You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

1,001

Friday, October 18th 2019, 8:37pm

Nhận định:

Tập Cận Bình tự tin đối với cuộc biểu tình ở Hong Kong, cũng y như hắn vẫn tự tin về việc xâm lấn ở Bãi Tư Chính của VN. Cùng một kế sách đó thôi.

Thế nhưng:
“Đừng tin những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn thật kỹ những gì Cộng Sản làm” (lời của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu).

Hãy chờ xem cái bọn Trung Cộng nầy có chút quan tâm nào đến đám dân đen mà chúng đã từng tàn sát, nghiến thành bột, như con sâu cái kiến không?

1,002

Saturday, October 19th 2019, 5:10pm

Biểu tình Hong Kong: Carrie Lam ủng hộ cảnh sát dùng vũ lực
BBC Tiếng Việt
19/10/2019

Lãnh đạo Hong Kong Carrie Lam hôm 19/10 phát biểu ủng hộ cảnh sát dùng vũ lực trước các cuộc tuần hành chống chính phủ dự kiến diễn ra cuối tuần này, theo Reuters. Sau một tuần tương đối yên tĩnh, cuộc tuần hành lớn dự kiến diễn ra hôm Chủ Nhật 20/10 sẽ thử sức mạnh của phong trào dân chủ. Các nhà vận động dân chủ tuyên bố sẽ tiếp tục mặc dù cảnh sát nói cuộc biểu tình này là bất hợp pháp.

Trong các cuộc biểu tình trước đó, hàng ngàn người đã thách thức cảnh sát và rầm rộ xuống đường dù không được phép. Các cuộc biểu tình này thường khởi đầu ôn hòa nhưng sau đó trở nên bạo lực vào ban đêm. Tình trạng bất ổn ở Hong Kong bùng nổ sau khi lãnh đạo Hong Kong đề xuất dự luật dẫn độ vốn cho phép đưa các nghi phạm sang xét xử tại Trung Cộng đại lục, Đài Loan và Ma Cao. Vụ một thanh niên Hong Kong, Chan Tong-kai, bị buộc tội giết bạn gái ở Đài Loan trước khi chạy trốn về lại Hong Kong đã được đem ra làm ví dụ về lý do vì sao dự luật này là cần thiết.
Hôm thứ Sáu 18/10, Chan Tong-kai, người đang bị giam ở Hong Kong vì tội rửa tiền, đã viết thư cho bà Lam nói rằng anh ta muốn nộp mình cho Đài Loan liên quan đến cáo buộc giết bạn gái trước đó.

Bà Lam nói trong một cuộc phỏng vấn vào thứ Bảy 19/10 với đài truyền hình RTHK rằng đó là một sự giải thoát vì nó có thể kết thúc vụ án. Bà cũng nói rằng cảnh sát đã sử dụng vũ lực thích hợp để xử lý các cuộc biểu tình, và rằng họ phản ứng với những người biểu tình bạo lực, trong bối cảnh cảnh sát Hong Kong bị chỉ trích là đã dùng bạo lực quá mức với người biểu tình hôm 16/10/2019.

Hơn 2.600 người đã bị bắt kể từ khi các cuộc biểu tình leo thang vào tháng Sáu.
Kể từ đó, những người biểu tình đưa ra các yêu cầu vượt ra ngoài việc phản đối dự luật dẫn độ, trong bối cảnh lo ngại gia tăng rằng Bắc Kinh đang làm xói mòn các quyền tự do được đảm bảo khi Anh Quốc trao trả Hong Kong cho Trung Cộng vào năm 1997. Trung Cộng phủ nhận cáo buộc và đã đổ lỗi cho các quốc gia nước ngoài như Hoa Kỳ và Anh đã kích động tình trạng bất ổn.

Đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất tại Hong Kong kể từ khi thành phố này được trả về cho Trung Cộng, đồng thời đặt ra thách thức lớn nhất đối với Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình kể từ khi ông lên nắm quyền.

Cảnh sát đã từ chối cấp phép cho cuộc tuần hành vào Chủ Nhật vì lý do nó có thể dẫn đến bạo lực và phá hoại, vốn đã tăng lên trong những tuần gần đây khi những người biểu tình mặc trang phục giống ninja đen đã đập phá các trạm tàu điện ngầm, các ngân hàng và cửa hàng Trung Cộng.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết động thái của cảnh sát dường như nhằm mục đích ngăn cản mọi người tham dự cuộc tuần hành. Các cuộc biểu tình vào thứ Sáu đã ôn hòa hơn, người biểu tình nắm tay tạo thành một chuỗi người dọc theo mạng lưới tàu điện ngầm thành phố và đeo các mặt nạ nhân vật hoạt hình bất chấp lệnh cấm.
Bà Lam tuần này đã từ chối thẳng thừng hai trong số năm đòi hỏi cốt lõi của người biểu tình, gồm: quyền bầu cử phổ thông và ân xá cho những người bị buộc tội trong các cuộc biểu tình. Bà nói rằng đòi hỏi số một là bất hợp pháp và đòi hỏi thứ hai nằm ngoài khả năng của bà. Thay vào đó, bà đã tìm cách dập tắt cuộc khủng hoảng bằng các kế hoạch cải thiện nguồn cung nhà ở và giảm bớt áp lực chi phí sinh hoạt.

Không khí trong thành phố vẫn căng thẳng
Nhà hoạt động vì dân chủ nổi tiếng Jimmy Sham trong tuần qua đã bị đánh đập dã man bằng búa bởi bốn người đàn ông, một động thái mà các nhà lập pháp ủng hộ dân chủ cho rằng nhằm đe dọa những người biểu tình và kích động bạo lực trước buổi diễu hành đã lên kế hoạch Chủ Nhật 20/10.

Cơ quan Tiền tệ Hong Kong, ngân hàng trung ương thành phố, nói hôm thứ Bảy rằng một số máy rút tiền sẽ tạm thời ngừng hoạt động, vì lý do an ninh hoặc do lo ngại bị phá hoại.

1,003

Thursday, October 24th 2019, 6:49am

Thổ Nhĩ Kỳ : Đồng minh thất thường, kẻ thù bất khả
RFI Tiếng Việt
Minh Anh
Đăng ngày 22-10-2019

Chính quyền Ankara công khai đối đầu với Mỹ trong hợp đồng mua tên lửa S-400 của Nga và bắt đầu xích đến gần Matxcơva hơn. Bất chấp những căng thẳng, ít có khả năng Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Nguyệt san Le Monde Diplomatique số ra tháng 10/2019 giải thích vì sao:
Ông Didier Billion, phó giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS) cho rằng để hiểu được các động lực của chính sách ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ, trước tiên cần chú ý tới một trong những hằng số của chính sách này, thường được nói ngắn gọn là “Hội chứng Sèvres”. Đây là tên của Hiệp ước được ký ngày 10/08/1920 dưới áp lực của bên phe thắng cuộc trong Đệ Nhất Thế Chiến, và cũng là hiệp ước làm tan rã đế chế Ottoman.
Thuật ngữ này hàm chứa những nỗi lo hiện sinh dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc đáng lo ngại là một trong những động lực cấu thành chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ. Trong phạm vi khu vực, ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu tập trung vào vấn đề Kurdistan, với nỗi ám ảnh là phải ngăn chận mọi sự nhen nhúm bất kỳ hình thức Nhà nước hay tự trị nào.

Thất bại của chính sách “Không có vấn đề với láng giềng”
Đến đầu những năm 2000, chính sách ngoại giao của Thổ Nhĩ Kỳ có những biến đổi quan trọng. Ông Ahmet Davutoglu, một thời là cố vấn cho Recep Tayyip Erdogan (2003 -2009), từng đảm nhiệm chức vụ ngoại trưởng (2009 – 2014), và thủ tướng chính phủ (2014 - 2016) đề ra học thuyết “Không có vấn đề với láng giềng”. Chiến lược này gần như đoạn tuyệt với một nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của Ankara trong nhiều thập niên trước đó : “Người Thổ chỉ có bạn là người Thổ”. Thế rồi, môi trường địa chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ đã bị xáo trộn một cách nhanh chóng và những biến động của cuộc chiến tại Syria đã làm tiêu tan các nỗ lực này ; các nền tảng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ trở lại chiếm ưu thế.

Thế nhưng, việc Washington và Ankara bất hòa vì vụ tên lửa S-400 không phải là lần đầu tiên xẩy ra. Vụ quân đội Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm phía bắc đảo Chypre năm 1974, rồi việc Nghị Viện Thổ Nhĩ Kỳ bác đề nghị của George W. Bush cho trung chuyển 62.000 lính Mỹ qua nước này để tấn công Irak của Saddam Hussein năm 2003, cũng đã làm cho mối quan hệ giữa hai nước căng thẳng. Dù vậy, từ năm 1960 đến nay, mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ luôn luôn xem xét, đánh giá lại các mối quan hệ với thế giới bên ngoài, nhưng chưa bao giờ đi đến việc từ bỏ các liên minh truyền thống. Điều này được chứng minh qua ba sự kiện gần đây :
- Chấp thuận cho lắp đặt ra-đa cảnh báo sớm trong hệ thống lá chắn chống tên lửa của NATO tại Thổ Nhĩ Kỳ, được thông qua tại thượng đỉnh Lisboa tháng 11/2010 và được xác nhận vào tháng 9/2011 ;
- Triển khai dàn tên lửa Patriot (do Mỹ sản xuất) của NATO theo yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ tại khu vực biên giới chung với Syria vào tháng Giêng năm 2013 ;
- Cuộc họp NATO cấp đại sứ theo yêu cầu của Ankara - và được khối này triệu tập ngay lập tức – vài phút sau vụ chiến đấu cơ của Thổ Nhĩ Kỳ bắn hạ một máy bay Nga, ngày 24/11/2015.

Thổ Nhĩ Kỳ : Một đồng minh không thể thiếu
Dẫu cho việc thao túng tinh thần dân tộc chủ nghĩa trong các bất đồng với Mỹ đôi khi gây căng thẳng, Thổ Nhĩ Kỳ không có ý định đoạn tuyệt bang giao, ngược lại, Ankara còn ý thức được khả năng tiềm tàng để áp đặt mạnh mẽ các lợi ích của mình. Tác giả lưu ý, Thổ Nhĩ Kỳ có số quân đông thứ hai trong khối NATO. Nước này còn cho phép đồng minh sử dụng căn cứ quân sự Incirlik - nơi cất trữ các loại vũ khí hạt nhân. Thổ Nhĩ Kỳ hiện kiểm soát nhiều eo biển và là nước Hồi Giáo duy nhất trong số các thành viên của NATO.
Tóm lại, Thổ Nhĩ Kỳ là một tâm điểm Á – Âu thiết yếu cho chính sách khu vực của Mỹ. Trong nhãn quan của phương Tây, nhất thiết phải giữ vai trò trụ cột trên thực tế của Thổ Nhĩ Kỳ. Vì lý do này, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn sẽ ở trong NATO, cho dù đôi khi thành viên này hành xử quấy rối.

Quả thật dàn tên lửa S-400 không tương thích với các “chuẩn” của tổ chức Bắc Đại Tây Dương bởi vì theo Washington loại vũ khí này của Nga có thể được nối mạng với hệ thống vũ khí của phương Tây mà Thổ Nhĩ Kỳ đang có và như thế sẽ làm cho những vũ khí NATO trở nên dễ bị tấn công.
Tuy nhiên, theo tác giả, Ankara cũng ý thức được rằng không một quốc gia nào, cũng như không một nhóm nước nào có thể có những bảo đảm về an ninh cho Thổ Nhĩ Kỳ như Liên Minh Bắc Đại Tây Dương. Các hợp đồng vũ khí dù là dự án hay đang thảo luận với các cường quốc phương Tây, cho thấy sự đa dạng hóa các trục đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ, và quyết tâm củng cố khả năng phòng thủ của chính mình. Bởi vì, những dàn tên lửa Patriot đặt tại căn cứ Incirlik chưa đủ để bảo vệ toàn bộ vùng biên giới phía đông và phía nam Thổ Nhĩ Kỳ.
Bản thân tổng thống Mỹ Donald Trump cũng giảm thiểu tối đa trách nhiệm của Thổ Nhĩ Kỳ trong vụ mua S-400. Theo ông, lỗi này thuộc về Barack Obama, người mà ông cáo buộc đã cản trở Ankara sở hữu tên lửa Patriot.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Oct 24th 2019, 6:58am)


1,004

Thursday, October 24th 2019, 6:51am

Dù vậy, ngay từ đợt giao S-400 đầu tiên, chủ nhân Nhà Trắng đã không ngần ngại đưa ra các biện pháp trả đũa khi không cho Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục tham gia chương trình sản xuất chiến đấu cơ F-35 : gạt khỏi dây chuyền sản xuất, trục xuất phi công Thổ Nhĩ Kỳ đang trong thời gian huấn luyện về nước, cấm nước này mua các chiến đấu cơ.
Trái với lập trường này của Mỹ, tại buổi khai mạc Aspen Security Forum, tổ chức tại Colorado ngày 17/07/2019, ông Jens Stoltenberg, tổng thư ký NATO, lại lên tiếng biện hộ cho Ankara : “Vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong NATO còn quan trọng hơn những chiếc F-35 hay là S-400”.

