You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

981

Tuesday, August 27th 2019, 7:15am

Vấn đề với các nước là có quá nhiều tiếng nói từ Washington nên đôi khi không biết nghe ai – ông bộ trưởng, tổng thống hay là ông con rể. Nhiều tiếng nói với thông điệp khác nhau?
– Đó là hệ thống của Mỹ thôi. Thời Reagan thì Ngoại trưởng Shultz và Bộ trưởng Quốc phòng Weinberger rất ghét nhau, Powell và Rumsfeld thời Bush cũng ghét nhau… sẽ luôn có những cuộc chiến như vậy trong chính quyền. Chuyện có quan điểm khác nhau như vậy trong chính quyền tôi nghĩ là bình thường.
Với chính quyền này, tổng thống cố tình đưa yếu tố bất định, khó đoán đó một cách chủ động. Ông ấy rõ ràng không muốn dễ dàng bị đoán định.
Uy tín của nước Mỹ tại Biển Đông
Từ 2014 tới nay đã thấy nhiều hơn sự hung hăng của Bắc Kinh và thấy những gì đã xảy ra với Philippines (bãi cạn Scarborough), thì dù có là đồng minh cũng không nhận được sự hỗ trợ nhiều từ Washington?
– Mỹ và Philippines có hiệp ước đồng minh và Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đã nói rõ hơn phạm vi những gì sẽ được bảo vệ theo hiệp ước này – bao gồm tàu, thuyền chính phủ Philippines hoạt động ở trên Biển Đông. Chúng tôi có cam kết với điều này. Chúng tôi chưa có cam kết như vậy với VN.

Trong trường hợp các dự án có Mỹ tham gia ở Biển Đông thì chính sách của bộ Quốc phòng Mỹ đối với vấn đề này sẽ như nào?
– Tôi không rõ cụ thể chính sách của bộ trong trường hợp đó sẽ ra sao. Nhưng vì Trung Cộng thấy họ có thể cứng rắn như vậy ở Biển Đông nên họ làm. Họ không làm như thế ở Senkaku/Điếu Ngư vì họ biết rằng sau Nhật sẽ có Mỹ.như
Tôi nghĩ Trung Cộng sẽ tiếp tục các hoạt động gây hấn ở Biển Đông vì họ có vị thế ở đây, trong khi vị trí của chúng tôi không phải là ở tuyến đầu trong trận tiền đối phó với tuần duyên hay lực lượng bán quân sự của Trung Cộng. Mà đó chính là vị thế của các nước có tranh chấp ở khu vực (như Việt Nam).

Việc Trung Cộng đưa tàu Hải Dương 8 quay trở lại xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của VN, trong trường hợp này Mỹ nên làm gì?
– Mỹ nên ủng hộ hành động của VN để bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình và chống lại việc Trung Cộng tạo ra những hiện trạng mới ở đó. Trung Cộng cũng cử rất nhiều tàu cá tới khu vực biển của Philippines…
Như hiện tại thì tôi cảm thấy chúng tôi đang có ít cơ sở trong cuộc đua này ở Biển Đông. Đó là lý do tôi nghĩ Mỹ nên làm hành động gì đó quyết liệt hơn như công nhận tuyên bố chủ quyền của một số nước tranh chấp. Chúng tôi đã tiến một bước khi vừa công nhận vừa làm rõ hiệp ước với Philippines. Giờ thì phía Trung Cộng biết rằng họ sẽ phải cẩn thận hơn (đối với các tàu Philippines). Bắc Kinh cũng biết rằng nếu họ cố tình quấy phá tàu Philippines thì họ cũng có thể làm tổn hại nghiêm trọng uy tín của Mỹ.

Với TQ ngày càng quyết liệt vậy thì VN nên làm gì?
– VN nên tự bảo vệ lợi ích của riêng mình. Washington sẽ ủng hộ. Nhưng VN cũng nên nói rõ việc đồng thuận với Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia về chiến lược. Tôi không thấy đâu là giải pháp khác cho VN. Nếu VN chỉ muốn ở giữa thì phản ứng ở Washington dĩ nhiên sẽ là ngần ngại.
VN ở vị thế đối đầu với Trung Cộng rất nhiều từ trên đất liền cho tới trên biển.
Nếu VN không thể hiện rõ lập trường của mình thì phía Mỹ cũng sẽ giữ khoảng cách nhất định. Chúng tôi không cần VN phải quá cứng rắn – tôi hiểu VN phải giữ cách tiếp cận trung tính – nhưng VN cần có một thông điệp rõ ràng hơn.
Cuối cùng thì các bạn càng thể hiện rõ bạn cần Mỹ giúp thì Mỹ sẽ có cơ sở để giúp các bạn nhiều hơn.

