòng xích sắt bước thì VƯƠNG"
Cao Bá Quát
Ôi China dream! Ôi, làng nước ôi ! đến cái thủ vĩ lợn cũng không còn hình thù gì, thật ra giống như “bãi cứt trâu” ấy! Ha, Ha, Ha….!!! Tức cười quá !!!!
Liệu Tập Hòang Đế của chúng bây có thành được Tần Thủy Hòang Đế hay lại như cái tượng đồng rổng ruột nầy?! Ha, Ha, Ha….!!! Tức cười quá !!!!

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 10th 2018, 5:06am)


536

Friday, April 13th 2018, 7:11pm

Bàn về hình tượng bạo quyền
Nguyễn Đức Long
Sài gòn 22/08/11

Ai đã từng đọc truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung tiên sinh,hẳn sẽ không lạ về nhân vật Đinh Xuân Thu , kẻ đã sáng lập ra môn phái quái gỡ mang tên Tinh Tú.
(Chú thích: Đinh Xuân Thu (丁春秋; Bính âm Quan Thoại: Dīng Chūnqīu: chưởng môn phái Tinh Túc, sở trường các món võ công âm độc và Hóa Công Đại Pháp. Sau bị Hư Trúc cấy Sinh Tử Phù vào người, phải chịu quản thúc ở Thiếu Lâm Tự.)

Tôi đồ rằng,Kim Dung tiên sinh hư cấu nhân vật này khi lòng ông đang đau đáu vọng về cố hương -nơi đồng bào của ông đang oằn mình chịu nhiều áp bức ,bất công ,thống khổ , tủi nhục dưới bàn tay cai trị của cường quyền.
Nhân vật Đinh Xuân Thu và phái Tinh tú do lão sáng lập qua ngòi bút tài hoa của Kim Dung đã là một hình tượng có sức khái quát rất cao về những hành vi bỉ ổi,độc ác,những thủ đoạn đê hèn , vô cảm thú tính của những con người chuộng bạo lực, cường quyền.

Công bằng mà nói thì Đinh Xuân Thu đã là một kẻ có tài năng xuất chúng.Lão ta rời bỏ ánh sáng văn minh của Trung Nguyên đến Tây Vực sáng lập phái Tinh Tú .Một hành động chẳng đặng đừng vì cái bản chất quê mùa thô kệch của hắn không thể hòa nhập được với cái tinh tế ,hào hoa lãng mạn CẦM ,KỲ,THI ,HỌA của phái Tiêu Dao.
Bị nền văn minh sỉ nhục là nguồn cơn của mọi sự căm thù mang đầy thú tính của lão .Chưởng môn sáng lập phái Tinh Tú có chủ trương phải dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề.Ai có bản lĩnh võ công cao hơn, thì sẽ nắm quyền. Kẻ có vũ lực mạnh làm chủ thiên hạ.
Lão tưởng đâu đó là những tư tưởng mới, lý luận mới, nhưng chẳng qua cũng chỉ là tái hiện cái cổ lỗ hôn quân,cường quyền bá đạo mà thôi . Cái môn phái lấy triết lý đấu tranh một mất một còn ấy chỉ có thể sản sinh ra những kẻ dốt nát ,tham lam vô độ, đê hèn vô liêm sỉ mà thôi.
Phái Tinh Tú võ công âm độc tàn ác, đã ra tay là không có nể nang gì, địch nhân trúng đòn không chết cũng trọng thương, bị thương rồi còn phải bị biết bao dày vò, lúc chết thật là thảm khốc. Sư huynh đệ khi tranh đoạt vị thứ cao thấp trong môn phái phải đem tính mạng ra đánh đổi.