Một trật tự thế giới mới
Thế còn quan hệ Nga – Thổ hiện nay ra sao ?
Về điểm này, chuyên gia người Pháp cho rằng tuy bang giao song phương hiện giờ có vẻ nhịp nhàng, nhưng nhiều sự kiện trong những năm gần đây cho thấy là quan hệ Ankara – Matxcơva luôn luôn trong tình trạng chấp chới, mong manh. Quả thật, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ không thể có quan hệ liên minh chiến lược nhưng cũng không thể hoàn toàn đoạn giao. Trong ngắn hạn, quan hệ Nga – Thổ sẽ được quyết định bởi sự biến đổi của cuộc xung đột Syria và kết quả đàm phán để giải quyết cuộc xung đột này. Mặt khác, mối bang giao này cũng còn tùy thuộc vào quan hệ của hai nước với Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ.

Tóm lại theo tác giả, những biến chuyển trong chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ là hệ quả của một cuộc “trường chinh” tìm kiếm bản sắc từ năm thập niên qua, cũng như những yếu tố mới kiến tạo quan hệ quốc tế. Kể từ giờ, những giá trị mà phương Tây vẫn còn xem - ít nhiều bị lẫn lộn - như là những giá trị phổ quát không thể nào được áp đặt bằng quân sự, chính trị cũng như là văn hóa.
Ngoài tính chất đa dạng, các cường quốc được cho là mới trỗi dậy, đang tự khẳng định trên trường quốc tế và làm đảo lộn các thế cân bằng cũ. Thổ Nhĩ Kỳ là một ví dụ về sự đảo lộn thế giới và tổng thống Erdogan thường xuyên bày tỏ thái độ không chấp nhận một trật tự thế giới do năm thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An khống chế. Trong buổi bế mạc phiên họp lần thứ 62 Hội đồng nghị viện của khối NATO, ngày 21/11/2016, tại Istanbul, ông Erdogan đã tuyên bố :
“Tôi kiên trì nhắc lại rằng Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc cần phải được cải tổ để đại diện tốt hơn cho thế giới ngày nay. Đây chính là những điều mà tôi muốn nói khi tôi giải thích rằng thế giới còn lớn hơn con số 5”.

Tác giả kết luận : Các đồng minh truyền thống của Thổ Nhĩ Kỳ giờ phải học cách phân biệt yếu tố tình thế - thường được đưa ra vì các lý do chính trị nội bộ - và những gì có thể trở thành yếu tố kiến tạo trong tương lai.

1,005

Thursday, October 24th 2019, 7:14am

Phớt lờ phương Tây, Thổ Nhĩ Kỳ tìm đến Nga bàn về số phận người Kurdistan
RFI Tiếng Việt
Anh Vũ
Đăng ngày 22-10-2019

Sau gần chục ngày tấn công ồ ạt vào lực lượng Kurdistan ở miền bắc Syria, Washington phải đưa một đoàn do phó tổng thống Mike Pence dẫn đầu sang Ankara để thuyết phục mới có được thỏa thuận ngừng bắn 5 ngày, cho phép lực lượng Kurdistan rút ra khỏi khu vực biên giới, tạo một hành lang an toàn cho Thổ Nhĩ Kỳ.
Tối nay, thời hạn 5 ngày Thổ Nhĩ Kỳ ngừng tấn công ở miền Bắc Syria theo thỏa thuận với Mỹ hết hiệu lực. Bất chấp mọi sự can ngăn của các đồng minh NATO, Liên Hiệp Quốc, tổng thống Erdogan, trước khi bay qua Sotchi gặp đồng nhiệm Nga Vladimir Putin, đã tỏ quyết tâm lớn truy đuổi đến cùng lực lượng Kurdistan.

Một lần nữa phương Tây lại bất lực trước Thổ Nhĩ Kỳ, đang ngày càng chứng tỏ là một đồng minh khó chịu trong NATO. Tổng thống Recep Tayyip Erdogan đã bác bỏ đề nghị kéo dài thêm lệnh ngừng bắn tại Syria mà tổng thống Pháp Emmanuel Macron bàn với tổng thống Nga trong cuộc điện đàm trước đó ít giờ. Lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn cách nói chuyện trực tiếp với ông Vladimir Putin.

Chuyến thăm Nga lần này của tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ theo lời mời của tổng thống Putin, diễn ra trong bối cảnh chiến dịch quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ có nguy cơ trở lại và Damas cùng Matxcơva đang cố gắng dàn xếp với lực lượng Kurdistan để kiểm soát lại miền bắc Syria sau khi Mỹ rút quân khỏi khu vực. Trong khi đó Ankara thì vẫn muốn khu vực này phải sạch bóng lực lượng Kurdistan, tổ chức mà Thổ Nhĩ Kỳ vẫn luôn xem là khủng bố, đe dọa an ninh quốc gia.

Tổng thống Erdogan muốn thương lượng trực tiếp với ông Vladimir Putin về số phận người Kurdistan, chứ không phải là các đồng minh trong NATO. Bởi lúc này Nga đã thực sự đang làm chủ bàn cờ chính trị quân sự đầy hỗn loạn ở Syria. Cả hai phía, Ankara và Matxcơva ít nhiều cũng có những tương đồng về lợi ích trong khu vực Trung Cận Đông. Còn các đồng minh phương Tây dưới quan điểm của tổng thống Erdogan giờ là trở ngại cho các tham vọng địa chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ.
Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ mở cuộc tấn công vào lực lượng Kurdistan ở miền bắc Syria hôm 9/10, mà NATO, Liên Hiệp Châu Âu, rồi đến Liên Hiệp Quốc đều tỏ ra bất lực không có cách nào cản được Ankara, ngoài lời kêu gọi quen thuộc là “kiềm chế”.

Theo chuyên gia Dominique David, cố vấn của Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp, lập trường của Thổ không có gì ngạc nhiên. Thổ Nhĩ Kỳ vẫn luôn là thành viên quan trọng của NATO vì lý do chiến lược. Thổ Nhĩ Kỳ là nơi có căn cứ quân sự lớn của Mỹ phục vụ có hiệu quả cho phương Tây trong chiến lược kiểm soát toàn bộ khu vực Trung Cận Đông. Nếu phải có phản ứng thì hành động NATO cũng rất hạn chế.
Còn ở Liên Hiệp Quốc, các văn kiện chính thức để lên án hay răn đe Thổ đã bị Nga và Trung Cộng, hai thành viên Hội Đồng Bảo An chặn lại. Chuyên gia Dominique David nhấn mạnh:
“ Nga một mặt không thể tán đồng chiến dịch quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ nhưng lại đang có những bước xích lại gần với Ankara , thời gian gần đây rất có lợi cho Nga.
Liên Hiệp Châu Âu thì không chỉ bất lực mà còn chia rẽ. Các nước châu Âu chỉ có thể đưa ra tuyên bố chung để mỗi nước thành viên có lập trường cứng rắn hơn trong việc bán vũ khí cho Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoại trưởng Tây Ban Nha, Jossep Borrell, thừa nhận: chúng ta không có quyền lực kỳ diệu nào. Các nước châu Âu không hội tụ được lợi ích chung, nhất là trong việc bán vũ khí. Rồi gần đây có vấn đề nhập cư ồ ạt, Thổ Nhĩ Kỳ được các nước châu Âu mặc cả để ngăn chặn làn sóng người đổ vào châu Âu. Hoàn cảnh đó đã tạo thế cho Ankara trong các cuộc đối thoại với châu Âu trong các chủ đề khác.”

Thổ Nhĩ Kỳ với vị trí chiến lược quan trọng trong vùng, đang tìm kiếm một vị thế cường quốc trong vùng, không dễ gì chịu chấp nhận sức ép từ bên ngoài, nhất là khi lợi ích riêng đã chia rẽ các quan hệ đồng minh cũng như các cường quốc. Nước Nga, dù bị phương Tây tìm cách cô lập, bây giờ có lẽ là quốc gia duy nhất có thể nói chuyện cũng như đóng vai trò trung gian được với nhiều nước về bàn cờ Trung Cận Đông.

1,006

Thursday, October 24th 2019, 9:21am

Trump bỏ chế tài Thổ Nhĩ kỳ vì đã có ngưng bắn vĩnh viễn ở Bắc Syria
VOA Tiếng Việt
24/10/2019
Reuters

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 23/10 tuyên bố cuộc ngưng bắn tại bắc Syria nay trở thành vĩnh viễn và ra lệnh gỡ bỏ các chế tài đối với Thổ Nhĩ Kỳ. Ông cũng bác bỏ những chỉ trích về quyết định rút binh sĩ Mỹ khiến đồng minh người Kurds của Hoa Kỳ bị tấn công.

Phát biểu tại Tòa Bạch Ốc, ông Trump mô tả cuộc ngưng bắn là một đột phá lớn được thương thuyết bởi phái đoàn do phó Tổng thống Mike Pence dẫn đầu. Ông Trump cho hay:
“Tôi đã ra lệnh cho Bộ trưởng Tài chánh Steven Mnuchin gỡ bỏ các chế tài, vốn áp đặt lên Thổ Nhĩ Kỳ sau khi Ankara tấn công người Kurd, trừ phi có chuyện gì xảy ra mà chúng tôi không hài lòng”.

Ông Trump nói thêm:
“Vô số sinh mạng được cứu là kết quả của những cuộc thương thuyết của chúng tôi với Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả đạt được mà không một giọt máu nào của người Mỹ đổ ra, không ai bị thương, không ai bị bắn, không ai thiệt mạng.”

Phát biểu của ông Trump không làm vô hiệu những cuộc tấn công mạnh mẽ của các nhà lập pháp Mỹ về quyết định bất ngờ của ông hồi đầu tháng rút quân ra khỏi miền đông bắc Syria mở đường cho cuộc phản công của Thổ Nhĩ Kỳ. Quốc hội Mỹ vẫn đang thảo luận về những chế tài của riêng Quốc hội để trừng phạt Thổ Nhĩ Kỳ về cuộc tấn công vượt biên giới vừa qua.
Các đồng minh người Kurd đã giúp Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Nhà nước Hồi Giáo cảm thấy bị ông Trump bỏ rơi. Chính sách của ông Trump đã mở cửa cho Nga củng cố ảnh hưởng tại Syria bằng cách đưa lực lượng vào vùng này.

Số phận của các phần tử hiếu chiến Nhà nước Hồi Giáo trong các nhà tù của người Kurd tại Syria vẫn chưa được quyết định. Một giới chức cao cấp trong chính quyền ông Trump nói với các phóng viên trong một cuộc hội thoại là dù hầu hết những chiến binh Nhà nước Hồi Giáo vẫn còn bị giam giữ nhưng dường như một số nhỏ đã trốn khỏi nhà tù. Ông nói thêm là Thổ Nhĩ Kỳ phải có trách nhiệm truy quét số tù nhân vượt ngục. Giới chức này nói:
“Chúng tôi đang theo dõi chặt chẽ tình hình những chiến binh Nhà nước Hồi Giáo”

Giới chức Mỹ cũng bày tỏ lo ngại về việc Nga điều động binh sĩ đến vùng này trong khuôn khổ một thỏa thuận với Thổ Nhĩ Kỳ.