– Xin chân thành cảm ơn ông.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2019, 6:16pm)


982

Tuesday, September 3rd 2019, 4:34pm

Khái niệm "Hán nhân" và "Hán tộc" mới định hình đầu thế kỷ 20
BBC Tiếng Việt
31 tháng 8 2019

Các trang mạng xã hội Việt Nam đôi khi lại rộ lên tranh luận về nguồn gốc người Việt, nhấn mạnh đến sự khác biệt cả về văn hóa và thậm chí di truyền với Hán.
Nhưng trên thực tế, khái niệm "Hán nhân", "Hán tộc" và chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa cũng chỉ mới có gần đây. Đó là giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu 20, khi các trí thức như Lương Khải Siêu, Uông Tinh Vệ, Trần Thiên Hoa... cố xây dựng định nghĩa "Hán tộc" cho nhu cầu chính trị. Các khái niệm họ nêu ra hoàn toàn không mang tính khoa học mà chủ yếu là phản ứng trước tình trạng lạc hậu, bế tắc của Trung Hoa. Họ đau lòng trước nỗi nhục mất chủ quyền, đổ lỗi cho nhà Thanh và muốn dùng cả thuyết Darwin xã hội (mạnh được yếu thua) để thổi lên lòng yêu nước của dân.

Người Việt gọi tên người Tàu bằng danh xưng cùng tên với triều đại. Thời Lý thì với người Việt Nam, cư dân của đế quốc phương Bắc là "người Tống". Thời Minh, Lê Lợi khởi nghĩa là chống Minh, thắng lợi và trục xuất hết "người Minh" về nước. Nhà Nguyễn đối phó với "người Thanh" và nhìn chung trước khi có cái tên Việt Nam, cư dân quốc gia này xưng là "người Nam" đối với "người phương Bắc".

Trong Constructing Nationhood in Modern East Asia (Tạo dựng dân tộc tính ở Đông Á hiện đại), Kai‐wing Chow, Kevin M. Doak, và Poshek Fu đã mô tả kỹ lưỡng quá trình này. Theo cuốn sách này và các bài viết của Kevin Doak (Georgetown University), thì dân tộc tính xây dựng trên quan điểm có một "dân tộc Hán", là hiện tượng rất mới.

Từ thời xưa, các triều đại Trung Hoa đã nhấn mạnh đến vị trí trung tâm của họ, và nền văn minh Hoa Hạ. Dư âm thời thịnh trị Hán (trên 200 năm, tương đương với Đế chế La Mã) và Đường (thế kỷ 7-8 ) để lại khái niệm "Hán nhân" (người dùng chữ Hán), hoặc "Đường nhân" (Tangren) mà các cộng đồng Hoa hải ngoại vẫn dùng. Cả hai khác niệm này đều mang tính tự tôn văn hóa.

Nhưng sau khi tộc Mãn chinh phục toàn Trung Quốc và các vua Thanh tự xưng là hậu duệ xứng đáng nhất của Khổng Tử để chiếm đoạt luôn cả di sản tinh thần Trung Hoa, thì trí thức Trung Quốc gặp khủng hoảng. Tiếp đó, người Phương Tây đã đem tới châu Á các định nghĩa về "dân tộc" và "chủng tộc".

Ghét "Mongoloid" nhưng vẫn nhận là con cháu "Hoàng đế"
Theo cuốn Constructing Nationhood in Modern East Asia, vào cuối thế kỷ 19, thuyết Darwin xã hội (Social Darwinism) du nhập vào Trung Quốc, gây chấn động. Thuyết này, nay bị coi là phản động, cho rằng thế giới là môi trường để các tộc người giành ngôi thống trị, và chủng tộc da trắng đã thắng thế. Học thuyết này bào chữa cho chủ nghĩa đế quốc, phân biệt chủng tộc của Phương Tây nhưng lại được Nhật Bản ngưỡng mộ và làm theo. Nhật Bản tự coi mình cao quý hơn các nước châu Á láng giềng.

