You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

881

Yesterday, 6:04am

Các sai lầm của thuyết ‘Chữ Hán ưu việt’
Posted on 28/08/2017 by The Observer
Tác giả: Mễ A Luân[1]
Biên dịch và chú thích: Nguyễn Hải Hoành
Nguồn bài dịch: 学者:清理 “汉字优越” 论的误导

Đã nhiều năm nay thuyết “chữ Hán ưu việt” rất thịnh hành ở Trung Cộng. Thuyết này trái ngược nghiêm trọng với các nguyên lý khoa học kỹ thuật, gây ra sự ngộ nhận cực lớn trong xã hội, đồng thời gây ra trở ngại cực lớn cho sự phát triển khoa học công nghệ (KHCN) thông tin Trung văn. Muốn tự chủ phát triển sáng tạo các công nghệ cốt lõi và giành lấy quyền chủ động chiến lược phát triển KHCN thông tin Trung văn, TC cần phải tiến hành dọn sạch các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”.
1. Thuyết “Chữ Hán ưu việt” bắt đầu tràn ngập đại lục TC từ năm 1989. Quan điểm phổ biến nhất hồi đó là: Trong các văn kiện của Liên Hợp Quốc (LHQ), những tệp (file) văn kiện in chữ Hán có độ dày nhỏ nhất, cho nên chữ Hán ưu việt hơn các loại ngôn ngữ như Anh văn. Vì người cổ súy cho thuyết “Chữ Hán ưu việt” từng làm công tác phiên dịch tại trụ sở LHQ nên quan điểm đó đã làm nhiều người nhầm lẫn.[2]

Ta đều biết, khi tiến hành bất kỳ sự so sánh nào phải có một tiền đề tối thiểu: điều kiện và phương thức phải như nhau. Thế nhưng cách viết tiếng Anh và cách viết chữ Hán là hai phương thức có điều kiện khác nhau:
- tiếng Anh dùng cách viết nối liền một dòng đơn [đơn tuyến] các ký tự chữ cái,
- còn chữ Hán dùng cách vẽ các nét bộ thủ trên bình diện.
- Nếu các nét bộ thủ ấy cũng dùng cách viết liền các ký tự trên một dòng thì độ dài của dòng cần thiết cho một chữ Hán thường là lớn hơn dòng viết chữ cái tiếng Anh. Nếu các từ tiếng Anh cũng dùng cách vẽ trên bình diện thì không gian bình diện cần vẽ chẳng khác mấy so với chữ Hán.

Xin nêu một ví dụ:
“中国人Trung Quốc nhân” [người TQ], Trung văn dùng 3 ký hiệu chữ Hán, còn Anh văn “CHINESE” dùng 7 ký tự (7 characters) không thể chia cắt nhau viết liền một dòng. Nhưng nếu chữ Hán cũng dùng các ký tự không thể chia cắt viết theo cách viết liền một dòng, thí dụ các nét bộ thủ viết liền nhau, thì sẽ có 14 ký hiệu (14 characters): “sổ (nét thẳng đứng), triết (nét gập), hoành (nét ngang), sổ … ”, nối nhau trên chiều dài lớn hơn nhiều so với dãy chữ tiếng Anh.

Có thể vì thế mà nói rằng văn bản in bằng chữ Hán sẽ mỏng hơn in bằng tiếng Anh, từ đó nói Hán ngữ “ưu việt” hơn Anh ngữ chăng?
Dĩ nhiên là không.
Như vậy, quan điểm nói “Trong các văn kiện của Liên Hợp Quốc, những tệp văn kiện in chữ Hán có độ dày nhỏ nhất, cho nên chữ Hán ưu việt hơn các loại ngôn ngữ như Anh văn… ” là quan điểm hoàn toàn không có chút thường thức tối thiểu về so sánh, phân tích; sự so sánh như thế là không có ý nghĩa gì hết.

2. Những người cổ súy thuyết “chữ Hán ưu việt” nói: vì chữ Hán có lượng thông tin bình quân (平均信息量, Average information content) lớn, cho nên chữ Hán ưu việt hơn tiếng Anh.

Đây là cách nói theo kiểu đoán mò.
Nguyên lý cơ bản của khoa học thông tin cho thấy: lượng thông tin bình quân của hệ thống ký hiệu mà dữ liệu sử dụng càng lớn thì tính bất ổn định và phí tổn [nguyên văn: tiêu hao] của hệ thống đó càng lớn, là yếu tố bất lợi cho việc quản lý và truyền thông tin.
Ví dụ thông tin bình quân (平均信息熵: Entropy) của Anh văn vào khoảng 4,03 bits, của chữ Hán khoảng 9,6 bits, tức lượng thông tin bình quân của chữ Hán lớn hơn nhiều so với của ký hiệu Anh văn.
Khi làm cùng một tác nghiệp dữ liệu thì hệ thống ký hiệu chữ Hán có phí tổn tổng thể lớn nhất, vì vậy lượng thông tin lớn của chữ Hán chính là yếu tố bất lợi.

Nếu lượng thông tin bình quân lớn mà có thể đổi lấy độ chính xác tinh vi bình quân cao hơn (ví dụ tính tin cậy và tránh được sự đa nghĩa…) thì có lẽ cũng đáng giá. Nhưng theo sự khảo sát phân tích của các chuyên gia TQ và nước ngoài thì độ dư thừa bình quân (平均多余度: Average redundancy) của các hệ ký tự chữ Hán và Anh văn lại suýt soát như nhau, cũng tức là nói, lượng thông tin bình quân lớn của chữ Hán không mang lại độ chính xác tinh vi cao hơn, cũng chẳng mang lại hiệu quả thực tế tăng được tính tin cậy và tránh được sự đa nghĩa.
Muốn đạt được độ chính xác tinh vi và tính tin cậy đại để như nhau thì hệ ký hiệu chữ Hán lại có phí tổn cao hơn rất nhiều so với hệ ký hiệu Anh văn.

Như vậy có thể nói chữ Hán “ưu việt” hơn tiếng Anh được chăng?