Tiếng ra rả tụng xưng công đức mọi lúc, mọi nơi của đám đồ đệ dành cho Đinh Xuân Thu làm ta phải bật cười, nhưng đáng sợ thật-hình như nó còn văng vẳng ở đâu đây:
“Tinh tú lão thiên, thần thông quảng đại, pháp lực vô biên, uy chấn thiên hạ”

Hài hước thay khi Đinh Xuân Thu bị Hư Trúc đánh bại ở chùa Thiếu Lâm , thì đám đồ đệ vô liêm sỉ ấy trở giáo , chạy sang đầu hàng Hư Trúc.Chúng ca ngợi Hư Trúc bằng những chính những lời lẽ như đã được lập trình dành cho giáo chủ của chúng trước đây mà không ngượng miệng.
Để giải thích cho hành động ấy phải mượn lời của Bao Bất Đồng :
“Muốn có được thành công ở môn phái này, chí ít phải luyện thành thạo ba thần công. Một là nịnh bợ công. Không luyện thành môn này, e rằng không sống nổi ở quí môn nửa ngày. Hai là khoác lác công, nếu không thổi phồng võ công và đức hạnh của quí môn, thì sẽ bị cả sư phụ lẫn đồng môn khinh rẻ, không có chỗ đứng. Ba là mặt dày công.”
(Cao Bá Quát thì có thơ rằng: “ Ngán cho cái mũi vô duyên. Câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An”)

Bạo quyền đã có lúc viết nên lịch sử riêng vinh quang của nó.Nhưng rồi nó cũng sẽ trở thành trò hề của lịch sử.
Danh sư xuất cao đồ -nhưng một chưởng môn vô đức vô hạnh như Đinh Xuân Thu thì chỉ có thể tụ tập và đào luyện ra những đồ đệ đê hèn vô liêm sỹ mà thôi.Tất cả phải làm nô lệ cho nỗi khiếp nhược và sợ hãi.

Võ công,dù có cao diệu đến đâu, vũ lực dù có mạnh và tàn bạo đến đâu thì cũng chỉ có thể tạm thời đàn áp và đập tan những phản kháng,còn những mâu thuẫn và bất công thì hãy còn đó.Thiếu vắng lẽ bác ái, sự công bằng chính trực và tính nhân bản thì tất cả những môn phái nào rồi cũng sẽ bị hủy diệt.
Môn phái Tinh Tú mà Đinh Xuân Thu đã dày công xây dựng vẫn còn đang hiện hữu.Có thể nó cũng đang hấp hối.

Nhưng đến khi nào thì hắn bị nhốt vào chùa?
Trả lại cho thế gian cái nhân bản văn minh của con người?
Câu hỏi ấy vẫn còn bỏ ngõ.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 13th 2018, 7:29pm)


537

Friday, April 13th 2018, 7:19pm

Việt Nam lên kế hoạch xây đường sắt kết nối với Trung Quốc
VOA Tiếng Việt
11/04/2018

Việt Nam đang có kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc mới nối liền thủ đô Hà Nội với khu vực biên giới phía Bắc giáp với Trung Cộng để thúc đẩy thương mại hai chiều, theo Tân Hoa Xã.
Hãng tin của Trung Cộng dẫn lại Thông Tấn xã Việt Nam cho biết, Bộ Giao thông Việt Nam đang xem xét xây dựng tuyến đường sắt dài gần 400 km, tốc độ 160 km/h, kết nối với đường sắt Hà Khẩu của Trung Cộng.
Theo đó, tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai sẽ tồn tại song song cả tuyến cũ và mới. Trong đó, tuyến mới đảm nhận vận chuyển hàng hóa và toàn bộ hành khách, được xây dựng khổ tiêu chuẩn 1.435 mm, và được điện khí hóa.
Báo VnExpress cho biết tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai bắt đầu từ ga Lào Cai hiện tại, theo hướng Đông qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và kết thúc tại cảng Lạch Huyện (Hải Phòng), tổng chiều dài tuyến là 391 km; đoạn kết nối đường sắt Hà Khẩu (Trung Cộng) - Lào Cai (Việt Nam) có chiều dài 6,29 km.
Theo Thứ trưởng Giao thông Nguyễn Ngọc Đông, đây là tuyến quan trọng về vận tải hàng hóa và hành khách của đường sắt Việt Nam; không chỉ có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế xã hội các địa phương tuyến đi qua, mà còn trong kết nối giao thông, giao thương quốc tế, đặc biệt với Trung Cộng.

Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ thăm Việt Nam
VOA Tiếng Việt
12/04/2018

Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Trung tướng David Berger, vừa có chuyến thăm Việt Nam để tìm hiểu, thảo luận các biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác với Hải quân Việt Nam.
Báo Hải quân Việt Nam cho biết chiều ngày 10/4, Trung tướng Berger đã gặp Chuẩn Đô đốc Ngô Sỹ Quyết, Phó Tư lệnh Hải quân Việt Nam.
Truyền thông Việt Nam trích lời ông Berger nói:
“Chuyến thăm lần này của đoàn là nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác với Hải quân Việt Nam, đưa mối quan hệ hợp tác giữa Hải quân Việt Nam và lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương ngày càng đi vào chiều sâu.”
Phía Việt Nam hy vọng rằng hai bên sẽ tiếp tục các hoạt động hợp tác quốc phòng như trao đổi đoàn, giao lưu tàu của hải quân hai nước, đào tạo, an ninh hàng hải, cứu trợ nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh, tìm kiếm cứu nạn.
Trước đó, báo Quân đội Nhân dân Việt cho biết hôm 9/4, Trung tướng Berger đã thảo luận với Thượng tướng Nguyễn Phương Nam, Phó tổng Tham mưu Trưởng Quân đội Việt Nam về việc đẩy mạnh hợp tác giữa hải quân hai nước.
Tại một cuộc gặp với ông Berger hôm 9/4, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc đánh giá cao vai trò của Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đối với mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định và trật tự trên cơ sở luật pháp quốc tế trong khu vực. Ông Ngọc khẳng định Việt Nam mong muốn hợp tác chặt chẽ với các nước, trong đó có Hoa Kỳ, nhằm đảm bảo và duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực.

538

Friday, April 13th 2018, 7:23pm

Tập Cận Bình duyệt binh trên Biển Đông
VOA Tiếng Việt
13/04/2018

Chủ trì lễ duyệt binh hải quân thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Cộng sáng thứ Năm 12/4 trên Biển Đông, Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình nói nhu cầu xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh “chưa bao giờ cấp bách như bây giờ.”
Hãng tin Xinhua của nhà nước Trung Cộng loan tin hôm 13/4, nói rằng đây là cuộc duyệt binh hải quân lớn nhất kể từ khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949.
Tham gia duyệt binh có hơn 10 ngàn quân cùng 48 chiến hạm và 76 chiến đấu cơ, trong đó có tàu sân bay Liêu Ninh và các tàu ngầm mới nhất. Hơn phân nửa các con tàu này đã được đóng sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vào năm 2012.
Khoác trên người bộ quân phục, ông Tập bước lên tàu khu trục Changsha giữa lúc ban quân nhạc chơi bản quốc ca. Ông Tập duyệt hàng binh danh dự trên boong tàu trước khi chiếc tàu khu trục lên đường tới địa điểm duyệt binh.
Ông Tập đọc bài diễn văn sau cuộc duyệt binh, nói rằng từ lâu Trung Cộng vẫn theo đuổi mục tiêu xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh, như một thành tố chủ yếu nhằm đảm bảo công cuộc hồi sinh đất nước.
Tường thuật diễn tiến này, CNN dẫn lời ông Tập cam kết đẩy mạnh hơn nữa tiến trình hiện đại hóa lực lượng hải quân, nhấn mạnh mục tiêu của ông là cải cách hải quân Trung Cộng thành một “lực lượng đẳng cấp quốc tế” dưới quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Cộng.
Từ khi lên nắm quyền vào năm 2012, ông Tập đã giám sát các nỗ lực nhằm phát triển đáng kể sức mạnh của hải quân Trung Cộng, biến một lực lượng về phần lớn chỉ có tính cách tự vệ và hoạt động ven biển, thành một lực lượng hải quân hoạt động xa bờ và trên biển sâu, có khả năng phóng đi sức mạnh vào những vùng biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Tân Hoa Xã dẫn lời Chủ tịch nước Trung Cộng yêu cầu các sĩ quan và binh sĩ duy trì tình trạng sẵn sàng để đáp lời kêu gọi của Đảng và nhân dân vào bất cứ lúc nào, quyết tâm bảo vệ các quyền lợi quốc gia, và cố gắng đóng góp vào việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.
Trang tin News.com.au hôm 13/4 nhận định rằng hoạt động tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Cộng đã khiến các nước láng giềng lo ngại, trong bối cảnh leo thang tranh chấp lãnh thổ, hàng hải ở Biển Đông, Hoa Đông và căng thẳng trên eo biển Đài Loan.