Các trí thức Trung Quốc, gồm nhiều người du học ở Nhật, cũng muốn đề cao dân tộc mình để đuổi nhà Thanh và xây dựng quốc gia hùng cường. Nhưng điều đầu tiên họ cần làm là định nghĩa người Trung Quốc là chủng tộc gì, dân tộc gì?
Năm 1903, Uông Tinh Vệ đặt câu hỏi:
"Trung Quốc là của người Trung Quốc, vậy người Trung Quốc là ai?"
Ông tự trả lời:
"Đó là Hán nhân chủng (Han renzhong), là Hán tộc (Hanzu)".

Chữ "tộc" (zu) hàm ý người cùng họ, cùng gia đình, dòng tộc lâu đời chứ chưa mang nghĩa "chủng tộc" (race) như của Phương Tây. Lý do là vì trí thức Trung Quốc, như Lương Khải Siêu, vô cùng căm phẫn khi người Âu Mỹ đặt dân Trung Quốc vào "chủng Mongoloid". Với họ, Mông Cổ (Menggu) là dân du mục lạc hậu, thua xa Trung Hoa. Tuy thế, thực tế là các sắc dân sống ở Trung Quốc giống nhau về hình thể. Để giải quyết vấn đề, Châu Dong (Zou Gong) đề xuất đưa tất cả các sắc dân ở Trung Quốc thời Thanh nhóm "Trung Quốc nhân chủng" (Zhongguo renzhong).

Khái niệm "Trung Quốc" (Zhongguo-China) thực ra khá mới, do Thanh triều nêu ra, bao gồm cả Trung Nguyên và các vùng "ngoại Hán" như Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng mà nhà Thanh chiếm được. Từ tiếng Anh "China" cũng được vua chúa Thanh dùng đầu tiên trong văn bản ngoại giao với Phương Tây. Nhưng vì kỳ thị các sắc dân Mãn Châu và Mông Cổ về văn hóa, đa số trí thức Trung Quốc không muốn cùng chủng tộc với họ.

Tuy vậy, người du học ở Nhật về nhưng Lương Khải Siêu có cách nhìn thoáng hơn. Ông nêu định nghĩa cho rằng người Hán, Mãn và cả Nhật nữa, là một nhóm sắc tộc, chỉ khác nhau về địa lý (người Nhật sống ngoài đảo). Trái lại, cây bút có uy tín như Chương Bỉnh Lân coi người Mãn không thể cùng chủng tộc với Hán.
Du nhập khái niệm "jinsiu" (race) từ Nhật Bản, trí thức Trung Quốc coi "Hán nhân" là ưu tú nhất, thuộc "nhóm da vàng" (yellow race). Khái niệm "da vàng" cũng không do Trung Quốc nghĩ ra mà theo sách châu Âu khi đó chia nhân loại ra bốn "chủng tộc": trắng, đen, vàng, đỏ.

Theo Werner Meissner, vào giai đoạn này, có tới 1300 cuốn sách của Đức được dịch sang Hán văn, gây tác động lớn. Trung Quốc vì thế bị ảnh hưởng của tư tưởng Đức mang nặng tính dân tộc, thậm chí chủng tộc, mà thu nạp ít từ chủ nghĩa tự do cá nhân Tây Âu. Bài toán đặt ra trước họ là xếp Hán tộc vào đâu trong "chủng da vàng". Có ý kiến cho rằng Hán là một nhánh của "chủng da vàng". Tuy thế, bỏ người Mãn ra, họ cũng phải loại người Hồi, Tạng, Uighur và Mông Cổ khỏi cộng đồng chủng tộc. Cùng lúc, có phái muốn coi Thành Cát Tư Hãn vẫn là một vị hoàng đế vĩ đại của Trung Quốc, điều khiến người Mông Cổ phật ý.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 3rd 2019, 4:45pm)