Quan niệm cứ thấy “lớn” thì cho là tốt đã chiếm lĩnh đầu óc của nhiều người, bởi vậy khi thấy nói “chữ Hán có lượng thông tin bình quân lớn”, người ta bèn đoán mò nghĩ rằng điều đó thật là “ưu việt” xiết bao. Họ đâu có biết rằng đấy chính là yếu tố bất lợi cho việc quản lý và truyền dữ liệu. Lấy “chữ Hán có lượng thông tin bình quân lớn” làm lý do cho quan điểm “chữ Hán ưu việt” là việc làm đi ngược lại nguyên lý khoa học và tri thức cơ bản của lý thuyết thông tin.

882

Yesterday, 6:05am

3. Những người cổ súy thuyết “chữ Hán ưu việt” nói: trong thao tác máy tính, thao tác đưa chữ Hán vào máy tính nhanh hơn tiếng Anh, chỉ gõ vài phím là trên màn hình đã xuất hiện cả một cụm từ hoặc câu ngắn, trong khi tiếng Anh thì phải gõ từng chữ cái, vì thế chữ Hán “ưu việt” hơn tiếng Anh.

Đây là cách nói thiếu hiểu biết về máy tính.
Ai hiểu nguyên lý đưa vào lấy ra (input/output) từ máy tính đều biết rằng mối quan hệ giữa cách hiển thị ký tự và việc thao tác bàn phím hoàn toàn là quy định của trình tự do con người làm ra.
Ví dụ:
Có trình tự đưa vào lấy ra (input/output) quy định: Zhongguo = “中国 (Trung Quốc)”, ren = “人 (người)”; zgr = Zhongguo + ren. Như vậy khi gõ “zgr” thì sẽ hiển thị ba chữ Hán “中国人”.
Cũng theo phương pháp đó, người ta soạn một trình tự đưa vào lấy ra (input/output) theo cách gõ các ký tự “Shakespeare_12” sẽ hiển thị toàn bộ tác phẩm “Đêm thứ 12” gồm mấy trăm nghìn ký tự tiếng Anh.

Như vậy có thể nói đưa tiếng Anh vào máy tính nhanh hơn tiếng TQ, do đó nói hệ thống chữ viết Anh văn “ưu việt” hơn hệ thống văn tự chữ Hán được không?

Rõ ràng là không.
Thao tác máy tính tiếng Anh phổ biến dùng phương pháp đưa vào từng chữ cái, nhằm để việc quản lý toàn diện dữ liệu tiếng Anh có một tiêu chuẩn thống nhất, nhằm đạt được hiệu quả giá thành tốt hơn, chứ không phải là do nhân viên làm công tác quản lý dữ liệu máy tính tiếng Anh không biết gì về thiết kế trình tự đơn giản quy định cụm từ, câu ngắn như thế nào, lại càng không phải vì tiếng Anh có “hơn kém” gì so với các ký hiệu văn tự khác.

4. Thuyết “chữ Hán ưu việt” còn có một phát biểu nữa: “Vì chữ Hán có đặc điểm tượng hình, biểu ý nên nó đặc biệt thích hợp dùng cho khoa học kỹ thuật hiện đại, là thứ ngôn ngữ máy tính lý tưởng.”

Nói như thế là không đúng sự thật, cũng không hợp với nguyên lý làm việc của máy tính.
Từ ngày công nghệ máy tính Trung văn bắt đầu phát triển, thời gian dùng cho việc làm ra phương pháp đưa chữ Hán vào máy tính đã tốn mất hơn 30 năm, kinh phí và nhân lực bỏ ra lại càng không thể tính toán được. Thế nhưng cho tới nay do kho dữ liệu chữ Hán vẫn không đủ dùng, việc đăng ký hộ khẩu tại cơ quan công an, việc đăng ký chủ tài khoản ngân hàng từng nhiều lần xảy ra trục trặc khó xử; vấn đề truyền và xử lý dữ liệu Trung văn xảy ra loạn mã cho đến nay cũng chưa hoàn toàn giải quyết xong.
Kho dữ liệu chữ Hán hiện có dùng nhị tự tiết (2 bytes = 16 bits, one byte =8 bits) ; muốn bao gồm tất cả các chữ Hán thì tất phải dùng tứ tự tiết (4 bytes=32bits),[3] khi đó chẳng nói cũng biết là giá thành sẽ cao và hiệu suất sẽ thấp.
Điều đáng chú ý nữa là cứ cho rằng đã hoàn tất việc xây dựng kho dữ liệu chữ Hán đi nữa, thì cũng không thể đáp ứng nhu cầu quản lý toàn diện dữ liệu Trung văn. Mọi việc vẫn cứ phải làm lại từ đầu.

Trước những sự thật đó, sao mà có thể nói “chữ Hán đặc biệt thích hợp dùng cho KHKT hiện đại” và là “thứ ngôn ngữ máy tính lý tưởng hơn”?

Cái gọi là “ngôn ngữ máy tính” vừa không phải là Anh văn lại cũng chẳng phải là Trung văn hoặc ký hiệu văn tự nào khác loài người đang sử dụng. Nó là ngôn ngữ hệ nhị phân do “0” và “1” họp thành, tức “ngôn ngữ máy”. Cho dù dữ liệu thuộc chủng loại hình vẽ, âm thanh hay chữ viết, việc xử lý máy tính của chúng đều được hoàn thành bởi thao tác đóng mở công tắc chế độ nhị phân, hoàn toàn không có quan hệ gì với việc ký hiệu văn tự nó sử dụng là tượng hình, biểu ý và với cách viết thư pháp của nó.
Nếu ký hiệu chữ Hán là “ngôn ngữ máy tính lý tưởng hơn” hệ nhị phân, thế thì tại sao trên thế giới chưa có một máy tính nào (kể cả máy tính TQ sử dụng) bỏ hệ nhị phân, sử dụng hệ ký hiệu chữ Hán để thiết kế chế tạo?

5. Từ lâu Chính phủ TQ đã công bố Phương án Bính âm (Pinyin) Hán ngữ hiện đại (Scheme for Chinese phonetic alphabet) và các quy phạm tiêu chuẩn ngôn ngữ văn tự như Chính từ pháp (正词法, orthography, phép chính tả; ở đây là Phép chính tả của Bính âm Hán ngữ (Pinyin)… cùng các quy phạm tiêu chuẩn quốc tế được các tổ chức quốc tế chính thức như Liên Hợp Quốc tiếp nhận sử dụng trên toàn cầu.
Thế nhưng những người cố súy thuyết “chữ Hán ưu việt” lại nói các quy phạm tiêu chuẩn đó là “tả khuynh” và “mù quáng phương Tây hóa”; họ chủ trương trở về “Chú âm chữ Hán” (汉字注音: Hán tự chú âm) cách nay ngót trăm năm.[4]

883

Yesterday, 6:06am

Do sự dẫn dắt sai lầm nghiêm trọng của thuyết “chữ Hán ưu việt”, hiện nay hầu hết tài liệu Trung văn và nhiều tài liệu chữ viết phát hành trong, ngoài TQ đều dùng phương pháp “Chú âm chữ Hán” (汉字注音: Hán tự chú âm), đem lại hậu quả tiêu cực nghiêm trọng cho công tác quản lý dữ liệu Trung văn.

