You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

1,041

Friday, November 29th 2019, 7:26am

Lời bạt
Năm 1976, quả phụ Giáo sư Bông, bà Lê Thị Thu Vân tái giá. Bà lấy Lacy Wright, một nhân viên ngành ngoại giao, người đã từng phục vụ tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trước 30/4/1975. Tại lễ cưới, cựu Đại sứ Bunker đã đóng vai người cha để trao bà cho Lacy. Ông bà sống với nhau rất hạnh phúc, ngày nào bà cũng nấu cơm cho ông ăn.
Được hỏi thái độ của bà đối với những người đã ám sát Giáo sư Bông, Jackie Bông khẳng định: “Tôi theo Đạo Phật nên tôi không thù hận họ”. Bà nói tiếp: “Năm 1994, Thượng nghị sĩ John McCaine gặp tôi và hỏi tôi suy nghĩ thế nào về việc Quốc Hội Mỹ muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, tôi nói ngay: “Đối với tôi, vấn đề quan hệ ngoại giao với Việt Nam không phải là “why” (tại sao) mà là “when” (khi nào)”. Bà cho biết cả ba người con của bà với Giáo sư Bông, Annie, Victor và Alex, đều đã về thăm và làm việc tại Việt Nam. “Annie, con đầu của tôi – bà kể - nhất quyết về Việt Nam khi hai nước chưa có quan hệ ngoại giao. Con gái tôi nói: “Ba con là người Việt Nam, con là người Việt Nam, con phải về Việt Nam để phục vụ”. Jackie Bông nói thêm rằng Lacy chồng bà đã về thăm Việt Nam những 5 lần nhưng bản thân bà chưa về lần nào vì còn có những băn khoăn, trở ngại.
Cuối cuộc trò chuyện, Jackie Bông cho biết có nhà xuất bản ở Việt Nam đề nghị bà cho họ in lại cuốn “Luật Hiến pháp và chính trị học” của Giáo sư Bông nhưng bà chưa quyết định. Dẫu vậy, tác giả bài viết này tin rằng một ngày không xa bà sẽ lại có mặt ở Việt Nam, trước hết để dự buổi lễ tái sinh tác phẩm ấy của người chồng quá cố của bà, một “trí thức uy tín”.

Chú thích:

(1), (2) Ngẫm lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam” (In Retrospect: The Tragedy and Lesson of Vietnam), Robert S.McNamara, Times Books,1995.
(3) "Agrégation" là bằng cần có để giảng dạy Đại học ở Pháp, người có bằng này được gọi là “agrégé”. Ngược lại, “Capes” (Certificat d’Aptitude au Professorat de l’Enseignement du Second degré) là bằng cần có để giảng dạy trung học. Trong hệ thống giáo dục miền Nam Việt Nam trước 1975, “Agrégation” được dịch là “Thạc sĩ”. Trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay, “Thạc sĩ” là học vị trên Cử nhân và dưới Tiến sĩ, tương đương “Maitrise” (Pháp) hay Master (Anh, Mỹ). Để tránh nhầm lẫn, theo tác giả bài viết này, “Agrégation” cần được dịch là “Bằng Giảng dạy đại học”. Cũng như vậy, “Capes” cần được dịch là “Bằng Giảng dạy trung học”.
(4) Theo nhà báo Mỹ William J. Lederer, kẻ thù tồi tệ nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là nạn tham nhũng của Việt Nam Cộng hòa; hàng tỷ USD viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ bị quan chức tham ô rồi bán ra chợ đen.
(5) Tổng thống Ngô Đình Diệm không chỉ cai trị theo lối gia đình trị, đàn áp Phật giáo gây phẫn nộ lớn cả trong chính quyền và quân đội lẫn ngoài xã hội mà còn muốn độc lập với Mỹ và thỏa hiệp với Cộng sản. Khi Đại sứ Frederick Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về Chính trị, Quân sự và Kinh tế, ông Diệm trả lời rằng "chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ". Theo ông Cao Xuân Vỹ, phụ tá của Cố vấn Ngô Đình Nhu, vào tháng 2 năm 1963, ông Nhu mượn cớ đi săn cọp ở khu rừng Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy, để bí mật gặp Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị Đảng Lao Động Việt Nam. Thông tin này là có cơ sở vì Phạm Hùng giữ chức Trưởng Ban Thống nhất thuộc Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (từ 1958 đến 1966), cơ quan này có chức năng nghiên cứu và triển khai thống nhất hai miền Bắc-Nam Việt Nam bằng phương pháp hòa bình
(6) Nhiều tài liệu đáng tin cậy cho thấy Đại sứ Mỹ Bunker có lối đặt vấn đề không úp mở nhằm tạo chuyển biến trên chính trường Việt Nam Cộng hòa.
Trong hồi ký “Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào?”, Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống và Chủ tịch Ủy ban hành pháp (Thủ Tướng) Việt Nam Cộng hòa, viết: “Một buổi chiều, Đại sứ Bunker đến nhà tôi trong căn cứ không quân và nói với tôi: "Bầu cử và độc diễn thì không phải là tấm gương tốt cho thế giới". Ông ta còn xung phong kiếm tiền cho tôi vận động bầu cử, chắc hẳn ông ta thừa biết tôi chẳng có hy vọng gì trúng cử, nhưng có lẽ người Mỹ nghĩ rằng nếu phải tổn phí mà tạo được một cái vỏ ngoài bầu cử tự do thì cũng đáng đồng tiền. CIA cũng làm áp lực để tôi phải ra tranh cử, nhưng tôi trả lời họ như tôi đã trả lời Đại sứ Bunker: "Không thể được. Thiệu nắm chắc quá, và nhất định sẽ không chịu để cho tôi trúng cử ".
Frank Snepp, cựu chuyên gia phân tích chiến lược của CIA tại Sài Gòn có nhận định tương tự trong hồi ký “Cuộc tháo chạy tán loạn” (Decent Interval). Ông viết: “Bunker sử dụng mánh khóe sở trường để hối lộ nhân vật đối lập ôn hòa là Tướng Dương Văn Minh để ông này tiếp tục vai trò người tranh cử.Cuộc dàn dựng có thể thành công nếu như cuối cùng Minh không tính ra rằng 3 triệu Dollars vận động cũng chỉ đưa tới một kết quả chắc chắn thất cử”.
(7) Vì Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là Tổng thư ký Đảng Tân Đại Việt nên nhiều tài liệu cho rằng Phong trào Quốc gia Cấp tiến là tổ chức ngoại vi của đảng này. Bà Jackie Bông phủ nhận điều này, cho rằng đây là hai tổ chức chính trị độc lập, nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau. Theo Hoài Sơn, tác giả bài “Cảm Nghĩ Nhân Kỷ Niệm Lần 49 Ngày Thành Lập Đảng Tân Đại Việt” đăng trên trang điện tử “Đảng Tân Đại Việt” ngày 10/02/2014, Giáo sư Huy nhận thấy Đảng Tân Đại Việt chỉ là đảng cán bộ chứ không phải đảng đại chúng nên ông đến trình bày với Giáo sư Bông để cùng nhau lập ra. Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến qui tụ 3 thành phần chính là dân cử, chuyên viên trí thức, và đảng phái, tôn giáo.
Theo tác giả bài viết này, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến giống như một công ty có hai cổ đông: Giáo sư Bông và Đảng Tân Đại Việt. Đảng Tân Đại Việt góp “vốn” bằng nhân sự còn “vốn” của Giáo sư Bông là uy tín chính trị của bản thân ông. Tóm lại, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến không do một mình Đảng Tân Đại Việt lập ra và vì vậy không thể là tổ chức ngoại vi của đảng này. Để so sánh, Việt Minh thực sự là tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản Đông Dương vì được thành lập theo Quyết nghị ngày 19/5/1941 của Hội nghị lần thứ VIII, Khóa I của đảng này, các thành viên Tổng bộ Việt Minh đều là đảng viên cộng sản cao cấp, bao gồm cả Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh sau này). Nói cách khác, Giáo sư Bông là lý do tồn tại của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến. Điều này giải thích vì sao tổ chức này đi vào thoái trào sau khi ông bị ám sát vào ngày 10/11/1971 để cuối cùng, vào năm 1973, nhập vào Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội do Tổng thống Việt nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu lập ra năm 1969 trên cơ sở Đảng Dân chủ cũng do chính ông Thiệu lập ra năm 1967 để tranh cử trong cuộc bầu cử Tổng thống cùng năm.