983

Tuesday, September 3rd 2019, 4:40pm

Điểm chung của các trí thức Trung Quốc là đồng ý đề cao nhóm có truyền thống văn minh nhất, là "Hán tộc" (Hanzu), hàm ý hậu duệ của Hoa Hạ. Sau đó, có lẽ vì muốn sở hữu cả khái niệm "chủng tộc da vàng", một số trí thức Trung Quốc cổ vũ cho việc phục hồi "Hoàng đế" (Huangdi). Trong thần thoại có sẵn Xích đế, Thanh đế, Hắc đế và Hoàng đế, theo các màu khác nhau, nhưng chỉ "Hoàng đế" được chọn vì có sẵn từ "huang" (vàng, yellow) trùng khái niệm của Phương Tây về "yellow race", giúp giải quyết hai vấn đề:
- Một là đề cao nguồn gốc thần thánh của "Hán tộc" mà tránh nói đến "chủng Mongoloid", ngôn từ đáng ghét Phương Tây áp đặt cho người Trung Quốc.
- Hai là nhờ có vị vua vĩ đại làm thủy tổ, dù không ai rõ có thật hay không và sống vào thời đại nào, người Hán tự tôn, giành lại vị thế cao quý từ quá khứ, quên đi thực tế đau lòng là họ bị "rợ Mãn"' đè đầu cưỡi cổ.

Nhà cách mạng Trần Thiên Hoa là người cổ vũ mạnh nhất cho"nguồn gốc Hoàng đế" của "Hán tộc". Từng đau đớn sỉ vả người Trung Quốc là loài kém cả súc vật vì không biết chủng tộc của mình là gì, Trần coi "Hoàng đế" là tổ tiên đại gia đình Hán. Năm 1905, Trần trẫm mình ở Vịnh Tokyo để phản đối Nhật Bản thay đổi chính sách với các nhóm đấu tranh lưu vong của Trung Quốc. Tuy vậy, theo Kai‐wing Chow, Kevin M. Doak, và Poshek Fu thì ý tưởng "con cháu Hiên Viên Hoàng đế" tiếp tục được phổ biến sau cái chết của Trần. Nhiều nhóm cách mạng Trung Quốc đã "tìm lại" và làm lễ kỷ niệm ngày sinh "Hoàng đế". Họ coi đó là ngày sinh ra "dân tộc Hán" và đeo cả huy hiệu "Hoàng đế" để nhấn mạnh tinh thần phản Thanh (anti-Manchu).

Các dân tộc Tàu và hệ quả cho ngày nay
Nhìn chung, từ 1903 đến 1911 các trí thức Trung Hoa loay hoay trong các khái niệm khác nhau về dân tộc, sắc tộc, không trên cơ sở khoa học có logic mà vì nhu cầu chính trị, lòng tự tôn sắc tộc và lòng căm thù cả Phương Tây lẫn nhà Thanh.
Cách mạng Tân Hợi nổ ra năm 1911, lật đổ Thanh triều, mở ra cơ hội cho những định nghĩa mới. Có người từng chủ trương chỉ đưa Trung Quốc thành đại cường đơn dân tộc kiểu Nhật Bản và Đức, bỏ hẳn Mãn Châu, Tân Cương, Tây Tạng ra ngoài. Nhưng sau khi giành được chính quyền, chính họ lại nói rằng "dân tộc Trung Quốc (Zhongguo minzu) " phải nắm trọn các vùng "ngoại Hán" nhà Thanh đã chinh phục.

Về cơ bản, như James Lebold nhận xét, cách mạng Tân Hợi là "cách mạng chủng tộc (racial revolution) " biến thành cuộc hồi sinh của cả Trung Quốc. Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, Tôn Trung Sơn đặt dấu chấm hết cho thuộc tranh luận thế nào là "dân tộc Trung Hoa". Là người Quảng Đông, theo Tin Lành và từng sống tại Mỹ, Tôn Trung Sơn nêu định nghĩa rộng, coi Trung Hoa dân quốc là nước của người Hán, Hồi, Mông Cổ, Tây Tạng và Mãn Châu. Tuy vậy, theo Werner Meissner thì chủ thuyết của Tôn Trung Sơn vẫn mang màu sắc ít nhiều thiên vị chủng tộc, với Hán ở vị trí trung tâm.

Điều thú vị là Đảng Cộng sản Trung Quốc thời Mao Trạch Đông kịch liệt bác bỏ hoàn toàn chủ thuyết "Năm dân tộc"' của Tôn Trung Sơn và Quốc Dân Đảng. Đi theo mô hình "người Xô Viết" của Liên Xô, Mao muốn Trung Quốc chỉ có một dân tộc, là "dân tộc Trung Hoa". Chỉ sau khi Mao chết năm 1976, Trung Quốc mới thôi công kích thuyết "Năm dân tộc" của Tôn Trung Sơn, nhưng vẫn không công nhận nó. Trái lại, Đảng Cộng sản Trung Quốc nay theo chủ thuyết "dân tộc Trung Hoa" với nghĩa mở rộng, gồm trên 50 cộng đồng sắc tộc thiểu số (ethnicities).