Ví dụ:
Câu “Bắc Kinh là thủ đô TQ”
- theo phương thức viết Chú âm Hán ngữ hiện đại (pinyin) của quy phạm tiêu chuẩn quốc gia, câu này viết là: “Beijing shi Zhongguo de shoudu”.
- Nhưng phương thức viết “Chú âm chữ Hán” do thuyết “chữ Hán ưu việt” chủ trương lại viết: “bei jing shi zhong guo de shou du”.
- Đến khi xử lý dữ liệu thì phương thức là “beijingshizhongguodeshoudu”.

Chẳng cần nói nhiều, dùng phương thức này để xử lý dữ liệu Trung văn sẽ đem lại phí tổn lớn hoàn toàn không cần thiết cho việc phán đoán ranh giới từ (nguyên văn từ giới, 词界, word boundary), khiến cho những việc xử lý dữ liệu như tra cứu, xếp thứ tự, và tự động phiên dịch sẽ xảy ra nhiều sai lầm khác nghĩa, làm giảm đáng kể hiệu suất công việc, thậm chí làm cho công tác quản lý vốn dĩ có thể hoàn thành một cách thoải mái lại trở nên khó hoàn thành; hơn nữa, cho dù có thể bỏ qua chuyện khác nghĩa thì vấn đề giá thành cao vẫn vượt quá sức tưởng tượng. Chính vì thế mà bao năm nay việc nghiên cứu các công nghệ đọc tự động và dịch tự động của TQ hầu như không có tiến triển thực chất nào.

Xét từ góc độ lịch sử văn hóa, cách viết Trung văn đã nhập khẩu phương pháp đánh dấu chấm câu (punctuation) của phương Tây, làm cho văn tự chữ Hán biểu đạt rõ ràng hơn, chuẩn xác hơn và dễ đọc hơn, tạo điều kiện cho việc xóa nạn mù chữ và giúp nhiều người hưởng cơ hội học tập.
Cũng với lý lẽ như vậy, việc sử dụng các phương pháp như Chính từ pháp để xác định ranh giới từ đã làm cho cách viết Hán ngữ tiến thêm một bước theo hướng rõ ràng, chuẩn xác và dễ đọc, có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển công nghệ thông tin Trung văn và hiện đại hóa văn hóa.

Việc áp dụng cách “Chú âm chữ Hán” (汉字注音: Hán tự chú âm) như chủ trương của thuyết “chữ Hán ưu việt” chẳng những là sự thụt lùi văn hóa và tạo trở ngại cho nhiệm vụ phát triển công nghệ thông tin Trung văn, mà hơn nữa, xét từ góc độ đời sống quốc gia, việc chưa trải qua trình tự pháp lý đã phủ định, thậm chí có hành động chống đối các quy phạm tiêu chuẩn liên quan Chính từ pháp nhà nước đã ban hành, là một việc vô lý.
Thuyết “chữ Hán ưu việt” đi ngược lại sự thật và trái với nguyên lý khoa học, nhưng nhiều năm nay thuyết này đã lan tràn khắp xã hội TC, đầy rẫy trên các báo đài. Thậm chí không ít quan chức nhà nước, viện sĩ, danh nhân, học giả và các nhà văn cũng theo nhau “ai nói sao ta cũng bào hao nói vậy”.
Muốn tự chủ sáng tạo phát triển công nghệ thông tin Trung văn, muốn nắm quyền chủ động chiến lược thì TC phải dọn sạch các sai lầm nghiêm trọng do thuyết “chữ Hán ưu việt” gây ra.
Vì vậy, tác giả trịnh trọng kiến nghị: Xin hãy chớ tiếp tục gieo rắc thuyết “chữ Hán ưu việt” đi ngược lại nguyên lý khoa học và trái với sự thật.

------------------
[1] Mễ A Luân là bút danh của một học giả được Nhân dân Nhật báo (NDNB) TC giới thiệu là “nông dân số hóa” sống ở Mỹ, chắc là chuyên gia máy tính TC. Mạng people.com.cn cho biết: các bài viết của Mễ A Luân đều được bạn đọc hoan nghênh; đó là công lao của nhóm làm chuyên mục “Xóm Mễ A Luân”, do Chinabyte (của NDNB và Tập đoàn Tin tức cùng tổ chức) chủ trì. Các thành viên Chinabyte đều là chuyên viên chủ chốt của NDNB, mạng people.com, tạp chí Computer World… Các bài viết nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đều nhằm chấn chỉnh những xu hướng sai lầm lớn trong đời sống văn hóa xã hội TC.

[2] Tỷ lệ sử dụng 6 ngôn ngữ làm việc của LHQ trong soạn thảo các văn kiện ban đầu ở LHQ như sau: Tiếng Anh 80%, Pháp – 15%, Tây Ban Nha – 4%, còn lại 1% – Nga, A Rập, TC (theo nhà ngôn ngữ số một TC Châu Hữu Quang).

[3] Nhị tự tiết: dùng 2 bytes để mã hóa 1 ký tự. Tứ tự tiết: dùng 4 bytes để mã hóa 1 ký tự.

[4] Cách ghi âm chữ Hán bằng ký tự chữ Hán cổ, không dùng chữ cái Latin, không viết hoa được, không viết liền được, do đó không phân biệt được danh từ riêng.