539

Friday, April 13th 2018, 7:32pm

Tại sao những kẻ độc tài thích làm thơ?
Benjamin Ramm
BBC Culture
9 tháng 4 2018

Thơ là nghệ thuật của sự thanh tao, tức là đồng nghĩa với sự tinh tế và nhạy cảm.
Có vẻ ngược ngạo khi thơ cũng có thể được dùng để ca ngợi sự tàn bạo và là loại hình nghệ thuật được các nhà độc tài ưa thích.
Nhưng tự cổ chí kim, các nhà độc tài đều thích làm thơ - để tìm kiếm sự khuây khỏa, giãi bày tâm sự hay vinh quang.
Các tác phẩm của họ giúp chúng ta hiểu được về bản chất của quyền lực, sức hút muôn đời của thi ca và những hiểm họa của việc diễn đạt nghệ thuật.

Nero tự đại
Một hình mẫu nhà thơ - bạo chúa là Nero (37-68 Công nguyên), vị hoàng đế La Mã khoa trương, tự phụ, thích cảm thán về bản thân mà những luật lệ hèn mọn ông ban hành phản ánh thứ nghệ thuật kém cỏi của chính bản thân ông.
Các nhà viết sử của Nero, Tacitus và Suetonius, cho rằng thành Rome đã bị thơ cũng như những chính sách của Nero giày xéo.
Sự chế nhạo là một hình thức trả thù để thỏa lòng bằng cách phê phán, nhưng những lời mô tả như thế của các sử gia cũng đặt ra một vấn đề nhức nhối: liệu tội ác của kẻ chuyên chế có thể được giảm nhẹ nếu như tác phẩm của ông ta được xem là có giá trị; và ngược lại, liệu chúng ta có đánh giá một cách công bằng đối với chất lượng thơ của một kẻ chuyên chế hay không?
Như học giả Ulrich Gotter chỉ ra trong cuốn sách mới được xuất bản "Các nhà độc tài làm thơ" thì so với các hoàng đế-nhà thơ như Caesar và Augustus, thời kỳ mà Nero cai trị lại "đáng ngạc nhiên là không hề có đổ máu".
Tuy nhiên, bất chấp việc ông ta không có tham vọng quân sự, các hành động thù hận của Nero đều được ghi lại đậm nét, và hình ảnh ăn sâu trong đầu chúng ta về ông là hình ảnh một nhà chuyên chế thảm hại mặc trang phục sân khấu bi thảm, cất tiếng ca tụng việc chiếm được thành Troy trong khi kinh thành của ông ta bị đốt cháy ra tro.
Suetonius dẫn lại lời của Nero là "vô cùng vui sướng trước vẻ đẹp của ngọn lửa".
Nero say sưa trong các màn trình diễn: Tại Rome ông khai trương Neronia, một lễ hội đầy trau chuốt mang âm hưởng Hellenic gồm ba phần là âm nhạc, diễn thuyết và đọc thơ.
Và trong một chuyến đi vòng quanh Hy Lạp, ông đã tham dự cuộc thi sáng tác thơ, thi hát và chơi đàn lia, bên cạnh việc thi đấu trên chiến xa. (Tại Olympia, ông bị hất khỏi cỗ chiến xa 10 ngựa kéo, ấy vậy mà vẫn được trao giải chiến thắng, bởi các vị giám khảo bợ đỡ, hèn nhát).
Nero nói rằng tượng của những người chiến thắng trước đó cần phải bị dỡ khỏi bệ, và ông ta trở về thành Rome mang theo 1.808 giải thưởng.
Chân dung của nhà thơ này như là một kẻ tự cao tự đại, thích nhào nặn thế giới theo trí tưởng tượng hoang tưởng của ông ta đã là nguồn cảm hứng cho nhà văn đạt giải Nobel Henryk Sienkiewicz với cuốn tiểu thuyết "Quo Vadis" vào năm 1896.
Nero thậm chí còn tự đạo diễn màn trình diễn cuối cùng của đời mình: hành động tự sát vụng về của ông. Ông đã tập và diễn câu nói vĩnh biệt: qualis artifex pereo (Ta chết là một nghệ sỹ tài ba đã chết).