Cuối cùng là một số ghi nhận thời sự
Trong tranh luận của các trí thức tiền bối cho hai phái cách mạng và cộng hòa ở Trung Quốc đều thế kỷ 20, ta không thấy họ nhắc đến Việt Nam. Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi có nhắc đến người Triều Tiên và Nhật Bản trong cuộc tranh luận về "dân tộc Hán". Có lẽ họ coi người Việt đã sống dưới chế độ thuộc địa Pháp nên không có liên quan gì đến cuộc đấu tranh phản Thanh của người Trung Hoa nữa. Mặt khác, đây cũng là dấu hiệu chuyện tranh cãi Việt đến từ đâu, có bao nhiêu phần ảnh hưởng Trung Hoa, không phải là điều bận tâm ở Trung Quốc. Vấn đề nữa dễ nhận thấy là khái niệm "dân tộc Trung Hoa" rất mơ hồ, vay mượn quan điểm chủng tộc đến từ châu Âu và bị Hán hóa đi một chút.

Ngày nay, Âu Mỹ đã đi vào khái niệm công dân hiện đại nhưng Trung Quốc, và một số nước châu Á vẫn bám vào định nghĩa dân tộc cũ kỹ. Chủ nghĩa dân tộc có nhược điểm là kiểu gì nó cũng phải đề cao một nhóm sắc tộc, gây ra kỳ thị, bất bình đẳng. Nhưng khái niệm rộng về dân tộc Trung Hoa đã đem lại diễn giải với nhiều hệ luỵ chính trị lớn. Ví dụ Quốc Dân Đảng đồng ý rằng đa số người Đài Loan thuộc dân tộc Trung Hoa nhưng không nhắc đến vế thứ hai là cùng lãnh thổ với Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc lại coi người Đài cũng là dân của mình, tự ý bắt bớ dẫn độ họ về xử, gây phản cảm trên thế giới. Vì trong "bản sắc Trung Hoa" rộng rãi đó, người ta có các bản sắc riêng không xóa được mà một khái niệm bao trùm không lý giải nổi. Trung Quốc bắt tín đồ đạo Hồi ở Tân Cương phải học chữ, hát múa theo văn hóa Hán, mặc nhiên coi họ phải theo nhóm đa số là Hán. Phản ứng của dân Hong Kong hiện nay một phần cũng xoay quanh xung khắc về bản sắc. Người Hong Kong không phủ nhận họ là "sắc tộc Hoa (Hán)" nhưng không đồng ý với Trung Quốc rằng quyền chính trị của Bắc Kinh bao trùm các quyền dân sự.
Tại Trung Quốc, bài toán "'dân tộc" đang bế tắc một phần vì khác với những năm 1901-1905, trí thức Trung Quốc nay không được thảo luận tự do. Với bên ngoài, như Harry Krejsa và Anthony Cho viết, Bắc Kinh đang thúc đẩy "chủ nghĩa dân tộc-sắc tộc" (ethnonationalism), hiểu theo nghĩa hẹp, ra cả các cộng đồng Hoa hải ngoại, như một chính sách ngoại giao nối dài.
Câu hỏi "Ai là người Trung Quốc? " từ đầu thế kỷ 20 có vẻ đang trở lại.

984

Saturday, September 14th 2019, 6:45am

Hãy cùng nhau đi
Nhạc và lời của Việt Khang

Giờ mình cùng bên nhau
Đứng lên đi vì tự do
Dù đường dài cam go
Ta cứ đi tìm rồi sẽ có
Giọt nước mắt đổi lấy nụ cười
Giọt mồ hôi đắp xây cuộc đời
Một cuộc đời đẹp tươi
Tự do cho tất cả mọi người

Mình là người Việt Nam
Phải thương đất mẹ Việt Nam
Đừng để ngàn năm sau
Đất nước ta giặc tàu tàn phá
Tài nguyên hết đất nước hoang tàn
Một Việt Nam giống như Tây Tạng
Cuộc đời rồi ra sao?
Đời sau con cháu ta như thế nào?