884

Yesterday, 4:01pm

Nhận định:

“Chữ Hán ưu việt” hả, GS Bùi Hiền ?
Chẳng những cách “Chú âm chữ Hán” (汉字注音: Hán tự chú âm) của thuyết “chữ Hán ưu việt” mà cả phương án “Bính âm Hán ngữ hiện đại (Scheme for Chinese phonetic alphabet: Pinyin) đều cũng chỉ là những cách xoay sở lung túng trong công cuộc canh tân hóa Hán Tự của TC. Họ đã mất hơn 30 năm cho việc làm ra phương pháp đưa chữ Hán vào máy tínhcộng với kinh phí và nhân lực không thể tính toán được mà vẫn chưa hòan chỉnh.
Này nhé hãy xem Bính Âm hay đến cở nào khi dùng Alphabet của tây phương để phiên âm tên của người Tàu:
Ví dụ:
Diêu (Yao)
Nhạc Hân (Yue Xin)
Lạc Ngọc Thành (Le Yucheng)
Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew)
Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou)
Nhậm Chính Phi (Ren Zhengfei)
Văn Hối Báo (Wen Wei Bao)
Trương Thủ Thịnh (Zhang Shoucheng)
Dương Chấn Ninh (Yang Chen-ning)
Dương Phúc Gia (Yang Fujia)
Hoa Pha (Hua Po)
Vương Toàn Chương (Wang Quanzhang)
Khưu Chiêm Huyên (Qiu Zhanxuan)
Trần Toàn Quốc (Chen Quanguo)
Nghê Lạc Hùng (Ni Lexiong)
Hứa Lợi Bình (Xu Liping)
Lâm Trung Bân (Lin Chong Pin)
La Viện (Lou Yuan)
Tưởng Kinh Quốc (Chiang Ching Kuo)
Cơ Long (Kee Lung)
Nghi Lan (Yi lan)
Hòa Điền Thái Đạt (Hetian Taida)
Bách Độ (Baidu)
Hướng Tùng Tộ (Xiang Songzuo)
Cao Phong (Gao Feng)
Ninh Cát Triết (Ning Jizhe)
Lý Khắc Cường (Li Keqiang)
Đông Phương (Dongfeng)
Hoa Vi (Huawei)
Trần Hương Mai (Chen Xiangmei)

GS Bùi Hiền và đồng chí của ông hãy nói cho dân VN biết nguyên tắc chính xác của phương pháp Bính Âm này đi.
Rồi hãy nói cách phiên âm Hán Việt có ăn nhậu gì với Bính Âm không?

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Yesterday, 6:02pm)


885

Yesterday, 6:05pm

Học giả trăm tuổi Châu Hữu Quang bàn về Trung Cộng
Posted on 23/10/2017 by The Observer
Chu Hữu Quang: Cha đẻ bính âm, nhà bất đồng chính kiến
Truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa tin ông Chu Hữu Quang (Zhou Youguang), người được biết đến với tư cách là cha đẻ của bính âm Hán ngữ (pinyin) vì đã tạo nên một hệ thống viết chữ Hán bằng bảng chữ cái Latinh vốn trở thành tiêu chuẩn quốc tế kể từ khi được giới thiệu cách đây khoảng 60 năm, đã qua đời
Nguồn tiếng Trung: 周有光:中国还没崛起—–百岁老学者周有光谈中国
Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Hỏi: Cụ cho rằng Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay đang đứng ở vị trí nào trên ba mặt kinh tế, chính trị, văn hóa?

Châu Hữu Quang (CHQ): Về kinh tế, giai đoạn công nghiệp hóa Trung Quốc (TQ) lạc hậu so với phương Tây. Ngày nay công nghiệp hóa TQ có tiến bộ là nhờ công cuộc cải cách mở cửa của Đặng Tiểu Bình. Mặt kinh tế của cải cách mở cửa là tiếp thu biện pháp “Ngoại bao” [Outsourcing: xí nghiệp gia công sản phẩm; nước ngoài bao cung cấp vốn và bao tiêu thụ sản phẩm], nói trắng ra là dùng sức lao động rẻ tiền của chúng ta để phục vụ cho nước ngoài. Chuyện này chẳng có gì vẻ vang cả, nhưng không đi con đường ấy thì chúng ta không thể phát triển. Ấn Độ cũng dùng cách này để phát triển. Chúng ta là “nhà máy của thế giới”, Ấn Độ là “văn phòng làm việc của thế giới”. Nga phê phán TQ, nói ta vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO là chịu sự bóc lột của phương Tây. Là bóc lột, nhưng khác với bóc lột thời xưa.
Ngày trước ta chẳng có gì cả, mọi thứ tốt đều là của phương Tây. Hiện nay ta cũng được ăn một chút, tuy rằng phương Tây ăn nhiều hơn, ta ăn ít hơn. Đây là cùng thắng. Ta bằng lòng chịu sự bóc lột của phương Tây. “Ngoại bao” là cách làm cả hai bên đều có cái mà hưởng, thực hiện hai bên cùng thắng. Ông Tống Sở Du [một chính khách Đài Loan] từ Đài Loan sang Đại lục, tại Bắc Kinh ông nói đến “giàu đều”. Ông ấy nói sai rồi. Đây là cùng giàu chứ không phải giàu đều. Giàu đều là một kiểu chủ nghĩa bình quân, mọi người chia đều, điều đó mãi mãi không thể thực hiện được. Cùng giàu là cái Đặng Tiểu Bình nói một số người giàu lên trước, người giàu trước kéo theo người giàu sau.

Hỏi: Nhưng hiện nay người giàu trước không kéo người giàu sau, ngược lại phân hóa giàu nghèo càng nghiêm trọng hơn.

CHQ: Hiện nay tồn tại hai vấn đề lớn: giàu nghèo không đều, tham nhũng nặng. Đây là sự tích lũy nguyên thủy của tư bản.
Nước Nhật thời Duy Tân Minh Trị kinh tế đã phát triển. Bốn gia tộc lớn mua rẻ tài sản nhà nước, gây ra tình trạng độc quyền, đây là tham nhũng. Tại Indonesia, Suharto làm đảo chính lật đổ thời đại Sukarno, kinh tế có phát triển nhưng sinh ra chủ nghĩa tư bản thân hữu [crony capitalism], đây cũng là sự tham nhũng. Nước Nga ngày nay các triệu phú đều nguyên là quan chức cấp cao trong đảng cộng sản… TQ cũng vậy. Xí nghiệp quốc doanh thay biển tên thành xí nghiệp tư doanh. Tất cả đều là sự tích lũy nguyên thủy dã man, rất khó tránh được. Hiện nay mọi người đều nói TQ trỗi dậy, tôi cảm thấy còn chưa trỗi dậy, chỉ là công nghiệp hóa ban đầu. Trong thành phần của ngoại bao, hàm lượng sức lao động càng nhiều thì trình độ ngoại bao càng thấp, chúng ta đang còn ở tầng thấp nhất. Cho nên hiện nay ta vẫn cần cải cách, cần nâng cao kỹ thuật ngoại bao. Hiện nay sinh viên tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm, bởi lẽ kinh tế chưa phát triển. Hai hôm nay báo chí nói nhiều nhà máy tuyển không được thợ, vì lương thấp quá, nông dân không muốn làm thợ. Đây là hiện tượng tốt, như thế cần tăng lương.