Hiện chưa có chỉ dấu nào cho thấy các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ tấn công dân chúng địa phương như giới chỉ trích lo ngại, giới chức vừa kể cho hay. Những tranh cãi về việc Tổng thống Trump rút quân khỏi Syria đã góp phần vào bầu không khí xáo trộn tại Washington, nơi đảng Dân chủ đang tìm cách cách chức ông Trump qua việc luận tội vì ông Trump nỗ lực yêu cầu Ukraine điều tra đối thủ Dân chủ của ông là Joe Biden. Lãnh đạo khối Dân chủ thiểu số tại Thượng viện, Thượng nghị sĩ Chuck Schumer phát biểu chỉ trích ông Trump tại thượng viện:
“Ba tuần sau khi loan báo rút quân, Tổng thống dường như không có một chiến lược rõ rệt nào để đảm bảo đánh bại Nhà nước Hồi Giáo lâu dài và dọn dẹp những xáo trộn ông tạo ra tại Syria.”

Ông Trump tiếp tục chỉ trích những nỗ lực trước đây của Mỹ nhằm giữ lực lượng Mỹ tại Trung Đông. Ông nói:
“Hoa Kỳ sẽ để cho người khác chiến đấu trên vùng cát dài đẫm máu này.”

1,007

Thursday, October 24th 2019, 9:41am

Trung Cộng: Nền độc tài ở thế phòng vệ hay phản công?
VOA Tiếng Việt
23/10/2019
Ngọc Lễ

Nền độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang tìm cách tấn công vào định chế dân chủ của Hoa Kỳ hay chỉ đơn thuần là tìm cách bảo vệ mình khỏi sự sụp đổ trước sự tấn công của Mỹ và phương Tây – vấn đề này gây tranh cãi tại một buổi hội thảo mới đây ở thủ đô Washington của Mỹ.

Dưới chủ đề ‘Có phải Mỹ và Trung Cộng đang cạnh tranh về ý thức hệ’, buổi hội thảo nhằm phân định có hay không cuộc chiến ý thức hệ giữa hai siêu cường đã được tổ chức tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) hôm 21/10.
Mở đầu phiên thảo luận, ông Jude Blanchette thuộc Chương trình Freeman về Nghiên cứu Trung Cộng ở CSIS, nhìn nhận rằng ‘có sự đồng thuận ngày càng tăng ở Washington rằng Mỹ và Trung Cộng đang trong cuộc canh trạnh địa chính trị lâu dài’ nhưng trên khía cạnh ý thức hệ việc hai nước có cạnh tranh hay không vẫn là vấn đề đang gây tranh cãi.

Nền độc tài phòng ngự
Phó giáo sư Jessica Chen Weiss thuộc Đại học Cornell nói:
“Trung Cộng chỉ muốn làm cho thế giới trở thành nơi an toàn để cho phép chế độ độc đoán cùng chung sống với nền dân chủ. Mục tiêu trước hết của họ là đảm bảo duy trì sự cai trị của Đảng Cộng sản ở Trung Quốc. Lẽ dĩ nhiên Trung Cộng có những lựa chọn thay thế cho các định chế do Mỹ lãnh đạo. Họ tìm cách đấu tranh với các giá trị phổ quát để giúp cho các chế độ chuyên chế tồn tại và lớn mạnh một cách dễ dàng hơn.”

Bà Weiss nói rằng sẽ là sai lầm nếu nhìn vào xu thế chuyên chế của Trung Cộng ở trong nước và sức ảnh hưởng càng tăng của họ trên thế giới để kết luận rằng quốc gia này là mối đe dọa sống còn. Dẫn chứng mà bà đưa ra là kể từ sau thời Mao Trạch Đông đến nay Bắc Kinh chưa hề tìm cách xuất khẩu cách mạng hay lật đổ các nền dân chủ.
Bà nhắc đến việc Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình hơn tất cả các lãnh đạo nào khác trước đây của Trung Cộng đã tự hào xem Trung Cộng là mô hình cho các nước khác học tập nhưng đồng thời ông cũng lưu ý rằng Trung Cộng sẽ không xuất khẩu mô hình này hay yêu cầu các nước khác bắt chước họ. Bà nói:
“Cho dù chúng ta có tin vào giọng điệu này hay không, tôi cho rằng rất khó để các nước khác học theo mô hình kinh tế và chính trị của Trung Cộng”.

Theo kiến giải của bà thì việc ông Tập thúc đẩy mô hình Trung Cộng như vậy là vì ông muốn phản công lại suy nghĩ cho là cuối cùng nhân loại sẽ hội tụ về con đường dân chủ và rằng dân chủ là cần thiết để phát triển và hiện đại hóa các định chế quốc tế.

Một dẫn chứng khác mà bà Weiss đưa ra là mặc dù Bắc Kinh tìm cách che chở cho các quốc gia độc tài trước sức ép quốc tế nhưng không phải lúc nào cũng vậy, chẳng hạn như họ đã bỏ phiếu ủng hộ trừng phạt Syria hay tuân theo các nghị quyết trừng phạt quốc tế miễn là chúng không đe dọa thay đổi chế độ. Ngoài ra, việc Bắc Kinh xuất khẩu các công nghệ giám sát và kiểm duyệt của họ dù có giúp cho các chế độ chuyên chế tăng cường kiểm soát người dân của họ nhưng đó không phải là nỗ lực khiến các nước đi theo con đường của Trung Cộng.

Đề cập đến những nỗ lực gần đây của Bắc Kinh nhằm bóp nghẹt tiếng nói bất đồng ở phạm vi thế giới (chẳng hạn như việc Bắc Kinh có biện pháp trừng phạt một lãnh đạo giải bóng rổ NBA của Mỹ có phát biểu ủng hộ cuộc biểu tình ở Hong Kong) vốn đã làm xói món quyền tự do ngôn luận và các giá trị tự do bên ngoài Trung Cộng, bà Weiss cho rằng điều này không phải là nỗ lực nhằm phá hoại dân chủ và lan truyền nền cai trị chuyên chế trên toàn thế giới mà xuất phát từ mong muốn duy trì sự cai trị của Đảng Cộng sản ở trong nước. Do đó, bà cho rằng không có cuộc “Chiến tranh Lạnh mới giữa Mỹ và Trung Cộng trên lĩnh vực ý thức hệ”. Bà nói:
“Ngoài ra, việc định hình cuộc tranh chấp Mỹ-Trung theo quan điểm ý thức hệ sẽ bỏ qua nguồn gốc thật sự của ảnh hưởng quốc tế của Trung Cộng: đó là nền kinh tế và sức mạnh kỹ thuật ngày càng lớn mạnh. Tuy nhiên, nỗ lực phòng ngự này của Trung Cộng đe dọa các giá trị dân chủ ở các nước phương Tây, nhưng đó chỉ là hậu quả của hành động chứ không phải là dụng ý của các lãnh đạo Trung Cộng.
Tôi nghĩ rằng chúng ta nên làm việc cùng với Trung Cộng và đàm phán một hiểu biết chung về điều gì là nỗ lực có thể chấp nhận được để bảo vệ quyền cai trị của Đảng Cộng sản Trung Cộng mà ít nhất chúng ta có thể dung chấp và điều gì là sự can thiệp không thể chấp nhận vào công việc nội bộ của nước khác. Nếu Trung Cộng cố tình hủy hoại nền dân chủ hay lan truyền chủ nghĩa độc tài thì việc kiềm chế là phù hợp. Nhưng một chiến lược nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Trung Cộng ở bất cứ nơi nào trên thế giới là sai lầm và nguy hiểm. Không chỉ vì Mỹ không được trang bị đủ để chiến thắng trong cuộc chiến kiểu “theo ta hay theo nó” với Trung Cộng mà nguy hiểm hơn nó sẽ đe dọa tính chất mở của xã hội Mỹ và các nguyên tắc tự do mà Mỹ chủ xướng. Do đó, cách tốt nhất để đương đầu với Trung Cộng là Mỹ và các nước phương Tây phải bảo vệ và khôi phục nền dân chủ ở nước mình để làm tấm gương cho các nước khác noi theo.”

Ngoài ra, theo bà, Mỹ nên tái cam kết trở lại với các định chế đa phương và các đồng minh để có nỗ lực phối hợp trong việc đối phó Trung Cộng và ngăn chặn những cách hành xử tệ hại của nước này. Bên cạnh đó, Washington cũng cần làm việc với Trung Cộng trên những hồ sơ mà sự tham gia của Bắc Kinh là hết sức quan trọng như biến đổi khí hậu hoặc trên những vấn đề không đi ngược lại các nguyên tắc dân chủ. Đồng thời, Mỹ và các nước nên cùng hợp tác để kiềm chế những ảnh hưởng tệ hại của Đảng Cộng sản Trung Cộng cho dù đó là xuất khẩu kiểm duyệt hay hưởng lợi không công bằng từ các hiệp định thương mại
.

1,008

Thursday, October 24th 2019, 9:55am

Học thuyết Lenin
Không đồng ý với cách phân tích này, ông Dan Tobin, Khoa nghiên cứu Trung Cộng, Đại học Tình báo Quốc gia, cho rằng cuộc canh tranh ý thức hệ mới chính là nguồn gốc của sự mất tin tưởng giữa hai nước chứ không phải là nỗi sợ về cường quốc mới nổi sẽ soán ngôi cường quốc hiện trạng (bẫy Thucydides).

Ông dẫn chứng là Ấn Độ cũng là cường quốc mới nổi như Trung Cộng nhưng đối với Hoa Kỳ không đặt ra mối đe dọa như Trung Cộng. Tuy nhiên, ông Tobin cũng lưu ý rằng mặc dù có sự cạnh tranh ý thức hệ nhưng đó không phải là cuộc xung đột giữa các nền văn minh hay Mỹ xung đột với văn hóa Trung Hoa hay người dân Trung Cộng mà là xung đột với Đảng Cộng sản Trung Cộng.
Ông chỉ ra hệ tư tưởng Lenin và sự pha trộn giữa học thuyết này với chủ nghĩa dân tộc của Trung Cộng là động lực cho tham vọng toàn cầu của Trung Cộng và đặt nước này vào thế đối đầu với Mỹ. Ông nói rõ đó chính là một phiên bản của chủ nghĩa Lenin:
“Chúng ta không ở trong cuộc đối đầu nói chung giữa độc tài và dân chủ mà cụ thể là cuộc đối đầu với hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc vốn kể từ giữa những năm 1980 đã được gọi là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Cộng”

Ông giải thích chủ nghĩa Lenin cho rằng sự nghèo khổ lạc hậu của một nước là do chủ nghĩa đế quốc và sự bóc lột của tư bản nước ngoài và chỉ có Đảng Cộng sản với chuyên chính vô sản mới giúp chuyển hóa quốc gia lạc hậu thành một nước hiện đại. Ông cũng phản bác quan điểm cho răng ngày nay Đảng Cộng sản Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa Lenin và thay vào đó là chủ nghĩa dân tộc và tính chính danh về kinh tế. Ông nói:
“Một nhà nước Leninist mạnh mẽ luôn là giải pháp duy nhất đối với sự yếu ớt của Trung Cộng trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20. Đó là lập luận mà Đảng nói kể từ thời của Mao cho đến thời của Tập. Đảng cho rằng nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản không thể cứu được Trung Cộng. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giúp Trung Cộng phát triển. Ngay cả trong những thời kỳ đen tối nhất như giữa đống đổ nát của những chính sách kinh tế thất bại của Mao Trạch Đông, các lãnh đạo Đảng Trung Cộng vẫn dứt khoát cho rằng cuối cùng họ cũng sẽ chứng tỏ sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Giờ đây, dưới thời kỳ Tập Cận Bình, Đảng nói rằng việc Trung Cộng vươn đến vị thế đệ nhị cường quốc để chứng tỏ được chủ nghĩa xã hội trên trường quốc tế và do đó Trung Cộng nên có một vị trí lãnh đạo vì đã tìm ra con đường thay thế cho con đường của phương Tây. Điều này có nghĩa là tham vọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ là phòng vệ để làm cho thế giới an toàn hơn cho chế độ chuyên chế mà còn là biến Trung Cộng thành lãnh đạo thế giới dựa trên những thành tựu của chế độ của họ”.