Còn là người Việt không?
Chớ quên đi sự tồn vong
Đừng vì tiền vì danh
Đem đánh đổi ngàn năm tăm tối
Rồi lịch sử phán xét công bằng
Kẻ gian dối với ai chân thành
Mình là người Việt Nam
Mình luôn luôn sống sao cho trọn

Giờ mình cùng bên nhau
Đứng lên đi vì tự do
Dù đường dài cam go
Ta cứ đi tìm rồi sẽ có
Giọt nước mắt đổi lấy nụ cười
Giọt mồ hôi đắp xây cuộc đời
Một cuộc đời đẹp tươi
Tự do cho tất cả mọi người
Một cuộc đời đẹp tươi
Tự do… cho tất cả mọi người

985

Wednesday, September 18th 2019, 5:48pm

Con tôm độc Singapore
Michael Nguyễn
Gửi cho BBC từ Singapore

Sự kiện nhóm tàu thăm dò địa chất và tàu hải cảnh của Trung Cộng hộ vệ tiến vào vùng biển của Việt Nam (bãi Tư Chính) làm khuấy lên nỗi lo ngại về hòa bình ổn định ở biển Đông cũng như an ninh khu vực và quốc tế. Sống bên cạnh những hàng xóm "khổng lồ" cả về diện tích lẫn kinh tế, các nước nhỏ hơn nên kiên trì đường lối đối ngoại cân bằng, linh hoạt, thực dụng như của Cộng hòa Singapore để có thể bảo vệ vững chắc chủ quyền và độc lập dân tộc.

Ít ai biết rằng có một "nick name" - xú danh khác của đất nước Singapore, ngoài những cái tên mỹ miều được nhiều người biết đến như "Sư tử biển- The Merlion", " Chấm đỏ- The Little Red Dot", "Con hổ Châu Á - Asian Tiger".
Đó là "Con tôm độc - The poisonous shrimp". Xú danh này không ai khác mà do chính Thủ tướng Lý Quang Diệu đặt ra, nó phản ánh chính sách đối ngọai của nước cộng hòa này một cách rất chân thực, rất sinh động.

Trên đấu trường quốc tế, nơi mà cá lớn nuốt cá bé và cá bé tìm xơi tôm nhỏ, Singapore với diện tích chỉ 700 cây số vuông thực sự là một con tôm tí xíu.
Để sống yên bình giữa bầy cá lớn nhỏ, nó không thể là một con tôm bình thường, mà phải là con tôm có độc trong mình, đủ mạnh để bất cứ một con cá nào phải e dè và trả giá nếu cố tình xơi nó.

Nọc độc của con tôm Singapore nằm ở đâu?
Thứ nhất, đó là ở chính sách đối ngoại cân bằng. Cân bằng không có nghĩa là đu dây. Cân bằng có nghĩa là cùng tồn tại và bình đẳng với các siêu cường. Singapore quan hệ tốt với tất cả các siêu cường hiện nay là Mỹ và Trung Cộng . Nước cộng hòa này ủng hộ Mỹ cân bằng quyền lực ở Châu Á - Thái Bình Dương song cũng ủng hộ xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa Mỹ với Trung Cộng. Bằng cách này hay cách khác, Singapore xây dựng vị thế của mình trở nên có liên quan, hữu ích và giá trị kết nối với và giữa các siêu cường, giữa các nền kinh tế hay các liên minh kinh tế.
Singapore là thành viên sáng lập ra ASEAN, là nơi đặt Ban thư ký APEC và thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á, Phong trào không liên kết, Khối Thịnh vượng chung các quốc gia.
Khi một nước nhỏ nhưng có nhiều bạn tốt là siêu cường, nguy cơ bị xâm lược sẽ ít hơn. Lý Quang Diệu (1956) nói:
"Khó mà ăn cướp một người tuy yếu nhưng lại có những bạn bè khỏe mạnh sẵn sàng cho kẻ ăn hiếp một trận". ("It is difficult to rob a weaker man if he has strong friends prepared and able to give the robber a hiding").