Hỏi: Cụ cho rằng tiểu khang là hiện thực, còn đại đồng là lý tưởng mãi mãi không thể thực hiện được?

CHQ: Nếu nghiên cứu lịch sử từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Tây đến phương Đông, sẽ phát hiện thấy khi tất cả các nền văn hóa xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì sẽ xuất hiện lý tưởng. Khi văn hóa còn rất thấp thì chưa có lý tưởng, chỉ có mê tín. Điểm nổi bật của TQ là cách đây 2.500 năm Khổng Phu Tử đã đề ra lý tưởng đại đồng “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công” [Khi đạo lớn được thực hành thì thiên hạ sẽ là của tất cả mọi người – tức xã hội đại đồng]. Ông nêu ra được những người thực hiện tiểu khang (Vũ, Thương, Văn Vương, Vũ Vương) nhưng lại không nêu ra được những người thực hành đại đồng, vì sao vậy? Vì đại đồng là lý tưởng, mà tiểu khang mới là hiện thực. Lý tưởng là động lực của văn minh nhân loại, chỉ đạo ta tiến lên, nhưng nó không phải là những bước đi cụ thể trong xây dựng đất nước; trong phát triển thực tế, mãi mãi không đạt được lý tưởng. Tiểu khang là gì? Nó không phải là một mục tiêu cố định, không phải là chuyện mỗi người mỗi tháng được 2.000 đồng Nhân dân tệ, nó là cuộc sống thực tế mãi mãi tiến lên. Chúng ta cần nghiên cứu cuộc sống cụ thể, cần phát triển kinh tế, đồng thời chính trị và văn hóa cũng phải theo kịp. Đơn giản nhất, quy luật phát triển của xã hội gồm ba thứ này: Về kinh tế là từ nông nghiệp hóa, công nghiệp hóa tới tin học hóa; về chính trị là từ chính trị thần quyền, chính trị quân chủ tiến đến chính trị dân chủ; về văn hóa là từ tư tưởng thần học, tư tưởng huyền học tiến đến tư tưởng khoa học.

Hỏi: Cụ cho rằng TQ còn chưa tiến sang thời đại tin học hóa?

CHQ: TQ đã bắt đầu tin học hóa, nhưng giờ đây gặp một vấn đề lớn. Google hiện nay muốn rút ra khỏi TQ. Vì sao một công ty dân doanh muốn rút ra khỏi TQ mà Tổng thống Mỹ lại lên tiếng? Theo sự phát triển của mạng và của tin học hóa thì sau này tất cả các quốc gia đều không thể giữ bí mật được, bởi lẽ tin học hóa là kết nối đến từng người. Nhưng nước ta lại nhất định phải giữ bí mật, vì thế đẻ ra mâu thuẫn. Chúng ta phát triển theo hướng tin học hóa, nhưng khi dân chúng có thể tiếp xúc với những thứ chính phủ ta không muốn mọi người được tiếp xúc thì chính phủ sợ. Vấn đề này nên giải quyết thế nào? Biện pháp của ta là chặn nó lại. Cái máy tính của tôi phải bỏ xó, những thứ trước đây vẫn đọc thấy thì nay không đọc thấy nữa. Nhà tôi lắp máy tính kết nối vệ tinh, hiện nay có nhiều kênh không xem được nữa. Nhưng Google rút ra khỏi TQ không giải quyết được vấn đề gì, bởi lẽ bạn chẳng biết sau đây sẽ còn những trò nào, hiện nay chẳng phải đã có Twitter đấy sao? Google chưa phải trò cuối cùng, nó sẽ rất nhanh bị các công nghệ mới vượt qua. Đến lúc ấy sẽ đối phó thế nào?

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Today, 5:29pm)


886

Today, 5:34pm

Hỏi: Thế còn sự phát triển trên mặt chính trị?

CHQ: Về chính trị, các nước khác nhau thì có trình độ chính trị khác nhau. Có nhà nước thần quyền, ví dụ như Iran; có nhà nước quân chủ, tức chế độ chuyên chế, ví dụ Triều Tiên; có nhà nước dân chủ, như Âu Mỹ.
Từ thần quyền đến dân chủ hơn kém nhau một lịch sử mười nghìn năm. Nhìn về mặt phát triển chính trị, Iran là quốc gia 10 nghìn năm trước. Cho nên trình độ phát triển không đồng đều, xử lý không khéo sẽ đánh nhau. Gần đây có người nói thế giới hiện nay không phải là ngày càng thái bình mà là ngày càng nguy hiểm. Nhưng giải quyết mối nguy hiểm ấy như thế nào thì lại chẳng ai biết. Bởi lẽ chẳng thể nào dự đoán được lịch sử.
Karl Marx có một số dự đoán sai. Ông nói công nghiệp càng phát triển thì sẽ càng có nhiều công nhân, cho nên ông kêu gọi giai cấp công nhân toàn thế giới liên hợp lại, ông chưa nghĩ đến chuyện sau này nhà máy sẽ không có công nhân nữa.
Tại Nhật, lần đầu tiên tôi thấy một nhà máy không có công nhân, nhà xưởng rất lớn mà chỉ có ba kỹ sư, phía sau các bức vách kính trong suốt, mọi công việc đều tự động hóa.
Sau đấy sang Mỹ lại thấy một trang trại không có nông dân, đó là ở Hawaii, một trang trại chỉ thấy có 5 người, mọi việc đều làm bằng máy. Đó là chuyện Marx không thể dự kiến được.
Một ví dụ nữa: chế độ cổ phiếu cũng làm thay đổi chế độ tư bản. Một nửa số cổ phiếu nhà máy ở Mỹ là do công nhân mua, công nhân thành ông bà chủ, vừa bị bóc lột lại vừa bóc lột người khác, câu chuyện trở nên phức tạp.
Các học giả Nga đã có nghiên cứu như thế này: họ cho rằng Marx chưa nhìn thấy chủ nghĩa tư bản đích thực; chủ nghĩa tư bản chia làm ba giai đoạn, thời kỳ trước Thế chiến I là giai đoạn ban đầu [sơ cấp], thời kỳ giữa hai cuộc Thế chiến là giai đoạn giữa [trung cấp], thời kỳ sau Thế chiến II là giai đoạn cấp cao. Marx qua đời quá sớm chỉ thấy phần nửa đầu của giai đoạn sơ cấp, vì thế cuốn “Tư bản” chỉ là sự suy diễn triết học, không phải là luận chứng khoa học.