Ông cũng cho rằng những lời phủ nhận của lãnh đạo Trung Cộng rằng họ không tìm cách xuất khẩu mô hình của họ là không đáng tin vì lý luận của việc thúc đẩy mô hình Trung Cộng phát xuất trực tiếp từ tham vọng nhất quán của Trung Cộng là có đóng góp lớn hơn cho sự phát triển của nhân loại dựa trên cơ sở của chủ nghĩa xã hội. Do đó, ông cho rằng mục tiêu của Trung Cộng là trở thành nước lãnh đạo toàn cầu vào giữa thế kỷ này là để cho thấy mô hình quản trị Leninist là có ảnh hưởng hơn mô hình phương Tây. Ông lập luận:
“Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh cạnh tranh để chiến thắng chứ không phải để sinh tồn,” .
Ông Tobin cũng nhấn mạnh sự đối lập giữa tư tưởng Lenin và các giá trị của phương Tây:
“Chúng ta xem con người là mục tiêu và chúng ta tin rằng tự do là đáng để ưu tiên ngay cả khi tự do đó khiến cho các quyết định chính trị trở nên khó khăn hơn và phí tổn nhiều hơn và có khi đi ngược lại lợi ích của tập thể. Ngược lại chủ nghĩa Lenin xem con người là phương tiện để đạt được những mục tiêu xã hội chung.
Vì lẽ đó mà Bắc Kinh xem nhân quyền, trong đó có các quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do hội họp, cần phải bị bóp nghẹt vì lợi ích của an ninh và phát triển. Thay vào đó, họ cho rằng mô hình chính trị xã hội cần phải được phán xét dựa trên thành quả kinh tế. ”

1,009

Thursday, October 24th 2019, 10:13am

Lăng kính ý thức hệ
Cũng đồng ý là có cuộc cạnh tranh ý thức hệ giữa Mỹ và Trung Cộng, ông Toshi Yoshihara, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Đánh giá Ngân sách và Chiến lược, giải thích:
“Đảng Cộng sản Trung Quốc nhìn thế giới qua lăng kính ý thức hệ và cho rằng họ đang trong cuộc chiến ý thức hệ với phương Tây. Đảng Cộng sản Trung Quốc cảm nhận mối đe dọa ý thức hệ đến từ Mỹ và phương Tây và họ đã tiến ra toàn cầu trong nỗ lực chống lại thách thức ý thức hệ này”.

Những dẫn chứng ông đưa ra để chứng minh cho lập luận này là những văn bản của Bộ Công tác Chiến tuyến Thống nhất Trung ương (United Front Work Department – UFWD), một cơ quan của Đảng nhằm lôi kéo người dân và nhân sỹ ngoài Đảng ủng hộ Đảng Cộng sản. Một văn bản của cơ quan này mà ông trích dẫn nêu lên nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô bản chất là về tư tưởng:
“Nguyên nhân gốc rẽ là sự thiếu kỷ luật trong Đảng khiến cho người dân mất lòng tin”

Ông trích dẫn văn bản này và giải thích rằng bài học rút ra từ việc này là sự thỏa mãn về tư tưởng là yếu tố chết người đối với sự sống còn của Đảng. Nói cách khác, một khi Đảng không thể xây dựng được sự tin tưởng vào hệ tư tưởng thì người dân sẽ mất lòng tin và Đảng sẽ sụp đổ”.

Ông giải thích rằng:
“Kể từ khi Trung Cộng mở cửa và tăng cường tiếp xúc với phương Tây, họ lại gặp thêm mối đe dọa về ý thức hệ từ bên ngoài. Sự tiếp xúc với phương Tây đã dẫn đến sự đa dạng hóa các luồng tư tưởng trong xã hội Trung Cộng và điều này đã đẩy nhanh sự lan rộng của những ý tưởng nguy hiểm về mặt chính trị.”

Ông dẫn một văn bản khác của UFWD cho rằng:
“Thế giới ngày nay có cuộc chiến không thuốc súng trong lĩnh vực tư tưởng ở khắp mọi nơi và rằng Mỹ và phương Tây tìm cách thực thi những lợi ích chiến lược toàn cầu của học dưới ngọn cờ dân chủ, tự do và nhân quyền và đối với Trung Cộng thì cố gắng xâm nhập và cản trở chúng ta và lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Cũng theo cơ quan này, mô hình phương Tây đang suy sụp với hiệu quả giảm và thất bại trong hoạt động đã cho thấy trần trụi những bất lợi và hạn chế của hệ thống chính trị phương Tây. Do đó, mô hình của Trung Cộng về cơ bản ưu việt hơn mô hình phương Tây và thích hợp hơn với hoàn cảnh và sự phát triển lịch sử của Trung Cộng.
Chính vì vậy mà cơ quan này xem những giá trị của phương Tây là nọc độc tư tưởng’ và những người tiếp xúc với văn hóa phương Tây như người dân ở các vùng lãnh thổ Hong Kong, Macau hay Đài Loan là truyền bá nọc độc.
Ngoài ra, các sinh viên Trung Cộng du học ở các nước phương Tây bên cạnh là nguồn vốn trí thức cho đất nước còn bị cơ quan này xem là có thể du nhập những tư tưởng nguy hiểm của phương Tây vào trong nước nên Đảng cần có chiến dịch gây ảnh hưởng lên thành phần này.
Ông phân tích:
“Vì những đe dọa đó về mặt tư tưởng nên cách phòng vệ tốt nhất của Đảng Cộng sản Trung Cộng là phản công ở mặt trận bên ngoài. Sở dĩ Trung Cộng có thái độ như vậy là vì có những nhân tố bên ngoài tìm cách lật đổ họ, trong đó có các nước phương Tây vốn không hoàn toàn chấp nhận tính chính danh của chế độ chuyên chế.”
Do đó, ông đề nghị rằng Mỹ nên chấp nhận điều đó mặc dù về cơ bản Mỹ không thoải mái với bản chất của chế độ Trung Cộng và rằng chiến lược can dự của Mỹ với Trung Cộng, chứ không phải đối đầu, sẽ dẫn đến sự tự do hóa ở Trung Cộng.

1,010

Monday, October 28th 2019, 6:10pm

Vụ 39 người chết: Nỗi đau tột cùng của những gia đình Việt Nam
BBC Tiếng Việt
Jonathan Head
Phóng viên Đông Nam Á
28 tháng 10 2019

Từ lâu nay, buôn người đã là một vấn đề nghiêm trọng, thường liên quan đến phụ nữ và trẻ em. Bất chấp tất cả, khoản tiền khổng lồ kiếm được từ việc buôn người khiến nó trở thành một ngành kinh doanh béo bở và đang tiếp tục phát triển mạnh ở Việt Nam.
Anh quốc dường như là một điểm đến rất được ưa thích. Một số người khác làm việc một thời gian ở Nga hoặc Romania nói rằng, ở đó rất khó tìm được việc làm lương cao.
Họ cũng mô tả là phải vất vả như thế nào ở Pháp do cảnh sát liên tục truy quét vì tình trạng cư trú và lao động bất hợp pháp. Nhưng ở Anh, đã hình thành một cộng đồng người Việt khá lớn, thêm vào đó, có nhiều việc như làm ở các tiệm nail (làm móng), làm trong nhà hàng hoặc làm nghề nông nghiệp.
Kẻ môi giới đưa họ ra nước ngoài là một phần trong thế giới ngầm của một mạng lưới toàn cầu. Những kẻ này đã thu của họ một khoản tiền rất lớn để đưa người qua biên giới một cách bất hợp pháp. Họ phải trả những số tiền khác nhau, dao động từ khoảng 10 ngàn bảng đến hơn 30 ngàn bảng. Số tiền cao hơn được cho là dành cho "dịch vụ VIP."
Nhiều người trong số họ ra khỏi Việt Nam qua ngả Trung Quốc. Nhưng khi đến English Channel (eo biển Manche), cho dù mức phí là bao nhiêu chăng nữa, thì con đường duy nhất vào Anh vẫn là phải trốn vào các container, để tìm cách vượt biên lậu. Nhiều người cho rằng, rất nhiều trong số các nạn nhân trên chiếc container định mệnh ấy đến từ cùng một huyện - huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

1,011

Tuesday, October 29th 2019, 1:04am

Nhận định:

Đang định viết vài dòng bình luận các ý kiến của các học giả về Trung Cộng, nhưng NP không thể nào viết nổi, khi đọc tin về thảm trạng buôn người nầy.

Ở vào cái tuổi mà người đời bảo rằng: “tuổi già hạt lệ như sương” mà NP vẫn đau đớn rơi lệ khóc thương cho những cháu con Việt Nam khốn khổ nầy. Đối với NP đây không phải chỉ là nổi đau tột cùng của những gia đình của 39 nạn nhân, mà nó là nổi đau tột cùng của dân tộc Việt Nam. NP đau đớn khóc thương cho họ và cảm thấy nổi đau quặn thắt của gia đình họ. NP cũng cảm thấy bi thương uất hận như các cha mẹ của họ vì đã bất lực không thể làm gì để cứu giúp được những thanh niên thiếu nữ đáng thương nầy.

Nguyện xin Thiên Chúa mở lòng từ ái mà đón linh hồn của các cháu vào nước thiên đàng. NP xin kính cẩn cuối đầu chia sẻ tang thương thảm họa nầy.

1,012

Thursday, October 31st 2019, 7:31pm

Ông Pompeo nói: Mỹ phải thách thức Đảng Cộng sản TC
BBC Tiếng Việt
31 tháng 10 2019

Theo Reuters, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Mike Pompeo hôm 31/10 lại dấn thêm một bước trong các phát biểu gần đây vốn đã gay gắt của Hoa Kỳ nhắm vào Đảng Cộng sản cầm quyền Trung Cộng, rằng họ tập trung vào việc thống trị quốc tế và cần phải bị thách thức.
Phát biểu của ông Pompeo được đưa ra ngay cả khi chính quyền Trump cho biết họ vẫn dự kiến sẽ ký kết giai đoạn thỏa thuận đầu tiên để chấm dứt cuộc chiến thương mại với Bắc Kinh vào tháng tới, bất chấp việc Chile rút khỏi vị trí chủ nhà hội nghị APEC - nơi các quan chức Mỹ hy vọng sẽ diễn ra lễ ký kết.

Lặp lại bài phát biểu tuần trước của Phó Tổng thống Hoa Kỳ Mike Pence chỉ trích Trung Cộng về nhân quyền, thương mại và chiến thuật mở rộng ảnh hưởng toàn cầu, ông Pompeo trong buổi tiệc tối tại Viện Hudson ở New York nói rằng Hoa Kỳ từ lâu đã trân trọng tình bạn với người dân Trung Cộng, nhưng nói thêm:
"Chính phủ Cộng sản ở Trung Cộng ngày nay không giống với người dân Trung Hoa. Họ đang tiếp cận và sử dụng các phương pháp thách thức toàn bộ Hoa Kỳ, thế giới và chúng ta, và tất cả chúng ta cần phải đối đầu với những thách thức này. Sẽ không thực tế nếu bỏ qua những khác biệt cơ bản giữa hai hệ thống của chúng ta và tác động của sự khác biệt trong các hệ thống đó đối với an ninh quốc gia Mỹ. Ngày nay, chúng ta cuối cùng cũng nhận ra Đảng Cộng sản thực sự có thái độ thù nghịch với Hoa Kỳ và các giá trị của chúng ta tới mức độ nào ... và chúng ta có thể nhận ra điều này nhờ sự lãnh đạo của Tổng thống Trump".

Ông nói rằng Tổng thống Donald Trump, người đang có kế hoạch ra tranh cử vào năm tới, đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về Trung Cộng ngay từ ngày đầu cầm quyền.
Ông Pompeo cho biết ông sẽ có một loạt các bài phát biểu trong những tháng tới về các ý thức hệ và giá trị cạnh tranh, bao gồm các phát biểu về chiến dịch ảnh hưởng toàn cầu của các cơ quan tình báo của Đảng Cộng sản Trung Cộng và các hoạt động kinh tế không công bằng và ăn cướp của Bắc Kinh. Ông nói:
"Đảng Cộng sản Trung Cộng là một Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin tập trung vào đấu tranh và thống trị quốc tế - chúng ta chỉ cần lắng nghe những gì các nhà lãnh đạo của họ nói".