Mussolini ủy mị
Gần hai ngàn năm sau, một nhóm các nhà thơ Ý đã dự báo chủ nghĩa phát xít với việc ca ngợi cảnh hoang tàn theo kiểu của Nero.
"Hãy để nghệ thuật thăng hoa dẫu cho thế giới có hủy diệt" là một trong các khẩu hiệu của các nhà theo thuyết Vị lai Ý do nhà thơ Filippo Tommaso Marinetti, người tôn sùng chiến tranh như là 'giải pháp duy nhất để cứu thế giới', sáng lập.
Marinetti đã tìm cách công nghiệp hóa và quân sự hóa ngôn ngữ với dạng 'thơ cụ thể' (hay 'thơ hình khối) do một kẻ sáng tạo hung hăng sáng tác với việc bắt đầu bằng cách 'tàn phá cú pháp một cách không thương tiếc'.
Những nhà chủ thuyết Vị lai này bị ảnh hưởng bởi nhà thơ-chiến binh Gabriele D'Annunzio - một nhân vật được tôn sùng, người đã sáng lập phong trào 'độc tài trong thơ ca' ngắn ngủi vào năm 1919 vốn là nguồn cảm hứng thúc đẩy Mussolini giành lấy quyền lực ba năm sau đó.
Mặc dù tự nhận là rất hâm mộ ý tưởng của D'Annunzio về sự 'hợp nhất huyền bí' giữa thơ và người, thơ của chính Mussolini có xu hướng cam chịu một cách ủy mị.
Tham vọng thơ phú của ông ta có một sự giả tạo có mức độ: nhà viết tiểu sử Mussolini là Richard Bosworth cho biết rằng ông ta để tác phẩm của những nhà thơ nổi tiếng "mở ra ở trên bàn làm việc của ông ấy để khiến người khác để ý" khi có khách quý nước ngoài đến thăm.
Những bài thơ sau này của ông ta thể hiện sự cô lập - không hề giống như lý tưởng của ông ta thời trẻ khi đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Khi đó, ông sáng tác những vầng thơ than khóc cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Jacobin ("chiếc rìu thấm máu dân nghèo") và khao khát sự tiên tri cách mạng ("Trong đôi mắt khép lại lóe lên nguồn Ý tưởng/ Viễn cảnh về một thế giới về sau").
Điều tất yếu là các nhà độc tài đã chuyển sự bất đắc chí trong nghệ thuật của họ sang chính trị.
Hitler, mặc dầu tự cho là thích "sức mạnh thần kỳ của lời nói" thay vì "sự tuôn chảy dạt dào tình cảm của thi sỹ", từng tưởng tượng mình là một kẻ bohemian phóng khoáng ở thành Vienna.
Goebbels, người biến nghệ thuật tuyên truyền trở thành hoàn hảo, đã viết một cuốn tiểu thuyết với tính chất biểu cảm trong khi Pol Pot, người học hành ở Paris, là một người ái mộ thơ theo trường phái Biểu tượng của Verlaine.
Stalin màu mè
Chủ nghĩa Marx ở nước Nga đã cho ra đời một làn sóng của phong trào thẩm mỹ cấp tiến trong khi nhà thơ-nhà chuyên chế của Liên bang Xô Viết lại làm thơ theo phong cách bảo thủ đến ngạc nhiên.
Stalin thời còn trẻ làm thơ bằng ngôn ngữ Georgia - ngôn ngữ bị cấm ở trường dòng Chính thống giáo nơi ông ta theo học - và các tác phẩm của ông dùng lại những mô típ lãng mạn của một nhà thơ nổi loạn của và của Thời Hoàng kim đã mất.