Hỏi: Theo quy luật phát triển xã hội do cụ tổng kết thì xã hội dân chủ là phương hướng phát triển tất nhiên trong tương lai?

CHQ: Đã là chuyên chế thì đều cản trở sự phát triển xã hội. Vì thế cần phải dân chủ. Cái chúng ta kiêng kị nhất là dân chủ. Nhưng tôi là người lạc quan, mọi cái đều từ từ đến, chớ nên sốt ruột. Thường có người nước ngoài hỏi tôi, vì sao TQ làm chậm thế. Tôi bảo TQ có 5 nghìn năm lịch sử, các ngài chỉ có hai trăm năm, cho nên các vị sốt ruột còn chúng tôi thì không sốt ruột. Có sốt ruột cũng chẳng có cách nào.
Dân chủ không phải là chuyện đơn giản, có nhiều việc phải làm. Trước hết phải định ra luật pháp. Từ cải cách mở cửa đến nay chúng ta đã làm ra được một số luật pháp rất tốt, ví dụ Luật Vật quyền [Vật quyền pháp], trên thực tế là thừa nhận chế độ tư hữu.
Ta nói “Làm kinh tế thị trường có đặc sắc CNXH”, người nước ngoài cười bảo các ông chẳng phải đã tham gia WTO đấy sao, ở đâu ra hai nền kinh tế thị trường thế? Nhưng ta phải nói vậy, để tự an ủi mà.
Tôi thấy dân chủ là con đường ắt phải đi, không thể tránh, như đứa bé phải lớn lên, khi già thì chết, lý lẽ như nhau cả thôi. Dân chủ không phải là phát minh mới hoặc sáng chế của quốc gia nào, nó là sự tích lũy kinh nghiệm của loài người trong ba nghìn năm.
TQ đi sau, có mặt tốt là có cải cách mở cửa. Nghiên cứu của nước ngoài nói chúng ta đi lên xã hội dân chủ nhanh nhất cần ba chục năm, chậm nhất cần 150 năm. Tại sao lại là 150 năm?
Vì kết cấu xã hội ta ngày nay cực kỳ giống thời kỳ Duy tân Minh Trị của Nhật; thời ấy cách nay đã 150 năm. Nhưng giả thiết chúng ta đi nhanh thì ba chục năm cũng được.

Hỏi: Dưới điều kiện nào thì có thể dùng ba chục năm để hoàn thành dân chủ hóa?

CHQ: Tôi cho rằng có hai tiền đề: một mặt lãnh đạo phải cởi mở [khai phóng], mặt khác phải nâng cao trình độ tư tưởng của quần chúng. Các nhân vật quan trọng trong chính phủ TQ trước đây đều không có văn hóa.
Mao Trạch Đông giỏi viết chữ làm thơ nhưng không có văn hóa hiện đại. Ông có văn hóa cổ đại, là văn hóa phong kiến, cho nên ông làm hoàng đế.
Đặng Tiểu Bình từng đi Pháp, tuy không phải là lưu học sinh nhưng đã thấy thế giới, nên tiến hơn một bước.
Mặt khác cần nâng cao trình độ của quần chúng. Hiện nay các đợt lưu học sinh liên tục về nước, sẽ có ảnh hưởng. Có người nói nếu tất cả người TQ đều là lưu học sinh thì sẽ dễ [thực hiện dân chủ hóa]. Nhưng tôi nói sự việc không đơn giản như vậy, người từ Mỹ về nước cũng có toan tính riêng tư, khi có quyền lực sẽ tham nhũng như thường.

Hỏi: Thực tiễn dân chủ ở Bhutan dường như chứng minh chưa chắc đã cần phải phổ biến nâng cao tố chất của dân chúng?

CHQ: Bhutan năm 2007 tranh cử thành lập Quốc hội. Quốc vương học ở nước ngoài về đã chủ động tiến hành cải cách dân chủ, hạn chế quyền lực của mình. Có người hỏi quốc vương Bhutan: Nhân dân không có yêu cầu dân chủ, tại sao ngài vẫn làm dân chủ hóa? Ông ấy nói:
“Tôi có thể cố gắng làm một quốc vương yêu dân, nhưng tôi không thể bảo đảm Bhutan đời đời kiếp kiếp đều có quốc vương tốt. Vì hạnh phúc lâu dài của nhân dân Bhutan, tất phải thực hành dân chủ.”
Bhutan là nước nhỏ, quốc vương có uy tín, nói gì dân đều tin theo. Nhưng nước lớn thì tình hình phức tạp, có quá nhiều thế lực, ông không muốn làm vua nhưng tôi muốn làm vua, cải cách dân chủ không thể thành công.

887

Today, 5:39pm

Hỏi: Về văn hóa thì sao, phải chăng TQ đã tiến sang giai đoạn khoa học?