Ông Pompeo cho biết ông cũng sẽ nói về việc xây dựng năng lực quân sự của Trung Cộng vượt xa những gì nước này cần để tự vệ. Ông Pompeo nói rằng Hoa Kỳ không tìm kiếm sự đối đầu với Trung Cộng và muốn thấy một hệ thống thị trường cạnh tranh, minh bạch, có lợi cho cả hai bên. Ông nói rằng những bước đầu tiên để đạt được điều này có thể được nhìn thấy trong giai đoạn một của thỏa thuận thương mại, gần như đã được ký kết. Ông nói:
"Tôi rất lạc quan rằng chúng ta sẽ đạt được điều đó. Đó là một điều tốt, một nơi mà chúng ta có thể làm việc cùng nha. Tôi nghĩ điều này sẽ cho thấy chúng ta có thể đạt tới một điểm chung".

Hôm thứ Ba 29/10, đại sứ Trung Cộng tại Liên Hiệp Quốc đã phản ứng lại việc Mỹ chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Bắc Kinh, nói rằng điều này không có lợi cho các cuộc đàm phán thương mại giữa Bắc Kinh và Washington.

1,013

Saturday, November 2nd 2019, 6:00am

Trung Cộng phản đối Mỹ triển khai tên lửa tầm trung ở châu Á
VOA Tiếng Việt
(ECNS, SCMP)
01/11/2019

Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Cộng Ngô Khiêm (Wu Qian) nói hôm thứ Năm 31/10 rằng Trung Cộng kiên quyết phản đối việc Mỹ triển khai tên lửa tầm trung ở châu Á và nói rằng Washington đang cố gắng quân sự hóa Biển Đông.
Ông Ngô phát biểu rằng Trung Cộng sẽ không khoanh tay ngồi nhìn nếu Hoa Kỳ thực hiện động thái đó và kêu gọi Hoa Kỳ thể hiện thái độ có trách nhiệm và hành động một cách thận trọng.
Sau khi Hoa Kỳ chính thức rút khỏi Hiệp ước về Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) với Nga vào tháng 8, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper nói rằng ông ủng hộ việc bố trí tương đối sớm các tên lửa tầm trung phóng từ mặt đất ở châu Á.
Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, David Stilwell, tại một diễn đàn ở Malaysia hối thúc các nước Đông Nam Á hãy mạnh mẽ đứng lên chống hành động của Trung Cộng trong Biển Đông. Bắc Kinh khẳng định chủ quyền ở vùng biển này bằng cách xây 6 đảo nhân tạo có cả phi đạo dành cho máy bay quân sự, hệ thống phòng thủ tên lửa và các tiền đồn.

1,014

Saturday, November 2nd 2019, 6:36am

Dự án Kênh đào Kra của Thái Lan: Lịch sử, hiện trạng và triển vọng
Nguồn: Ian Storey, “Thailand’s Perennial Kra Canal Project: Pros, Cons and Potential Game Changers”, ISEAS Perspective, 24/09/2019.
Biên dịch: Trần Mẫn Linh |
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Giới thiệu
Ít có dự án xây dựng lớn nào nằm trên bảng vẽ lâu như kênh đào Kra của Thái Lan. Ý tưởng xây dựng một tuyến đường thủy qua Eo đất Kra ở vùng Thượng Nam đất nước để nối Vịnh Thái Lan với biển Andaman – từ đó nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương – được đề xuất lần đầu cách đây hơn 300 năm. Kể từ đó, dự án đã được tái sinh nhiều lần, dẫn đến một loạt các cuộc khảo sát kỹ thuật và nghiên cứu khả thi đắt đỏ, trước khi lặng lẽ bị hủy bỏ.
Những lập luận ủng hộ và phản đối kênh đào Kra đã tồn tại và được lặp đi lặp lại từ lâu.
Những người ủng hộ kênh đào chỉ ra các lợi ích kinh tế và chiến lược mà Thái Lan sẽ nhận được. Họ lập luận rằng việc xây dựng kênh đào dài 100 km và cơ sở hạ tầng công nghiệp liên quan như cảng, nhà máy sản xuất và nhà máy lọc dầu, sẽ tạo công ăn việc làm cho hàng chục nghìn công nhân Thái Lan, kích thích nền kinh tế (đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái), và về lâu dài sẽ tạo ra doanh thu từ hoạt động thu phí quá cảnh. Về mặt quân sự, kênh đào sẽ cho phép hải quân Thái Lan di chuyển tàu nhanh chóng từ bờ biển phía bên này sang bờ bên kia trong lúc nguy cấp. Không chỉ vậy, kênh đào Kra còn mở ra một tuyến đường nhanh và tiết kiệm hơn giữa Ấn Độ Dương và Biển Đông, từ đó đưa đến một giải pháp thay thế khả thi cho Eo biển Malacca ngày càng quá tải và “bị quấy phá bởi hải tặc”.
Những người chỉ trích kênh đào vẫn cảm thấy không thuyết phục. Họ chủ yếu cho rằng kênh đào Kra không khả thi về mặt thương mại: chi phí xây dựng khổng lồ không thể lấy lại được từ phí quá cảnh bởi các công ty vận chuyển sẽ không sẵn lòng chịu thêm chi phí chỉ để tiết kiệm hai hoặc ba ngày đường (đặc biệt là vào thời điểm giá dầu thấp). Trường hợp này khá khác với trường hợp của kênh đào Suez và Panama, khi hai kênh đào này giúp tàu thuyền tiết kiệm được hàng tuần đi biển. Về mặt lợi ích chiến lược, các nhà phê bình cho rằng Thái Lan không phải đối mặt với mối đe dọa nào từ các nước láng giềng, một kênh đào sẽ chia cắt đất nước thành hai nửa và do đó tiếp thêm động lực cho những kẻ ly khai ở miền Hạ Nam, đồng thời quyền sở hữu và vận hành tuyến đường thủy chắc chắn sẽ bị cuốn vào cuộc đua quyền lực của các nước lớn.
Kể từ cuộc đảo chính năm 2014, đề xuất xây dựng kênh đào Kra lại xuất hiện trở lại. Lần này, những người bảo vệ dự án cho rằng tình thế đang ngả về hướng ủng hộ kênh đào vì ba lý do chính. Thứ nhất, Thái Lan có một vị vua mới và nhà vua cần củng cố di sản của mình. Thứ hai, Trung Quốc hứng thú với việc đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng khu vực như kênh đào Kra trong khuôn khổ Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI). Và thứ ba, chính phủ Thái Lan đã ban hành một chiến lược phát triển quốc gia cho hai thập niên tới, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến kết nối toàn cầu.
Sau phần tổng quan vắn tắt về lịch sử của tuyến đường thủy được đề xuất, bài luận này sẽ đánh giá các nhân tố có khả năng thay đổi cuộc chơi và kết luận rằng chúng không thúc đẩy được triển vọng của kênh đào là bao.
Lịch sử ba trăm năm
Mặc dù việc xây dựng kênh đào Kra được cân nhắc lần đầu vào năm 1677, và một lần nữa vào năm 1793, nhưng phải đến thế kỷ 19 bản đề xuất này mới nhận được sự quan tâm nghiêm túc. Tuy nhiên, sự quan tâm này không chỉ đến từ Thái Lan, mà còn từ các cường quốc thuộc địa đối địch là Anh và Pháp.
Giữa thế kỷ 19, người Anh đã nghiên cứu tính khả thi của việc xây dựng tuyến đường sắt hay kênh đào qua Eo đất Kra để tạo thuận lợi cho thương mại giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Các kỹ sư người Anh đã tiến hành các cuộc khảo sát vào năm 1843, 1849, 1863 và 1872. Họ kết luận rằng, dù việc thi công một tuyến đường sắt hay kênh đào khả thi về mặt kỹ thuật nhưng chi phí bỏ ra sẽ vô cùng cao. Người Pháp thì lại có những suy nghĩ khác. Năm 1883, Bá tước Bertrand-Francois Mahé de La Bourdonnais, một sĩ quan hải quân Pháp và quản trị viên tại Công ty Đông Ấn Pháp đã ủng hộ một kênh đào Kra với mục tiêu thúc đẩy lợi ích thương mại của Pháp ở Đông Dương. Bourdonnais dự tính rằng một khi kênh đào được hoàn thành, một Sài Gòn do Pháp kiểm soát sẽ vượt qua một Singapore do Anh điều hành để trở thành khu cảng quan trọng nhất Đông Nam Á. Nhằm bảo vệ lợi ích thương mại của mình trên Bán đảo Malay, Anh đã phản đối kênh đào và buộc các quốc vương và chính phủ Thái Lan liên tiếp bác bỏ đề nghị của Pháp. Hai lần vào năm 1897 và 1946, Anh đã buộc Xiêm ký các thỏa thuận mà trong đó đồng ý không cho phép xây dựng một kênh đào liên đại dương.

1,015

Saturday, November 2nd 2019, 6:38am

Mãi đến đầu những năm 1970, dự án kênh đào mới được xem xét lại. Năm 1972, một nhà công nghiệp người Thái gốc Hoa, K.Y. Chow, đã thuyết phục chính phủ Thái Lan xem xét dự án này. Cũng như các đề xuất trước đây, Chow lập luận rằng mặc dù chi phí xây dựng sẽ đắt đỏ nhưng cuối cùng kênh đào sẽ thu về lợi nhuận từ các hoạt động cảng, phí quá cảnh và phí trung chuyển. Chow đã tài trợ cho một nghiên cứu khả thi trị giá 400.000 USD được thực hiện bởi công ty tư vấn Tippetts-Abbett-McCarthy-Stratton (TAMS) của Hoa Kỳ. Trong số chín tuyến đường khả thi được khảo sát, TAMS đề xuất Tuyến 5A: tuyến kênh một chiều dài 102 km từ bờ biển phía tây Satun đến Songkhla ở phía đông. TAMS ước tính sẽ mất 12 năm để xây dựng kênh đào với chi phí 5,6 tỷ USD; hoặc mười năm và 3,5 tỷ USD nếu công việc phá đá sử dụng thiết bị nổ hạt nhân loại nhỏ. Tuy nhiên, ngay sau khi TAMS đệ trình báo cáo lên chính phủ Thái Lan, cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu và dự án bị hoãn lại. Trong suốt những năm 1970 và 1980, Nhật Bản thỉnh thoảng lại bày tỏ quan tâm đến việc tài trợ xây dựng kênh đào Kra. Dầu mỏ nhập khẩu của Nhật Bản từ Trung Đông phụ thuộc rất nhiều vào Eo biển Malacca, và vào đầu những năm 1970, Tokyo trở nên lo ngại khi Indonesia và Malaysia đề xuất đưa ra các hạn chế đối với quy mô tàu chở dầu đi qua eo biển này. Vào giữa những năm 1980, Viện nghiên cứu Mitsubishi Nhật Bản đã xem xét lại các khuyến nghị của TAMS (bao gồm cả nổ phá đá bằng hạt nhân) nhưng không có tiến triển nào sau đó.
Đầu những năm 2000, trong nhiệm kỳ thủ tướng của Thaksin Shinawatra, kênh đào Kra đã xuất hiện trở lại trong chương trình nghị sự quốc gia của Thái Lan. Sáng kiến này được dẫn đầu bởi Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng Chavalit Yongchaiyudh, một vị tướng đã nghỉ hưu của Quân đội Hoàng gia Thái Lan. Chavalit cũng ủng hộ kênh Kra bởi khả năng tạo ra hàng nghìn việc làm và tự chi trả trong một khoảng thời gian ngắn. Theo Chavalit – đối tác của quân đội Trung Quốc trong Khủng hoảng Campuchia những năm 1980 – Trung Quốc là một trong các quốc gia Đông Á quan tâm đến việc tài trợ cho kênh đào. Một nghiên cứu khả thi khác đã được triển khai, nhưng dự án đã đổ bể trong vòng vài năm giữa những cáo buộc về quản lý tài chính và tham nhũng. Năm 2005, Thaksin đề xuất xây dựng một đường ống dẫn dầu qua eo đất Kra như một phương án thay thế rẻ hơn cho kênh đào. Dự án đã kết thúc khi Thaksin bị quân đội lật đổ năm 2006.
Kênh đào Kra giai đoạn sau Đảo chính 2014
Kể từ cuộc đảo chính quân sự năm 2014, kênh đào Kra một lần nữa bước vào cuộc tranh luận chính sách quốc gia. Có hai phe ủng hộ chính: Hiệp hội Kinh tế và Văn hóa Thái Lan-Trung Quốc (TCCEA) và Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Kênh đào Thái Lan (TCASD).
Năm 2015, TCCEA đã kêu gọi chính quyền quân sự ủng hộ xây dựng kênh đào Kra bằng cách sử dụng Tuyến 5A của TAMS. Theo phó giám đốc của hiệp hội, Pakdee Tanapura, dự án sẽ tiêu tốn 20 tỷ USD và mất tám năm để hoàn thành.
Trong một sự kiện cùng năm dù dường như không liên quan, có thông tin cho rằng hai đơn vị là Tập đoàn Liên hiệp Châu Á của Thái Lan (AUG), điều hành bởi cựu Thủ tướng Chavalit, và Công ty Đầu tư và Phát triển Hạ tầng Kra Trung Quốc-Thái Lan đặt tại Trung Quốc (CTKIID) đã ký một bản ghi nhớ (MOU) về xây dựng một kênh đào qua Eo đất Kra. Tuy nhiên, cả chính phủ Thái Lan và Trung Quốc đều tuyên bố mạnh mẽ không liên quan gì tới MOU này, trong khi Chavalit phủ nhận mọi liên hệ với AUG. Không ai còn nghe đến MOU, AUG và CTKIID kể từ đó.
Năm 2017, một nhóm doanh nhân và sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu đã thành lập TCASD để ủng hộ việc xây dựng kênh đào (mà họ thích gọi là “Kênh đào Thái” hơn là kênh đào Kra). Được dẫn dắt bởi một vị tướng đã nghỉ hưu, Pongthep Tesprateep, TCASD đã đề xuất dùng Tuyến 9A của TAMS – con kênh dài 120km từ bờ biển phía tây Krabi đến bờ biển phía đông Nakhon Si Thammarat. Họ cho rằng, điểm cuối phía đông của kênh đào Thái Lan sẽ hoàn thiện Hành lang Kinh tế phía Đông (EEC), một trung tâm đổi mới và vận tải công nghệ cao trị giá 40 tỷ USD trải dài qua ba tỉnh trên Vịnh Thái Lan, dự kiến hoàn thành vào khoảng giữa năm 2021 và 2025. Để thảo luận kỹ hơn về đề xuất này, TCASD đã tổ chức một hội nghị về kênh đào ở Bangkok vào tháng 9/2017.