Thứ hai, là chính sách tự cường, tự lực cánh sinh. Hơn 3% GDP hàng năm của đảo quốc này, gần 20% chi tiêu của chính phủ (khoảng 12 tỷ USD) được dành cho chi tiêu quân sự. Thực túc thì binh cường, binh cường thì quốc an. Trang bị quân đội của Singapore hiện nay được các tạp chí và chuyên gia quân sự có uy tín (Janes Defense) đánh giá là hiện đại nhất và là lực lượng vũ trang mạnh trong khu vực.
Điều đặc biệt là quân đội nước này đóng rải rác ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Lực lượng hải quân Singapore có căn cứ ở Úc, Đài Loan, không quân đồn trú ở Mỹ, Úc, tạo ra một lực lượng răn đe bên ngoài lãnh thổ cho bất cứ kẻ xâm lược nào.
Quân đội Singapore không làm kinh tế. Quân đội không có những công ty thương mại, công ty bình phong. Không trực tiếp thực hiện những hợp đồng kinh tế. Không có quyền giao đất giao cảng. Nhiệm vụ duy nhất của nó là bảo vệ tổ quốc.
Ngay từ 1968 khi xây dựng lực lượng vũ trang từ con số không, Lý Quang Diệu tuyên bố:
"Chúng ta sẽ tự bảo vệ tổ quốc. Bất cứ nước nào muốn giúp chúng ta, chúng ta sẽ nói lời cám ơn họ, nhưng xin quý vị hãy nhớ rằng chúng tôi sẽ tự bảo vệ được mình và rất rành mạch về điều này".

Thứ ba, quan trọng nhất, là chính sách thực dụng. Tổ quốc trên hết. Nước cộng hòa này không hề ảo tưởng bởi bất cứ một "mối quan hệ viển vông, lệ thuộc nào" với bất cứ cường quốc dù là Mỹ hay TQ. Khi lợi ích quốc gia có thể bị tổn hại, Singapore không ngần ngại phê phán đích danh Trung Cộng tại các diễn đàn an ninh khu vực về Biển Đông và an ninh hàng hải. Thủ tướng Singapore, ông Lý Hiển Long tuyên bố tại Trường Đảng Trung Ương Trung Cộng (là nơi đào tạo các quan chức cấp cao của ĐCS Trung Cộng ) vào năm 2012 rằng:
"Singapore tin rằng sự hiện diện tiếp tục của Mỹ đem lại an ninh và thịnh vượng trong khu vực. Mỹ có lợi ích hợp pháp và lâu dài tại Châu Á mà không quốc gia nào có được. Đó là lý do tại sao nhiều nước Châu Á - Thái Bình Dương hy vọng Mỹ tiếp tục cống hiến cho hòa bình và ổn định trong khu vực".

Tháng 4/2016 tại diễn đàn Shangrila, Singapore lại thẳng thắn chỉ trích Trung Cộng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước ASEAN, lôi kéo một số thành viên đi ngược lại đồng thuận chung của cả khối. Năm 1967, trong chuyến thăm chính thức tới Mỹ, khi được hỏi về việc liệu Singapore có cử quân đội đến giúp Mỹ trong chiến tranh Việt Nam không, Thủ tướng Lý Quang Diệu trả lời dứt khoát:
"Singapore không phải là nước chư hầu của Mỹ, không nhận viện trợ gì của Mỹ, tôi không thấy có nghĩa vụ phải đưa nước tôi vào một cuộc chiến mà sẽ kết thúc một cách thảm họa".

Cũng trong những ngày đầu lập quốc, Singapore đã bắt giữ nhân viên CIA của Mỹ, đòi tiền "chuộc" 100 triệu USD vì hoạt động gián điệp tại nước này. Năm 1990, mặc dù có đơn xin ân xá của Tổng thống Mỹ, chính quyền Singapore vẫn bắt giữ và phạt đòn một công dân Mỹ do vi phạm pháp luật Singapore. Điều này khiến quan hệ hợp tác Mỹ- Singapore bị đóng băng mất một thời gian dài, nhưng cuối cùng lập trường kiên định về chủ quyền và luật pháp quốc gia của Singapore càng được tăng thêm uy tín. Bạn bè hôm nay có thể là kẻ thù ngày mai, chỉ có quyền lợi quốc gia là vĩnh viễn.

Con tôm Singapore vừa thực dụng, vừa có nọc độc, vừa tồn tại cộng sinh với các con cá lớn, có thể là một tấm gương nho nhỏ cho một vài quốc gia trong khu vực trong những xung đột chủ quyền biển đảo. Làm một con tôm nhỏ không khó. Làm một con tôm độc cũng không khó.
Đừng xin phép lũ cá !!!