Thơ của Stalin có nét đặc trưng là sự mô phỏng khéo léo, thiếu sự tự trào và 'lòng nhiệt huyết thái quá', theo nhận định của nhà phê bình Evgeny Dobrenko.
Với sự tao nhã hoa lá cành gần tới mức kệch cỡm, thơ của Stalin chứa đầy những sáo ngữ theo chủ nghĩa tự nhiên: "Dưới nền trời xanh tiếng sơn ca hót véo von trong bụi cây" còn tâm hồn thì bị "khu rừng âm u của bóng đêm" giày xéo.
Đây là những câu thơ chân thành tha thiết nếu không bị vướng một cách thô thiển vào chính trị:
"Sẽ là chuyện hiển nhiển
Một khi bị vùi xuống đất đen
Người đàn ông bị áp bức
Một lần nữa cố vươn đến đỉnh núi thiêng
Khi được đỡ nâng bằng hy vọng"
Trong bài thơ 'Over This Land' (1895), một nghệ sỹ đem đến cho quần chúng âm nhạc đầy dự cảm:
Tiếng ca biến những trái tim đã hóa đá thành nhịp điệu
Giọng hát khai mở những tâm hồn đã hóa đêm đen mịt mùng
Nhưng nhà tiên tri đó lại không được quần chúng mà ông đang cố gắng giải thoát nhìn nhận:
"Đám đông đặt trước mặt kẻ lạc loài/ Một chiếc cốc rót đầy thuốc độc"
Trong một bài thơ sau đó, Stalin một lần nữa xuất hiện với vai trò là một ca sỹ mà "lệ tuôn rơi trước thảm cảnh của nông dân" khi ông, với sự tiên tri, "dựng lên tượng đài ghi danh mình…trong lòng mỗi người dân Georgia".
Được xuất bản mà không đề tên, những câu thơ của Stalin được đăng trong những tạp chí văn học uy tín và được tuyển chọn như là điển hình của văn học cổ điển Georgia.
Thật ra, ngay cả những nhà viết tiểu sử Stalin chỉ trích ông nhiều nhất cũng dành lời khen cho thơ ông: Simon Sebag-Montefiore viết rằng "vẻ đẹp của thơ Stalin nằm trong nhịp điệu và cách dùng từ", vốn khó mà truyền đạt sang ngôn ngữ khác, trong khi Robert Service cho rằng những tác phẩm của ông có một "sự trong sáng về ngôn ngữ mà mọi người đều thừa nhận".
Vẻ đẹp đầy hoa lá và khí thế hào hùng đó lại xuất hiện trong tinh thần cổ vũ chủ nghĩa xã hội hiện thực của Stalin, trái ngược với những người đi tiên phong thử nghiệm chủ nghĩa hiện đại.
Người thừa kế tinh thần của Stalin, Yuri Andropov, đã kết hợp sự quan liêu với tính lãng mạn. Là người đứng đầu KGB, ông khủng bố giới bất đồng chính kiến và đè bẹp phong trào nổi dậy ở Hungary trong lúc viết thơ tình tặng vợ.
Nhà thơ người Uzbekistan Hamid Ismailov kể một giai thoại về Andropov: một trong những người viết diễn văn của ông gửi ông tấm card chúc mừng sinh nhật trong đó nói đùa rằng quyền lực làm tha hóa con người, và Andropov viết lại với những vần thơ lạnh gáy, dịch xuôi thì có nghĩa thế này:
Một khi kẻ xấu thốt lên rằng:
quyền lực làm thối nát nhân gian
Thì rồi giới học giả hùa theo
Mà không hề nhận ra rằng (trời ạ!):
thường thì chính con người mới làm thối nát quyền lực.