1,042

Friday, November 29th 2019, 7:27am

(8 ) Hoàng Đức Nhã, sinh năm 1942 tại tỉnh Ninh Thuận, là em họ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi đậu Kỹ sư điện tại Đại học Pittsburgh (Mỹ) vào năm 1966, ông về Sài Gòn tham chính. Ông là Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của Tổng thống Thiệu từ năm 1968 và Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi từ tháng 4/1973. Trong bài “Hoàng Đức Nhã, người phát ngôn mới của Sài Gòn” (Saigon's New Chief Spokesman Hoang Duc Nha) đăng trên New York Times ngày 1/1/1973, nhà báo Fox Butterfield đánh giá ông Nhã, 31 tuổi, bà con với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, là “người có quyền hành nhất sau Tổng thống” (the most powerful man in the country after the President). Vẫn theo nhà báo này, "ông Nhã nhúng tay vào mọi chuyện, từ giúp viết diễn văn cho ông Thiệu đến bổ nhiệm các đại sứ và thuyên chuyển các tướng lĩnh...Trên thực tế, ông Nhã dường như tổng hợp các vai trò ở Washington của ông Kissinger, Ronald L. Ziegler, phát ngôn viên Nhà Trắng và Charles G. (Bebe) Rebozo, người bạn thân nhất của Tổng thống Nixon". Về phần mình, Henry Kissinger có một cái nhìn hoàn toàn tiêu cực về ông Nhã khi dùng các từ "quá đáng" (outrageous), kinh khủng (egregious), "đáng ghét" (obnoxious), "mưu mô“ (intrigue) để nói về ông.
Tóm lại, cứ theo nhận định của hai người Mỹ này, ông Hoàng Đức Nhã quả là “Ngô Đình Nhu Đệ Nhị” khi liên tưởng tới người em ruột và là Cố vấn của Tổng thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.
(9) Hồi ức về GS Nguyễn Văn Bông, Đoàn Bá Cang, Youtube, 10/8/2019.
(10) Chiến công xuất sắc của Lực lượng An ninh miền Nam, Hải Giang (theo Lịch sử Công an nhân dân), An ninh Thế giới Online, ngày 03/03/2008.
(11) Trần Quốc Hương từng làm việc bên cạnh các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, từng là tù nhân của chính quyền thực dân Pháp và chính quyền Ngô Đình Diệm. Ông là người tổ chức và cũng là cấp trên trực tiếp của những điệp viên chiến lược cộng sản nổi tiếng nhất trong Chiến tranh Việt Nam là Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo và Phạm Xuân Ẩn.
(12) “Bí mật điệp báo chưa từng công bố: đốt cháy con bài của Mỹ”, Nam Thi, Thanh Niên ngày 2/5/2000.
(13) Trong bài “Những ký ức hào hùng của người trinh sát vũ trang nội đô” của Phú Lữ, Công an nhân dân ngày 05/02/2018, Thiếu tá Công an Lê Việt Bình cho biết: “Ban An ninh T4 thuộc Khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Ban này có các tiểu ban như Bảo vệ chính trị, điệp báo, hậu cần, an ninh vũ trang, giao liên... Đến tháng 4-1965, Ban An ninh T4 lập thêm một tiểu ban mới: Trinh sát vũ trang, bí danh là B5. Khác với An ninh vũ trang chuyên hoạt động ở vùng nông thôn và vùng ven với nhiệm vụ chống các trận càn quét, bảo vệ căn cứ, bảo vệ các lãnh đạo..., địa bàn chiến đấu của Trinh sát vũ trang là vùng nội đô Sài Gòn - Gia Định. Nhiệm vụ của Trinh sát vũ trang không chỉ là điều tra nghiên cứu, thu thập tình hình phục vụ tác chiến, mà chủ yếu là tiêu diệt “Việt gian, ác ôn” nhằm làm thất bại các ý đồ chiến lược của Mỹ -Thiệu, đập tan ách kìm kẹp của địch, tạo điều kiện phát triển các phong trào đấu tranh của đồng bào đô thị”.
(14) Trong bài “Ông tướng tình báo bí ẩn và những điệp vụ siêu hạng (kỳ 21): Khi Mỹ trở thành đối tượng của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo” của Hoàng Hải Vân - Tấn Tú, Việt Báo (Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI) - Bộ thông tin và truyền thông) ngày 11/3/2004, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (Nguyễn Văn Tá, Ba Quốc) cho biết “nhiệm vụ chủ yếu của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo là bảo vệ Nguyễn Văn Thiệu, đối tượng của Phủ Đặc ủy là Mỹ và các thế lực chống đối trong và ngoài chính quyền”.