1,016

Saturday, November 2nd 2019, 6:40am

Ba nhân tố tiềm năng thay đổi cuộc chơi
Cả TCCEA và TCASD đều dùng những luận điểm cũ để bảo vệ kênh đào: rằng việc xây dựng nó sẽ đóng vai trò là động lực cho nền kinh tế Thái Lan và cung cấp cho các công ty vận tải một giải pháp nhanh hơn, an toàn hơn thay cho Eo biển Malacca. Tuy nhiên, những người ủng hộ kênh đào cũng cho rằng ba nhân tố tiềm năng thay đổi cuộc chơi đã khiến kênh Kra trở thành một đề xuất khả thi hơn so với trước đây.
Đầu tiên là vị quốc vương mới của Thái Lan
Tháng 12 năm 2016, 50 ngày sau khi cha ông, Vua Bhumipol Adulyadej qua đời, Vua Vajirasongkorn trở thành vị vua thứ mười của triều đại Chakri. Lễ đăng quang của ông diễn ra vào tháng 5/2019. Ở tuổi 64, Vajirasongkorn là vị vua lớn tuổi nhất của Thái Lan khi lên ngôi. Việc hiện thực hóa giấc mơ ba thế kỷ của Vương quốc – xây dựng kênh đào Kra – sẽ củng cố di sản của ông, đặc biệt nếu kênh đào được đặt theo tên ông. Tuy nhiên, vì nhà Vua chưa bao giờ đề cập đến dự án này trước công chúng nên người ta không rõ liệu ông có ủng hộ hay không. Nếu ông ủng hộ, giới tinh hoa cầm quyền Thái Lan có thể cân nhắc dự án này một cách nghiêm túc hơn.
Thứ hai là Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc. Do đặc điểm vị trí địa lý ở trung tâm của Đông Nam Á lục địa của Thái Lan, Trung Quốc coi Thái Lan là điểm mấu chốt trong dự án cơ sở hạ tầng toàn cầu trị giá hàng nghìn tỷ đô la của mình. Kể từ cuộc đảo chính năm 2014, chính quyền của Thủ tướng Prayut Chan-ocha đã ủng hộ BRI mạnh mẽ. Tuy nhiên, dự án BRI nổi bật nhất của Trung Quốc tại Thái Lan, mạng lưới Đường sắt Cao tốc (HSR), đã nhiều lần bị trì hoãn do những bất đồng về vấn đề tài chính, công nghệ và vận hành. Trong nước, dự án HSR đã bị chỉ trích nặng nề bởi chi phí quá cao, thiếu minh bạch và khiến Thái Lan trở nên quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thế nhưng, cả TCCEA và TCASD đều cho rằng Trung Quốc có thể tài trợ cho kênh đào Kra như một phần của một trong sáu hành lang kinh tế được BRI hậu thuẫn, Hành lang Kinh tế Bán đảo Đông Dương – Trung Quốc.
Quan điểm của Trung Quốc về kênh Kra không rõ ràng. Giữa những năm 2000, các nhà phân tích chiến lược của Trung Quốc cho rằng kênh đào sẽ tăng cường an ninh năng lượng của nước này bằng cách giảm nhu cầu đối với tàu chở dầu treo cờ Trung Quốc đi qua Eo biển Malacca, nơi bị “kiểm soát” bởi Hoa Kỳ. Được biết khi ấy, Trung Quốc ủng hộ đề xuất kênh đào của Chavalit nhưng sau cùng lại thấy không mặn mà vì mức đầu tư 20 tỷ USD. Một thập niên sau, Trung Quốc hào hứng hơn nhiều trong việc tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng lớn như một phần của BRI. Hơn nữa, dù cái gọi là “Thế lưỡng nan Malacca” luôn bị phóng đại, các nhà phân tích chiến lược ở Trung Quốc vẫn xem kênh đào Kra là một cách hữu ích để đạt được “sự phân tán rủi ro”. Tuy nhiên, Bắc Kinh chưa bao giờ chính thức quảng bá kênh đào này như một dự án BRI. Thế nhưng, theo quan điểm của nhiều nhà phân tích Thái Lan, Bắc Kinh đang âm thầm thúc đẩy các công ty Trung Quốc hỗ trợ cho kênh đào.
Nhân tố thứ ba có khả năng xoay chuyển cuộc chơi là Chiến lược Quốc gia hai mươi năm của Thái Lan. Được quy định bởi Hiến pháp 2017 và ban hành vào tháng 10/2018 bởi Văn phòng Ủy ban Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia (NESDB), Chiến lược Quốc gia đưa ra một tầm nhìn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của Thái Lan từ năm 2018 đến năm 2037.
Tất cả các chính sách của chính phủ phải phù hợp với Chiến lược Quốc gia và Thượng viện giám sát việc tuân thủ đó. Chiến lược Quốc gia đề xuất Thái Lan phát triển cơ sở hạ tầng chất lượng cao để kết nối đất nước với phần còn lại của thế giới. Mặc dù trong đó không đề cập cụ thể đến tuyến đường thủy qua Eo đất Kra song kênh đào có thể được xếp vào diện một dự án kết nối hạ tầng chất lượng cao. Rất khôn ngoan, TCASD đã đệ trình đề xuất kênh đào Kra của mình lên NESDB vào tháng 12/2017.
Phản ứng của Thủ tướng Prayut
Thủ tướng Prayut đã có phản ứng thận trọng trước nỗ lực mới để xây dựng kênh đào Kra: ông không tán thành và cũng không phản đối. Tháng 2/2018, phát ngôn viên của ông cho biết dù kênh đào không phải ưu tiên của chính phủ, song họ đang xem xét nó. Tháng 10/2018, có thông tin cho rằng Prayut đã yêu cầu NESDB xem xét đề xuất của TCASD.
Có một số yếu tố lý giải cho sự thận trọng của Prayut.
Đầu tiên, ông không muốn bị xa lánh bởi những người ủng hộ kênh đào, bao gồm các thành viên thuộc cộng đồng doanh nghiệp và các đồng nghiệp cũ của ông trong lực lượng vũ trang, bằng cách loại bỏ nó.
Thứ hai, kể từ năm 2014, Prayut dồn tâm trí vào việc tạo ra một cấu trúc chính trị mới, đảm bảo sự thống trị của quân đội và lật đổ những người chống lại nó. Cuộc bầu cử ngày 24/03/2019 là đỉnh điểm của tiến trình này. Như vậy, ông có khá ít thời gian để đánh giá ưu điểm và nhược điểm của kênh đào.

1,017

Saturday, November 2nd 2019, 6:42am

Thứ ba, và quan trọng nhất, chính quyền Prayut cần xem xét một loạt các yếu tố kinh tế, đối nội và địa chính trị đan xen và phức tạp trước khi thông qua một dự án xây dựng lớn và gây tranh cãi như vậy. Như mọi khi, vấn đề phải suy tính nhiều nhất là kinh tế: kênh đào sẽ được tài trợ bằng cách nào và có khả thi về mặt kinh tế hay không? Sự phụ thuộc vào Trung Quốc – ngay cả khi Bắc Kinh sẵn sàng bảo trợ cho dự án trị giá 20-30 tỷ USD – khả năng cao sẽ không được tán thành trong nước nếu xét những tranh cãi xung quanh dự án HSR và việc Thái Lan mua tàu ngầm của Trung Quốc trước đó. Nếu muốn đề xuất này nhận được sự ủng hộ toàn quốc, nó phải được nhìn nhận như một sáng kiến thuộc sở hữu hoàn toàn của Thái Lan chứ không phải của Trung Quốc. Một kênh đào Kra thuộc Sáng kiến Vành đai và Con đường cũng sẽ tạo ra phản ứng tiêu cực từ đồng minh của Thái Lan – Hoa Kỳ, nhất là khi chính quyền Trump từng chỉ trích sáng kiến này là chiến lược “ngoại giao bẫy nợ”.
Các nhà phân tích chiến lược Thái Lan lo ngại rằng kênh đào Kra có thể trở thành đối tượng của sự cạnh tranh Trung – Mỹ, giống như cách dự án này từng bị kéo vào cuộc cạnh tranh Pháp – Anh vào thế kỷ 19. Đáng ngạc nhiên, một số người Thái vẫn bày tỏ lo lắng rằng kênh đào sẽ chia cắt đất nước và kích động những người miền nam ly khai. Thực tế hơn, những người khác lo lắng rằng tuyến đường thủy dài 100 km sẽ dễ bị tấn công bởi những người Hồi giáo gốc Malay nổi loạn. Bangkok cũng phải cân nhắc sự nhạy cảm thương mại của các nước láng giềng, đặc biệt là Singapore và Malaysia, khi kênh đào có thể chuyển những tuyến hàng hải có giá trị ra khỏi cảng của họ. Chính phủ Thái Lan cũng cần xem xét tác động môi trường đến từ việc xây dựng dự án lớn này và cách mà nó sẽ ảnh hưởng đến ngành du lịch đang mang lại nhiều lợi nhuận của quốc gia.

Kết luận
Các lập luận ủng hộ và phản đối việc xây dựng kênh đào Kra cứ lặp đi lặp lại như vậy. Những nhân tố tiềm năng xoay chuyển cuộc chơi đã thay đổi bối cảnh cuộc tranh luận một cách không đáng kể. Nếu dự án muốn được tiến hành, nó cần nhận được sự đồng tình của quốc vương, và cho đến nay Vua Vajirasongkorn vẫn không thể hiện bất cứ động thái ủng hộ nào. Một tuyến đường thủy do Trung Quốc tài trợ sẽ gây ra nhiều tranh cãi trong nước và ảnh hưởng đến quan hệ Thái Lan – Hoa Kỳ, vốn vừa khôi phục sau cuộc đảo chính năm 2014. Một yếu tố mang tính quyết định khác là việc coi dự án này như một dự án cơ sở hạ tầng then chốt trong Chiến lược Quốc gia. Tuy nhiên, khi chính quyền Prayut vẫn còn đau đầu với các khó khăn chính trị, thâm hụt ngân sách gia tăng, và nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt với những khó khăn từ thương chiến Mỹ-Trung (đã làm giảm đáng kể nhu cầu vận chuyển đường biển), thì cả ham muốn chính trị lẫn nguồn tài chính hiện đều không đủ để biến giấc mộng kênh đào Kra của Thái Lan trở thành hiện thực.