540

Friday, April 13th 2018, 7:33pm

Mặt trời Hồng
Một nhà độc tài khác tự thừa nhận theo chủ nghĩa Stalin, nhà lập quốc của Bắc Hàn Kim Nhật Thành, được cho là tác giả của những vở kịch cách mạng và các tác phẩm lý luận, nổi bật nhất là 'học thuyết hạt giống' vốn mô tả ông ta như là cha đẻ của sáng tạo nghệ thuật.
Vào năm 1992, Kim đã viết một bài thơ cho con trai Kim Jong-il, sau được công bố rộng rãi:
Đã năm mươi mùa xuân rồi sao Ngôi sao Sáng?
Với ngòi bút và thanh gươm đầy uy lực
Và còn lòng dạ sắt son như nhất
Được muôn người kính nể
Tiếng đồng thanh tung hô và ca ngợi
Làm rung chuyển cả đất trời
Kim Nhật Thành, người cha lập quốc, được chào đón như là 'Mặt trời của đất nước' giống như cái cách mà Mao Trạch Đông được ca tụng là 'Mặt trời Hồng trong tim mỗi chúng ta'.
Mao chính là hiện thân của lý tưởng 'bút và gươm' của nhà trị quốc - dựa trên ý tưởng 'văn võ song toàn'. Mao tìm cách làm sao cho quan niệm phong kiến này trở nên phù hợp trong khi để mình vượt lên trên nó.
Ông ta đã viết trong một bài thơ vào năm 1936 rằng từ trước đến nay ít có hoàng đế để lại di sản thơ ca, mà giờ đây 'những con người thật sự vĩ đại/ Chỉ có trong thời đại này'.
Thơ của Mao chính thống về hình thức và cổ điển trong chủ đề, một kiểu làm thơ truyền thống mà ông ta lẽ ra phải khinh miệt.
Bất chấp mệnh lệnh do chính ông ta đưa ra là Phá Tứ Cựu (xóa bỏ văn hóa cũ, phong tục cũ, tập quán cũ, ý tưởng cũ), Mao làm thơ theo lối cổ, ngay cả khi lối làm thơ đó bị lên án là trưởng giả và lỗi thời.
"Tôi lo sợ những sai lầm đó lan rộng có thể khiến giới trẻ lầm lạc," Mao thổ lộ với biên tập một tờ tạp chí, thế nhưng ông vẫn chiều theo sở thích của mình ngay cả khi ông ấy cấm người khác làm theo.
Mao đắm mình vào ngôn ngữ và chứng tỏ sự thuần thục trong việc sử dụng hình ảnh ("núi trùng điệp xanh biêng biếc/ Ráng chiều đỏ rực máu một màu") và các chủ đề cổ điển ("thế gian vật đổi sao dời, bãi biển hóa thành nương dâu") và có khi lại trào lộng ("hy sinh gian khổ càng khiến bền lòng chặt dạ") và tuyên truyền ("Con gái Trung Hoa chí khí ngất trời/ Yêu chiến đấu nào phải đâu nhung gấm").
Những tác phẩm của Mao chứng tỏ rằng nghệ thuật thanh thoát không có nghĩa là tác giả sẽ đưa ra những chính sách mềm mại.
Vào năm 1966, Hồng vệ binh bổ sung vào quyển Mao tuyển của họ 25 bài thơ do Mao sáng tác vốn dẫn đến sự say mê thơ theo lối cổ ở những người quyết tâm phá bỏ 'những tàn dư phong kiến'.
Câu thơ cuối cùng mà Mao từng viết, một năm trước khi phát động cuộc Đại Cách Mạng Văn hóa, là điềm báo cho những hỗn loạn sắp tới: "Hãy nhìn kia: Thế giới đã đảo lộn"