CHQ: Đặc điểm của thần học là dựa vào “Mệnh trời” [thiên mệnh]. Huyền học thì coi trọng “suy lý”. Khoa học coi trọng “Chứng cớ thực tế” [thực chứng]. Xin nêu một ví dụ: giai đoạn thần học nói mặt trời không chuyển động; về sau thấy mặt trời mọc phía Đông, lặn phía Tây bèn kết luận mặt trời quay xung quanh trái đất – đó là huyền học, không có chứng cớ thực, nhưng vào thời ấy là một tiến bộ lớn. Trong giai đoạn khoa học, người ta đưa ra thuyết trái đất xoay xung quanh mặt trời.
Trên mặt văn hóa, ta có vấn đề rất lớn.
TQ là một quốc gia lâu đời văn minh xuất sắc, nhưng lại lạc hậu trong tiến trình hiện đại hóa. Trước thời văn nghệ phục hưng, phương Tây lạc hậu, nhưng nhờ văn nghệ phục hưng mà trỗi dậy, đi lên hàng đầu về hai chuyện lớn là khoa học và dân chủ. Ta không dám học dân chủ, chỉ học khoa học; về khoa học cũng chỉ nhập khoa học tự nhiên, còn khoa học xã hội thì không mở cửa, trừ kinh tế học; nhiều ngành khoa học cực kỳ lạc hậu.
Khởi nghiệp là việc khó nhất. Nước Mỹ có công nghiệp phát triển là nhờ không ngừng đào tạo những nhà khởi nghiệp ưu tú. Quản lý là sức sản xuất quan trọng, ngày nay đã trở thành thường thức được công nhận và phát triển thành nhiều ngành học. Liên Xô tiêu diệt các nhà tư bản, không có người quản lý cho nên kinh tế thất bại.
Tôi có ông bạn làm giáo sư ở trường Đảng Trung ương [TQ], ông ấy cho tôi xem một cuốn sách giáo khoa của trường này. Tôi xem và cười ha hả. Ngoài bìa viết là kinh tế học Mác-xít nhưng bên trong phần nhiều viết về Keynes. Nên nói như thế là tiến bộ, khoa học xã hội đã đưa kinh tế học tư bản vào, nhưng chúng ta còn chưa thể nói thế.
Quan điểm của xã hội học là xã hội loài người không thể không có giai cấp, giữa các giai cấp vừa có mâu thuẫn vừa có hợp tác, không phải chỉ có thể mày chết tao sống. Vì thế xã hội học thừa nhận tính hợp lý của việc có tồn tại giai cấp. Cho nên chúng ta không thích xã hội học, “Chủ nghĩa duy vật lịch sử” bèn phủ nhận sự tồn tại của xã hội học, Liên Xô một thời gian dài không biết học vấn này. TQ thì mãi đến sau Cách mạng Văn hóa mới xây dựng lại môn học này.
Theo lý thuyết mới về chính trị học thì số quan chức trên toàn thế giới chi cần bằng 1% là đủ rồi. Máy tính có thể thay cho nhiều quan. TQ có 70 triệu quan, nhưng nếu theo nghiên cứu nói trên thì 7 triệu đã là quá nhiều.
Về giáo dục học thì nền giáo dục của ta tồi tệ quá. Bộ trưởng giáo dục mới nhậm chức, mọi người đều mong ông ấy làm được chút việc tốt, nhưng ông khônglàm được. Vì sao vậy? Không phải ông ấy không muốn làm tốt mà là hoàn cảnh quá phức tạp đã kìm chân toàn bộ chế độ ta.

Hỏi: Cụ cho rằng hiện nay ta học phương Tây còn lâu mới đủ?

CHQ: Văn hóa nhất định là hỗn hợp của nhiều dạng văn hóa. Văn hóa đơn nguyên phát triển đến một giai đoạn nhất định rồi sẽ không thể phát triển tiếp mà cần có sự chiết ghép với văn hóa bên ngoài.
Văn hóa TQ ở thời Xuân Thu đã xuất sắc nhưng sau này bắt đầu suy tàn. Đời Hán có Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang, trải qua mấy trăm năm diễn biến, đến đời Đường thì văn hóa Hoa hạ với Phật học là trung tâm hỗn hợp với nhau, đây là thời kỳ thứ hai của văn hóa Hoa Hạ. Có nhiều thứ tốt đều đến từ văn hóa Ấn Độ, ví dụ Trung Y, điêu khắc, kiến trúc, ca múa v.v…
Đến đời Thanh lại có sự chiết ghép của văn hóa phương Tây, đây là thời kỳ thứ ba. Ngày nay ta học văn hóa phương Tây, bởi lẽ văn hóa của họ cao hơn ta, không đơn giản chỉ vì họ có mức sống cao.
Sau khi tôi sang tuổi 85, mọi người yêu cầu tôi viết chút ít về văn hóa, tôi bèn đưa ra thuyết “Song văn hóa”. Trước hết, văn hóa không phải chia làm phương Đông, phương Tây như thế này, bàn về văn hóa phải căn cứ vào lịch sử. Thời cổ có nhiều cái nôi văn hóa, về sau dần dần hòa nhập thành bốn nền văn hóa truyền thống: văn hóa Đông Á, văn hóa Nam Á, văn hóa Tây Á và văn hóa Tây Âu.
Văn hóa Tây Âu truyền sang Bắc Mỹ gọi là văn hóa phương Tây. Trong thời kỳ toàn cầu hóa, bốn nền văn hóa truyền thống ấy lưu thông với nhau, đại để bắt đầu từ thế kỷ XVIII, vô tri vô giác phát triển thành văn hóa hiện đại quốc tế không chia theo vùng, là do các nước trên thế giới “Cùng sáng tạo, cùng sở hữu, cùng hưởng thụ”. Ví dụ nói đèn điện ngày nay không thể nói là văn hóa Mỹ mà là văn hóa thế giới.
Văn hóa phương Tây sớm phát triển dân chủ, sáng tạo khoa học công nghệ nhanh, là dòng chính trong văn hóa hiện đại quốc tế, được gọi là “Tây hóa”. Nhưng các nền văn hóa truyền thống khác cũng đều có cống hiến quan trọng cho văn hóa hiện đại quóc tế, không được đánh giá thấp.
Ngoài ra dòng chảy văn hóa cũng không phải là lúc ở bên Đông lúc ở bên Tây luân phiên nhau mà là chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, lạc hậu đuổi theo tiên tiến. Thuyết “Sông bên Đông, sông bên Tây” là “Sai lầm tự ti” biến thành “Sai lầm tự tôn”, chẳng có căn cứ sự thật nào cả, chỉ là thói lấy can đảm của kẻ nhát gan “Hét to khi đi đêm”. Hiện nay mỗi quốc gia đều sống trong thời đại “Song văn hóa”: văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại quốc tế, đây là dòng chính của văn hóa ngày nay.

888

Today, 5:43pm

Hỏi: Cụ nhìn nhận thế nào về cơn sốt khắp nơi trong nước đều mở Quốc học viện và mở Diễn đàn trăm nhà giảng dạy Quốc học?