1,043

Wednesday, December 11th 2019, 6:22pm

Lục quân Mỹ sẽ tài trợ nhà máy đất hiếm để phát triển vũ khí
11/12/2019
Reuters

Lục quân Hoa Kỳ có kế hoạch tài trợ cho việc xây dựng các cơ sở chế biến đất hiếm, là một phần trong nỗ lực khẩn cấp của Washington nhằm đảm bảo nguồn cung các khoáng sản trong nước dùng để chế tạo vũ khí và đồ điện tử quân sự, Reuters cho biết trong một bản tin độc quyền, dẫn tài liệu của chính phủ Mỹ mà họ được xem.
Động thái này sẽ là một dấu mốc về việc lần đầu tiên quân đội Hoa Kỳ đầu tư tài chính vào sản xuất đất hiếm có quy mô thương mại kể từ khi Dự án Manhattan thời Thế chiến II chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên.

Chương trình nêu trên ra đời sau khi Tổng thống Donald Trump hồi đầu năm nay ra lệnh cho quân đội cập nhật chuỗi cung các vật liệu quan trọng, ông cảnh báo rằng sự lệ thuộc vào các quốc gia khác về khoáng sản chiến lược có thể là trở lực đối với hệ thống phòng thủ của Mỹ.

Trung Quốc, nước tinh chế hầu hết các loại đất hiếm trên thế giới, đã đe dọa sẽ ngừng xuất khẩu các khoáng sản chuyên dụng sang Hoa Kỳ. Họ sử dụng thế độc quyền như một con bài trong cuộc chiến thương mại đang diễn ra giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Đơn vị của Lục quân Mỹ giám sát về đạn dược hồi tháng trước đã yêu cầu các hãng khai khoáng nộp hồ sơ về chi phí cho một nhà máy thí điểm để sản xuất loại đất hiếm nặng, một loại khoáng sản chuyên dụng khá hiếm được sử dụng trong vũ khí, theo tài liệu của chính phủ Mỹ mà Reuters được xem.
Hạn nộp hồ sơ là ngày 16/12. Một số quan chức của các công ty và các nguồn thạo tin cho Reuters biết là nhiều khả năng UCore, Texas Mineral Resources Corp và một liên doanh giữa Lynas Corp và Blue Line Corp sẽ nộp hồ sơ.
Một nhà máy thí điểm xử lý đất hiếm có thể có giá từ 5 triệu đến 20 triệu đô la, tùy thuộc vào vị trí, quy mô và các yếu tố khác; còn một nhà máy quy mô hoàn chỉnh có thể tốn đến hơn 100 triệu đô la để xây dựng, các lãnh đạo doanh nghiệp trong ngành này cho biết
Lục quân Mỹ nói họ sẽ tài trợ tới 2/3 chi phí cho nhà máy tinh chế và họ sẽ tài trợ cho ít nhất một dự án, và có thể sẽ tài trợ nhiều hơn nữa. Các bên nộp hồ sơ phải đưa ra kế hoạch kinh doanh chi tiết và cho biết rõ nguồn quặng của họ ở đâu, bên cạnh các yếu tố khác.