Bằng chứng buộc tội
Những tác phẩm thơ cũng được dùng làm bằng chứng buộc tội tại Tòa Hình sự Quốc tế khi Radovan Karadžić, 'Tên đồ tể của Bosnia' bị kết tội diệt chủng.
Một phim tài liệu hồi năm 1992 của BBC đã ghi lại cuộc gặp giữa Karadžić và nhà thơ Nga theo chủ nghĩa dân tộc Eduard Limonov, trong đó Karadžić đọc một bài thơ dự báo về bạo lực và Limonov bắn một loạt đạn vào thung lũng phía dưới.
Karadžić nói rằng ông ta đã biết trước sẽ có chiến tranh nhiều năm trước đó, và bài thơ Sarajevo vào năm 1971 của ông ta có những dòng sau đây:
Thành thị rực cháy như mẩu nhang
Lương tri chúng ta gầm lên trong làn khói...
Luật pháp quốc tế đòi hỏi phải xác định ý định phạm tội của bị cáo. Karadžić là nhân vật chủ chốt trong cái mà Slavoj Žižek gọi là 'trạng thái tình cảm thơ ca-quân sự' tôn sùng việc dùng văn thơ bắn phá vào tình cảm dân tộc chủ nghĩa, nhất là bài thơ sử thi The Mountain Wreath (1847) của Petar Petrović-Njegoš mà trong đó máu đổ của người Hồi giáo được xem là hành động khai sinh ra nhà nước Serbia.
Cuộc đột kích vào khu nhà mà Osama bin Laden ẩn trốn vào năm 2011 đã khiến truyền thông bình luận về tủ sách của ông ta, nhưng chỉ tập trung vào sự thiếu vắng tiểu thuyết mà không nhắc đến lòng yêu thơ của ông.
Hồi năm 2010, bin Laden đã viết cho một phụ tá những chi tiết về một âm mưu đầy tham vọng trước khi kèm theo một yêu cầu: "Nếu có người anh em nào ở cùng cậu mà biết về nhịp thơ thì hãy cho tôi biết, và nếu cậu có quyển sách nào bàn về khoa học làm thơ cổ điển thì hãy gửi cho tôi xem."
Bin Laden nằm trong số những nhà thơ thánh chiến được ca ngợi nhất và đó một phần là do tài năng làm thơ cổ điển trôi chảy của ông ta.
Sứ quân của Bin Laden ở Iraq, Abu Musab Al-Zarqawi, được mọi người biết đến đồng thời là 'đồ tể' và 'người khóc nhiều' - cho thấy mối liên hệ giữa sự tàn bạo và mẫn cảm, khao khát song song về quyền lực và lòng thương.
Thủ lĩnh hiện tại của Al-Qaeda, Ayman al-Zawahiri, cũng làm thơ, và caliph (tức Quốc vương) tự xưng của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo, Abu Bakr al-Baghdadi, viết luận văn tiến sỹ về một bài thơ tôn giáo.
Một nhà độc tài từng viết thơ và có kết cục cay đắng là Saddam Hussein. Bài thơ trong tù 2013 của ông được sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ khá trúc trắc: "Ngươi là cơn gió nhẹ dịu dàng / Làm nên tâm hồn ta / Và Đảng Baath của ta nở hoa như cành cây đâm lộc biếc".
Saddam, người vốn thích chụp hình bên khẩu AK, đã thể hiện sự bất khuất của mình qua những con chữ: "Nơi đây chúng ta ưỡn ngực trước bầy sói".
Thú vị là người chế tạo ra khẩu AK, Mikhail Kalashnikov, cũng thích trở thành nhà thơ. Như WH Auden viết trên mộ chí của Hitler, "thơ ông viết rất dễ hiểu".
[/color][/size][/font]

21 users apart from you are browsing this thread:

21 guests

Similar threads