1,018

Monday, November 4th 2019, 3:42am

Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn?
Tác giả: Trương Quang Nhuệ (Trung Quốc)
Nguyễn Hải Hoành lược dịch từ nguồn tiếngTrung: 南海新攻略:放弃“九段线”,推出共同体 黄光锐的博客

Lời giới thiệu của người dịch:
Đường 9 Đoạn (Nine-dotted line), tức Đường Chữ U (U-shape line) hoặc Đường Lưỡi Bò là đường ranh giới biển do Trung Quốc đưa ra nhằm chiếm 80% diện tích Biển Đông, điểm cực Nam đến vĩ độ 4. Tham vọng ấy quá lớn, quá vô lý và trắng trợn nên đã bị dư luận Đông Nam Á và toàn thế giới phản đối. Đường này có chỗ lấn vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của một số nước Đông Nam Á, khiến cho không còn tồn tại vùng biển quốc tế trên Biển Đông nữa, do đó cản trở các tuyến hàng hải quốc tế. TQ rất lúng túng vì không đưa ra được bằng chứng lịch sử và tính pháp lý của Đường 9 Đoạn. Trong khi chính quyền Việt Nam từ thế kỷ 17 đã đưa người ra kiểm soát quần đảo Trường Sa thì TQ mãi đến năm 1946 mới có người ghé qua đây cắm cờ nhận chủ quyền rồi về.
Bản đồ TQ công bố trước 1947 đều vẽ đảo Hải Nam là lãnh thổ cực Nam của họ. Vả lại ai cũng biết bản thân một đường nét đứt chia làm 9 đoạn rời nhau thì không thể coi là đường biên giới quốc gia. Hơn nữa, các đảo bên trong đường ấy ở rất xa TQ và rất gần các nước Đông Nam Á khác; vì thế xét về luật quốc tế, Đường 9 Đoạn hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Việc hạm đội chính phủ Trung Hoa Dân Quốc năm 1946 tiếp quản quần đảo Trường Sa từ tay Nhật rồi đặt tên cho 4 hòn đảo và vẽ vào bản đồ phát hành nội bộ Trung Quốc sao có thể coi là bằng chứng TQ có chủ quyền ở đấy? Năm 1946 quân đội chính phủ này chẳng đã đến tiếp quản Việt Nam (nửa trên vĩ tuyến 16) từ tay Nhật đó sao? Thế nhưng TQ đâu có chủ quyền ở đây? …
Các sự thực ấy chính quyền TQ đều biết, nhưng họ giấu kín không cho dân biết, chỉ một mực nói bừa là toàn bộ các đảo bên trong Đường 9 Đoạn là thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của TQ. Dưới sự tuyên truyền dối trá như vậy, đa số dân TQ đều cho rằng nước này nên dùng quân sự “giải phóng” các đảo đang bị nước khác kiểm soát. Rất may là một số trí thức TQ tỉnh táo và dũng cảm đã dùng hình thức Blog mạng để vạch ra sự thật về Đường 9 Đoạn. Bài dưới đây của Blogger Trương Quang Nhuệ, một tác giả thường gây tranh cãi ở TQ. Bài rất dài, chúng tôi chỉ giới thiệu phần đầu. Trong 2 phần sau, tác giả kiến nghị TQ và các nước liên quan thành lập Khối Cộng đồng Biển Đông (South China Sea Commonwealth) để cùng khai thác Biển Đông theo kiểu một công ty đa quốc gia mà TQ chiếm 50% cổ phần.


Gần đây một trang mạng quân sự nổi tiếng trong nước có kêu gọi viết bài về đề tài “Trung Quốc nên thoát ra khỏi tình trạng khó khăn về chủ quyền biển đảo như thế nào”. Bản thân đề tài này thật là có ý nghĩa. Nhưng các bài viết hưởng ứng lời kêu gọi này đã đăng thì hoặc là sặc giọng căm phẫn, hoặc là đầy những ý tưởng ngớ ngẩn. Tôi có cảm giác: Đầu óc đồng bào ta không hề tỉnh táo hơn [những người Trung Quốc hồi cuối thế kỷ 19 từng khuất phục trước tàu chiến súng lớn của phương Tây].

Cách đây ít lâu tôi từng nói:
“Trong thế giới cạnh tranh, thực lực là điều quan trọng”

… Nhưng không thể đơn giản hiểu thực lực là nước mình có bao nhiêu máy bay tàu chiến, có GDP bằng bao nhiêu, có bao nhiêu dân… Khi bàn chuyện lớn của đất nước, cần phải biết mình biết người thì mới bách chiến bách thắng, chuyện ấy chẳng nói cũng hiểu.

Thế nhưng chúng ta có biết mình không? Có biết người không?
Trong quá khứ có bao nhiêu chuyện chứng tỏ chúng ta chẳng biết mình biết người. Năm 1976, Trung Quốc từ chối nhận viện trợ của các nước khác giúp khắc phục thiệt hại trong trận động đất lớn Đường Sơn, khi ấy chúng ta cho rằng làm như thế là vẻ vang. Chúng ta không biết gì về cái thế giới đã gần như hoàn toàn vận hành theo quy tắc của phương Tây, không biết rằng khẩu hiệu “Một nước Trung Quốc” chính là nguyên tắc chính trị do người Mỹ đưa ra. Lẽ tự nhiên chúng ta lại càng không biết những chuyện xa xưa xung quanh vấn đề tranh cãi chủ quyền quần đảo Nam Sa [Việt Nam gọi là Trường Sa], không biết rằng đằng sau sự ra đời cái “Đường 9 đoạn” (九段线) kia có bao nhiêu trục trặc, không biết rằng hiện nay trên vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là Biển Đông] nước ta đã cực kỳ bị động!

“Đường 9 đoạn” do một đại tá quân đội Quốc Dân Đảng vẽ ra
Nếu bạn vẫn còn có chút xa lạ với từ ngữ Đường 9 đoạn thì chắc hẳn bạn đã quen với tấm bản đồ Nam Hải chứ! Đây là thể hiện cụ thể của ý nghĩ [Trung Quốc] “có chủ quyền không thể tranh cãi về các đảo ở Nam Hải” cho tới nay vẫn còn nhiều người kiên trì.
Thế nhưng nguồn gốc của Đường 9 đoạn lại bị giấu kín như bưng, ngày nay có mấy người Trung Quốc biết rằng thực ra nó đâu phải do chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hoạch định, mà là do chính phủ Dân Quốc [của Quốc Dân Đảng] năm xưa vạch ra.
Hơn nữa Đường 9 đoạn cũng không phải là do Bộ Ngoại giao của chính phủ ấy chủ trì hoạch định, mà là lấy danh nghĩa Bộ Nội chính phát hành tấm bản đồ này. Người vạch ra Đường 9 đoạn là một sĩ quan hải quân có thân phận đặc biệt, nguyên sĩ quan hải quân trong sứ quán Trung Hoa Dân Quốc tại Mỹ, năm 1946 làm sĩ quan chỉ huy Hạm đội Tiền tiến đi Nam Hải công cán.

Tháng 10 năm 1946, hải quân chính phủ Dân Quốc thành lập tại Thượng Hải Hạm đội Tiền tiến với nhiệm vụ xuống Nam Hải tiếp quản các đảo bị Nhật chiếm. Tối 29/10, dưới sự chỉ huy của đại tá Lâm Tôn,[1] một đoàn 4 tàu chiến nhổ neo ra khỏi cửa Ngô Tùng, Thượng Hải. Đoàn gồm 4 chiến hạm: tàu khu trục hộ tống Thái Bình, tàu săn tàu ngầm Vĩnh Hưng, tàu đổ bộ xe tăng Trung Kiện và tàu Trung Nghiệp.[2]
Ngày 9/11 đoàn tàu đến cảng Du Lâm thuộc đảo Hải Nam. Sau đó, Lâm Tôn chỉ huy hai tàu Thái Bình và Trung Nghiệp tiến về phía đảo Nam Sa. Phó chỉ huy Diêu Nhữ Ngọc dẫn hai tàu Vĩnh Hưng, Trung Kiện tiến về đảo Tây Sa [Việt Nam gọi là Hoàng Sa].
Tên các hòn đảo Vĩnh Hưng, Trung Kiện, Thái Bình và Trung Nghiệp[3] ngày nay có vẽ trên bản đồ Nam Hải chính là tên 4 chiếc tàu năm xưa tham gia Hạm đội Tiền tiến.
Có điều đáng nhắc lại là tàu Thái Bình vốn là chiến hạm chủ lực của hải quân Tưởng Giới Thạch, về sau đến năm 1954 bị tàu cao tốc phóng lôi của Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chìm ở vùng biển gần tỉnh Triết Giang. Nhưng hòn đảo mang tên nó — tức đảo Thái Bình — cho tới nay vẫn do chính quyền Đài Loan kiểm soát.
Năm 1947, dựa váo các tài liệu do Hạm đội Tiền tiến trình báo, Bộ Nội chính chính phủ Dân Quốc công bố Bảng đối chiếu tên cũ-mới của các đảo ở Nam Hải. Cùng năm đó xuất bản Bản đồ sơ lược vị trí các đảo ở Nam Hải 南海位置略图, ghi rõ vùng biển Nam Hải gồm các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa[4] đều thuộc lãnh thổ Dân quốc Trung Hoa và vẽ đường biên giới quốc gia có 11 nét đứt rời xung quanh các đảo ở Nam Hải, cũng tức là Đường 11 đoạn 十一段线.
Năm 1948 lại xuất bản Bản đồ Khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc 中华民国行政区域图kèm theo Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải 南海诸岛位置图do Phó Giác Kim phụ trách Vụ Phương vực Bộ Nội chính 内政部方域司chủ biên, trở thành bản đồ chính thức sớm nhất công khai vẽ Đường 11 đoạn.

1,019

Monday, November 4th 2019, 3:44am

Ngày 21/4/1949, Quân Giải phóng Trung Quốc vượt Trường Giang tiến xuống phía Nam đến tận Nam Kinh, thủ đô chính phủ Dân Quốc. Cho dù chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch tan rã nhưng Đường 11 đoạn không vì thế mà biến mất. Ở đây có một nguyên nhân là trước đó không lâu. Lâm Tôn, người vạch đường biên ở Nam Hải, đã khởi nghĩa chống lại Tưởng Giới Thạch, gia nhập hàng ngũ Quân Giải phóng. Sau đó Lâm Tôn liên tiếp được cử làm Phó Tư lệnh Hải quân Hoa Đông rồi Phó Tư lệnh Hải quân của Quân Giải phóng Trung Quốc. Đường 11 đoạn năm nào ra đời cùng với Lâm Tôn và các tài liệu do ông cung cấp đã lọt vào tầm mắt của giới lãnh đạo Trung Quốc. Vì thế trong các bản đồ do Tân Trung Quốc xuất bản đã nhanh chóng xuất hiện Đường 9 đoạn được sửa chữa một chút từ Đường 11 đoạn.[5]

“Đường 9 đoạn” chưa bao giờ là đường biên giới quốc gia!
Đọc tới đây có lẽ rất nhiều người sẽ nói như vậy chẳng phải mọi việc đã rất rõ ràng rồi hay sao: Đường 9 đoạn là thể hiện cụ thể không thể tranh cãi về chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Sa, chỉ cần kiên quyết bảo vệ Đường 9 đoạn là được!
Thế nhưng tình hình thực tế là: cho dù trên pháp lý hoặc trong các ghi chép lịch sử, Đường 9 đoạn không thể nào, và xưa nay cũng chưa từng xuất hiện với tư cách là đường biên giới quốc gia!