CHQ: Trước tiên, hai chữ “Quốc học” là không thông thuận. Trên thế giới chưa từng có “Quốc học”, mọi thứ học vấn đều có tính thế giới, không chia theo quốc gia. Nhưng nếu nói cần nghiên cứu các thứ cổ đại thì tôi tán thành.
Có một điểm cần chú ý là phục hưng văn hóa Hoa hạ, điều quan trọng không phải là phục cổ về văn hóa mà là đổi mới về văn hóa. Không phải là lấy văn hóa truyền thống thay cho văn hóa hiện đại mà là dùng truyền thống để hỗ trợ văn hóa hiện đại.
Cụ thể làm thế nào, phần đông cho rằng nên phù hợp ba yêu cầu:
1. Nâng cao trình độ – việc chỉnh lý và nghiên cứu phải dùng phương pháp khoa học;
2. Thích ứng với hiện đại – không làm chuyện nói xuông huyền học;
3. Mở rộng truyền bá – dùng lời văn hiện đại để giải thích và phiên dịch các tác phẩm cổ đại.

Hỏi: Hiện nay có học giả mượn cơn sốt phục hưng văn hóa truyền thống để kêu gọi khôi phục chữ phồn thể, cụ thấy thế nào?

CHQ: Chẳng khôi phục được đâu. Họ có hỏi tôi vấn đề này, tôi bảo ông đi mà hỏi các thầy giáo tiểu học ấy. Tốt nhất Bộ Giáo dục nên tổ chức điều tra rộng rãi, các giáo viên tiểu học tán thành cái nào thì theo thế ấy. Chắc chắn đa số giáo viên tiểu học đều tán thành chữ giản thể.
Hồi thập niên 1950 phải tiến hành cải cách chữ viết bởi vì hồi ấy tỷ lệ mù chữ ở TQ là 85%. Sao có thể hiện đại hóa được cơ chứ?
Muốn đông đảo quần chúng học chữ, ở tình trạng một chữ có hai cách viết thì không thể học được, tất phải có tiêu chuẩn thống nhất. Ngoài ra xét theo xu thế của toàn bộ chữ viết, tất cả các loại chữ viết đều bớt nét cho đơn giản, ngày một đơn giản hóa. Xét theo lịch sử, xét theo lý thuyết đều như thế cả. Tôi còn cho rằng đơn giản hóa như hiện nay còn chưa đủ nữa cơ.
Có lần tôi hỏi một nhân viên công tác trong Hội Ngôn ngữ Liên Hợp Quốc rằng sáu loại ngôn ngữ làm việc của LHQ, loại nào dùng nhiều?
Ông ấy nói vấn đề này đã có kết quả thống kê, kết quả ấy không giữ bí mật nhưng cũng không tuyên truyền, bởi lẽ nói ra thì sẽ có một số người không vui. 80% văn bản của LHQ dùng tiếng Anh, 15% dùng tiếng Pháp, 4% dùng tiếng Tây Ban nha, còn lại 1% trong đó có tiếng Nga, tiếng A Rập, Trung văn. Trong đó Trung văn chưa đến 1%, sao mà có thể cạnh tranh với tiếng Anh được cơ chứ?
Ngày nay người ta học tiếng TQ là để chơi, chẳng khác gì học hát học nhảy, muốn học đến trình độ dùng được thì còn chưa. Cho nên chữ Hán vẫn còn phải đơn giản hóa nữa, phải nghĩ cách để thế giới có thể tiếp thu, như thế mới có thể thực sự phát huy tác dụng. Tôi nghĩ cuối thế kỷ XXI có thể lại tiến hành một đợt giản đơn hóa chữ Hán.

Hỏi: Khi xem xét các sự vật, Cụ đều nhìn từ góc độ thế giới chứ không nhìn từ góc độ quốc gia.

CHQ: Sang thời đại toàn cầu hóa, mọi người cần có thế giới quan khác trước. Trước kia từ trong nước nhìn ra thế giới, bây giờ phải từ thế giới nhìn vào trong nước. Góc nhìn thay đổi, mọi sự vật cần phải đánh giá lại. Ví dụ trước đây tất cả các sách đều nói Thế chiến II do Hitler gây ra. Như thế là không đúng. Trên thực tế là Đức và Liên Xô bí mật xâu xé Ba Lan, từ đó gây ra chiến tranh. Việc lớn thế mà lịch sử còn chưa nói rõ. Ba Lan và Estonia di chuyển Đài kỷ niệm Liệt sĩ Liên Xô từ trung tâm thành phố đến nghĩa trang quân đội Liên Xô. Nga kháng nghị, cho rằng như thế là coi nhẹ công lao quân đội Liên Xô đã giải phóng vùng đó. Dân địa phương thì cho rằng Liên Xô xâm lược nước họ, chớ nên tiếp tục sùng bái Liên Xô.
Rốt cuộc Liên Xô là người giải phóng hay kẻ xâm lược?
Chúng ta phải nhận thức lại lịch sử.
Hồi những năm 80 thế kỷ trước, tôi có tham gia dịch cuốn “Bách khoa toàn thư Britannica” [Encyclopaedia Britannica], khi dịch đến chỗ nói về chiến tranh Triều Tiên thì khó xử. Chúng ta nói Mỹ gây ra cuộc chiến tranh ấy, người Mỹ thì nói Bắc Triều Tiên gây chiến. Về sau khi xuất bản lần đầu [bản tiếng TQ] đã không viết đoạn ấy. Năm 1999 xuất bản lần thứ hai, chúng ta nới rộng thước đo, đồng ý nói là Bắc Triều Tiên gây chiến tranh. Trước kia ta tuyên truyền cuộc kháng chiến chống Nhật chủ yếu là do chúng ta đánh; hiện nay ta thừa nhận Quốc Dân Đảng có khu vực chiến đấu lớn, quân đội nhiều, chống Nhật 8 năm, kiên trì đến cùng, Nhật đầu hàng Quốc Dân Đảng, phần lớn lính Nhật bị Quốc Dân Đảng tiêu diệt; Bát Lộ Quân là phiên hiệu quân đội của Quốc Dân Đảng, huy hiệu trên mũ là huy hiệu Quốc Dân Đảng chứ không phải sao đỏ 5 cánh. Cho nên chúng ta đang tiến bộ.

12 users apart from you are browsing this thread:

12 guests

Similar threads