986

Wednesday, September 18th 2019, 5:50pm

Vai trò của Ấn Độ trong Thế kỷ châu Á
Biên dịch: Hoàng Tuấn Thịnh
Nghiên Cứu Quốc Tế

Do Nga và Trung Cộng trở thành đồng minh nên Hoa Kỳ cũng cần có đồng minh địa chính trị nặng ký. Mục tiêu của Hoa Kỳ không những phải vượt qua được Trung Cộng mà còn phải mạnh mẽ để vượt qua liên minh Trung Cộng – Nga.
Chỉ Ấn Độ mới có đủ cơ hội trở thành đồng minh như vậy. Cuối thế kỷ này, dân số quốc gia Nam Á này không chỉ đuổi kịp Trung Cộng mà nền kinh tế của quốc gia này luôn được coi là đang phát triển nhanh. Cuối cùng, Ấn Độ sẽ được xếp ngang hàng với các cường quốc trên thế giới, như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Cộng và Nga, dần dần sẽ trở thành trung tâm sức mạnh thứ 5 trên thế giới.

ĐỊA CHÍNH TRỊ KHU VỰC ẤN ĐỘ-THÁI BÌNH DƯƠNG
Trên thực tế, trong suốt thời kỳ chiến tranh Lạnh, Ấn Độ không thuộc về phe Hoa Kỳ và phe Liên Xô, chỉ gia nhập Phong trào không liên kết và đang nỗ lực giành lại vị thế vốn có của mình. Quốc gia này đang cố gắng có quan hệ tốt với cả Hoa Kỳ và cả Trung Cộng . Nhưng cả Bắc Kinh và Moskva đều đáp trả kế hoạch của Hoa Kỳ bằng cách đưa Ấn Độ cùng với Pakistan, quốc gia láng giềng và cũng là đối thủ vĩnh cữu của Ấn Độ, trở thành thành viên chính thức Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Trong khi cả hai nước Ấn Độ và Pakistan lại luôn có vấn đề tranh chấp trong lịch sử quan hệ.
Báo cáo về chiến lược của Hoa Kỳ thực thi tại khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, được Lầu năm góc xuất bản ngày 01 tháng trước (tháng 6) đã khẳng định Ấn Độ rất quan trọng đối với Hoa Kỳ. Kể từ đó, Lầu năm góc luôn sử dụng khái niệm khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thay cho khái niệm khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Nội dung chính của báo cáo 64 trang đã công bố khu vực từ bờ Tây của Hoa Kỳ đến bờ Tây của Ấn Độ là khu vực quan trọng nhất đối với Hoa Kỳ trong tương lai. Bởi vì, tại khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương có bảy trong 10 quân đội thường trực hùng mạnh trên thế giới. Khu vực này có 06 quốc gia có vũ khí hạt nhân. Có 9 trong 10 hải cảng nhộn nhịp nhất thế giới. Các hải cảng đó chiếm tới 60% lượng thương mại hàng hải thế giới.
Báo cáo của Lầu năm góc còn cho thấy, Trung Cộng – nhân tố định đoạt thế kỷ 21 – lại đang thành công trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự và đã trở thành đối thủ chính của Hoa Kỳ.
Nếu nói về đồng minh, báo cáo này cũng đề cập Ấn Độ đã trở thành đối tác lớn về quốc phòng của Hoa Kỳ.
HAI “G-3” TRONG MỘT “G-20”
Cuộc gặp thượng đỉnh ‘G-20” tại Nhật Bản đã trở thành sự kiện rất quan trọng. Trong cuộc cạnh tranh tiếp theo, Ấn Độ sẽ có vị thế nào đây? Nếu xác định rõ, đã có hai cuộc gặp thượng đỉnh “G-3” trong khuôn khổ cuộc gặp thượng đỉnh ở Osaka. Cuộc gặp đầu gồm có Trung Cộng , Nga và Ấn Độ; cuộc gặp thứ hai gồm có Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ. Cụ thể là Ấn Độ tham gia cả hai cuộc gặp thượng đỉnh “G-3”.
Vị thế của Ấn Độ nằm ở đâu giữa các lực lượng chiến lược lớn nhất đang được coi là một câu đố lớn.

8 users apart from you are browsing this thread:

8 guests

Similar threads