Trước hết, đường biên giới quốc gia tất phải là đường nét liền, đây là một chuẩn tắc cơ bản thông dụng trên toàn thế giới. Thế nhưng Đường 9 đoạn đã chia thành 9 đoạn thì lẽ tự nhiên là một đường đứt rời. Điều đó về cơ bản đã loại trừ khả năng Đường 9 đoạn trở thành đường biên giới quốc gia. Nói cách khác, Đường 9 đoạn cùng lắm chỉ có thể dùng làm một “đường chủ trương”, thể hiện chính phủ Trung Quốc chủ trương hoạch định vùng biển và các đảo ở trong đường đó vào lãnh thổ Trung Quốc. Đường 9 đoạn xưa nay chưa bao giờ, và cũng không thể là một tuyến cương giới thực tế đã được hoạch định. Bởi vậy không thể vì sự tồn tại Đường 9 đoạn mà nói các đảo và vùng biển bên trong đường đó là lãnh thổ của Trung Quốc; lại càng không thể yêu cầu các quốc gia khác tôn trọng “đường biên giới quốc gia” căn bản không tồn tại này.

Đồng thời, giải thích Đường 9 đoạn là “đường biên giới quốc gia” là đi ngược lại Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, hoàn toàn không ăn nhập với Công ước đó. Trong thực tiễn thi hành Luật biển quốc tế bao năm qua, có một lý luận và nguyên tắc cơ bản nhất là “Đất thống trị biển”, cũng tức là nói chủ trương lãnh thổ đối với biển của quốc gia ven biển ắt phải dựa trên cơ sở chủ quyền lục địa, và lấy đường cơ sở lãnh hải làm đường khởi đầu từ đó hướng ra ngoài để hoạch định lãnh hải của mình. Công ước Lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958 và Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 — hai Công ước này quy định rõ các chuẩn tắc cơ bản “Lấy chủ quyền đất liền để quyết định chủ quyền biển” và “Lãnh hải mở rộng 12 hải lý”.

Bởi vậy, cho dù bản thân các đảo ở Nam Hải không tồn tại bất cứ tranh chấp nào thì “lãnh thổ trên biển” do nó sinh ra cũng nhiều nhất chỉ có thể là một vòng tròn bán kính 12 hải lý xung quanh đảo, chứ tuyệt đối không thể bao gồm toàn bộ vùng biển Nam Hải như Đường 9 đoạn.
Huống chi hiện nay sự tranh cãi về chủ quyền các đảo ở Nam Hải vốn đang ầm ỹ rồi, hơn nữa liệu các bãi đá lúc chìm lúc nổi khi thủy triều lên xuống và các đảo san hô khó có thể duy trì đời sống và sản xuất lâu dài cho dân cư ấy có thể dùng làm cơ sở cho chủ trương “lãnh thổ trên biển” được hay không? — điều này khi áp dụng luật biển quốc tế thì cũng đáng ngờ vực!

Trung Quốc là nước ký Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, vì vậy bản thân việc kiên trì Đường 9 đoạn đã tự mâu thuẫn về pháp lý. Hơn nữa, nhiều năm nay ngoài chuyện thỉnh thoảng lại tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi về đảo …” ra, các thế hệ chính phủ Trung Quốc đều chưa hề dùng hành vi được luật biển quốc tế tán thành để thực sự hành xử quyền lãnh hải, quyền lãnh thổ và quyền quản trị hành chính đối với quần đảo Nam Sa nằm ở vùng trung tâm Nam Hải.
Biên đội Lâm Tôn sau chuyến đi biển ấy trở về chỉ bố trí có tính chất tượng trưng một số binh sĩ ở lại trên đảo Thái Bình chứ chưa hề tiến hành bất cứ sự quản trị hữu hiệu nào đối với các đảo thuộc quần đảo Nam Sa. Cho nên ngày nay sau mấy chục năm kể từ chuyến đi ấy, chưa cần nói về rất nhiều hòn đảo, mà ngay cả đảo Trung Nghiệp đặt theo tên một trong số 4 chiếc tàu chiến thuộc hạm đội của Lâm Tôn, và đảo Nam Uy [tiếng Anh: Spratly Island, Việt Nam gọi là đảo Trường Sa Lớn] nằm ở đầu mối tuyến đường biển cũng lần lượt rơi vào tay Phillippines và Việt Nam.
Bởi vậy Đường 9 đoạn xét về pháp lý thì không chịu nổi một đòn [phản biện]; trong thực tế thì như thằng bù nhìn, đã mấy chục năm tự mình mâu thuẫn nói một đằng làm một nẻo. Nói thẳng ra, Đường 9 đoạn đã trở thành một trò cười trong thực tế vận hành Luật biển quốc tế.

1,020

Monday, November 4th 2019, 3:46am

Cơ hội lịch sử để vuột mất sau chuyến đi biển của Lâm Tôn
Vấn đề Đường 9 đoạn thực ra không chỉ đơn giản là nói một đằng làm một nẻo, mà vấn đề lớn hơn lại ở chỗ xét theo ba nguyên tắc lớn “Lịch sử”, “Thềm đại lục” “Chiếm trước” của Luật biển quốc tế, thì trên vấn đề quần đảo Nam Sa thuộc về ai, rõ ràng Trung Quốc hoàn toàn không chiếm được thế thượng phong, thậm chí có thể nói là [Trung Quốc đang] cận kề mức cãi chày cãi cối. Đây mới là nguyên nhân cơ bản nhất [làm cho Trung Quốc] bị động tới cùng cực trên vấn đề Nam Hải hiện nay. “Trung Quốc từ xưa tới nay đã có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Nam Hải” câu nói này [người ta] đã nghe không biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng cân nhắc kỹ lưỡng một chút thì vấn đề sẽ hiện ra: kể từ ngày khai quốc nền văn minh Trung Hoa cho đến năm 1840 khi đại bác của người Anh phá vỡ cánh cổng lớn của đế quốc Đại Thanh thì Trung Quốc cũng vậy, Triều Tiên cũng vậy, Đông Nam Á cũng vậy, toàn bộ phương Đông hoàn toàn chẳng có khái niệm chủ quyền gì cả. Tra cứu hết lịch sử trên dưới 5000 năm của Trung Quốc, e rằng cũng khó mà tìm thấy trong văn thư nào có hai chữ chủ quyền. Chủ quyền là khái niệm hoàn toàn do người phương Tây sáng tạo, Trung Quốc cổ đại sao mà có được? Thế thì làm sao có thể nói tới “Chủ quyền không thể tranh cãi từ xưa đến nay”?
Thực ra nếu dựa vào quan niệm chủ quyền của phương Tây để nghiêm túc cân nhắc cuộc tranh cãi về quần đảo Nam Sa, chúng ta sẽ phát hiện thấy lập trường của Trung Quốc thật sự rất khó đứng vững được: dựa vào chuyện tàu thuyền Trung Quốc đến nơi ấy mấy lần gì gì đó, đánh bắt được mấy con cá thì chỗ ấy là của Trung Quốc sao?
Thế thì trong lịch sử, tàu thuyền của tôi đến chỗ ấy còn nhiều hơn anh nữa kia, năm này qua năm khác tôi đánh cá ở đấy, cớ sao lại không được thừa nhận? Anh bảo anh đến đấy trước, vậy có chứng cứ không? Năm nào tháng nào ai đến đấy?

Chuyện này về căn bản là một mớ sổ sách rối bét, dù sao thì cũng chẳng ai có cách nào sinh cơ lập nghiệp được trên những mỏm đá san hô chỉ nhô lên khỏi mặt nước một tý tẹo ấy.
Trong tình hình chuẩn tắc “ lịch sử” rơi vào tình trạng rối rắm và hỗn loạn như trên, thì nguyên tắc “Thềm đại lục vươn ra” và “Chiếm trước” trở nên quan trọng hơn. Mà Nam Sa cách Việt Nam, Malaysia, Phillippines gần hơn cách Trung Quốc, bởi vậy giả thử theo chuẩn tắc địa lý “cự ly gần, thềm đại lục vươn ra” , thì chẳng cần nói, Trung Quốc thậm chí có thể chẳng có được phần nào!
Còn nói về nguyên tắc “Chiếm trước” vốn dĩ có thể là cực kỳ có lợi cho Trung Quốc, nhưng vì [Trung Quốc] suốt 40 năm ròng coi nhẹ quyền lợi trên biển, cho nên ngày nay [“Chiếm trước”] lại trở thành ưu thế tuyệt đối của người khác. Vào cái thời Lâm Tôn lập hạm đội đi Nam Hải, các quốc gia Đông Nam Á hồi ấy căn bản còn là các xứ thuộc địa, sau này mới xuất hiện [là quốc gia độc lập]. Chính quốc các nước thực dân châu Âu đều bị Thế chiến II làm cho tan nát, lúc này đang chuẩn bị cuốn gói chuồn khỏi [các thuộc địa của mình], nào ai còn tâm tư để ý đến mấy hòn đảo san hô trên biển mênh mông kia đâu?

Hơn nữa cho dù Bộ Nội chính của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc có in cái Đường 9 đoạn trên tấm bản đồ phát hành trong nước, nhưng chính phủ này hoàn toàn không thông qua con đường ngoại giao để tuyên bố với Đông Nam Á rằng “Vùng này là của tôi” . Người ta [các nước Đông Nam Á] hoàn toàn chẳng biết gì về chuyện ấy thì sao mà có thể “đưa ra ý kiến khác” được? (Song le dùng logic này để luận chứng quần đảo Nam Sa thuộc Trung Quốc là điều vô cùng nguy hiểm, vì logic như vậy từng được Nhật dùng để luận chứng các đảo Pinnacle Islands尖阁列岛 là do Nhật “phát hiện” — hồi ấy khi đảo Điếu Ngư 钓鱼岛 [Nhật gọi là Senkaku Shotō] bị Nhật lén lút ghép vào địa giới “Huyện Okinawa” 冲绳县, chính phủ nhà Thanh cũng vậy, không hề “đưa ra ý kiến khác”, bởi lẽ họ đâu có biết gì!)
Nếu hồi ấy hạ quyết tâm đưa ra đảo cho dù chỉ vài tiểu đoàn lính, chiếm hết quần đảo Nam Sa rồi đóng quân lâu dài ở đấy, thậm chí thiết lập các cơ quan hành chính như “Huyện Nam Sa” để thực thi quản trị hữu hiệu, thế thì sau mấy chục năm kinh doanh, nguyên tắc “Chiếm trước” sẽ trở thành vũ khí lợi hại để giữ chủ quyền ở Nam Sa.
Thế nhưng điều khiến người ta lấy làm tiếc là trong thời gian hơn 4 chục năm, ánh mắt của hai bờ eo biển [ý nói đại lục Trung Quốc và Đài Loan] đều chưa từng hướng vào Nam Hải. Tàu chiến Thái Bình từng để lại ký ức vĩnh cửu tại biên cương biển nơi cùng trời cuối đất năm xưa, về sau trong cuộc nội chiến lại bị ngư lôi của đồng bào mình [ý nói Quân Giải phóng Trung Quốc] đánh chìm. Câu chuyện ấy là một điềm báo hoặc phác họa về số phận lịch sử của các đảo thuộc quần đảo Nam Sa.

Cho đến thập niên 1970, khi các “Rồng con, Hổ con” của Đông Nam Á bắt đầu kiếm được “thùng vàng thứ nhất” trong buôn bán đối ngoại, họ đã phát hiện ra giá trị của quần đảo Nam Sa, nhưng vào lúc ấy chính quyền Đài Loan vừa bị đuổi ra khỏi Liên Hợp Quốc, mình lo cho mình còn chưa xong. Đại lục Trung Hoa thì vừa mới thoát khỏi các thương tích của Cách mạng Văn hóa, hải quân Trung Quốc hồi ấy chẳng qua chỉ mới là đội cảnh vệ ven biển, thiếu khả năng viễn chinh tối thiểu. Hồi ấy tại quần đảo Nam Sa, trừ đảo Thái Bình có quân đồn trú của Đài Loan ra, còn lại đều là những “đảo không người”. Miếng mỡ để trước mặt sao lại không giành lấy? Huống chi là bấy giờ nguyên tắc “Chiếm trước” đã ra lò, ai giành được thì là của người ấy! Anh nói [đảo này] là của anh hả, xin lỗi nhé, thế ai bảo anh không đưa quân ra giữ lấy nó
?

4 users apart from you are browsing this thread:

4 guests

Similar threads