Động thái mới nhất này của Lục quân, một bộ phận của Lầu năm góc, được đưa ra sau một nghiên cứu quân sự hồi đầu năm nay về tình trạng chuỗi cung đất hiếm của Hoa Kỳ.
Căng thẳng về đất hiếm giữa Mỹ và Trung Quốc có nguồn gốc ít nhất là từ năm 2010, khi Trung Quốc hạn chế xuất khẩu sang Nhật Bản sau một tranh chấp ngoại giao, làm cho giá các kim loại cao cấp này tăng vọt và gây lo ngại cho quân đội Hoa Kỳ là Trung Quốc có thể làm điều tương tự với Hoa Kỳ.

1,044

Wednesday, December 11th 2019, 6:35pm

Tại•sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh?
Đặng Hải Nguyên
http://thuatngu.tieng-viet.org/

Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý (ký tự – character) từ Nôm tự (quốc ngữ xưa) sang hệ thống chữ viết biểu âm (chữ cái – letter) dùng chữ cái La tinh (quốc ngữ nay) trong khi các quốc gia đồng văn khác như Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên hay Hàn Quốc) thì không?
A. Trước hết, tôi xin được điểm qua một cách khái quát về hệ thống chữ viết.
Trên thế giới, có nhiều hệ thống chữ viết khác nhau, nhưng tựu chung lại chỉ có hai hệ thống: chữ biểu âm và chữ biểu ý.
Trong hệ thống chữ biểu âm, mỗi biểu tượng(symbol) hoặc ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character), nhưng các ký tự in được (printable character) được sử dụng để đại diện cho mỗi âm hay âm vị còn được gọi là chữ cái (letter). Chẳng hạn như chữ Latin, chữ Ả Rập, chữ Hindu, hiragana (平假名 Bình giả danh) và katakana (片假名 Phiến giả danh) của Nhật Bản. Bảng chữ cái (alphabet) của một số hệ thống chữ viết biểu âm là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói thành từ (word), cụm từ (group of words). Sau đây là các bảng chữ cái tiêu biểu của một số hệ thống:

Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M,N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.
Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν,Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.
Hebrew: (đọc từ phải sang trái) א, ב, ג, ד, ה, ו, ז, ח, ט, י, כ, ל, מ, נ, ס, ע, פ, צ, ק, ר, ש, ת.

Trong hệ thống chữ biểu ý, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc mỗi ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character) đại diện cho một từ, hình vị hay đơn vị ngữ nghĩa. Chẳng hạn như chữ Ai Cập, chữ Hán, chữ Maya và kanji (漢字Hán tự) của Nhật Bản.
Bảng bộ thủ (部首) của hệ thống chữ viết biểu ý Trung Hoa, có thể được coi như Bảng mẫu tự Trung Hoa (Chinese Main Character Table) bởi lẽ 80% toàn bộ chữ Hán được tạo ra bằngphương thức Hình Thanh (形聲), (hay tượng thanh, hài thanh): Mượn phần âm thanh (聲) của một chữ có sẵn rồi ghép vào phần hình (形) chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới.

Bảng bộ thủ được phân loại thành 214 bộ (mẫu tự). Mỗi bộ thủ mẹ (mẫu tự) này được kết hợp với bộ thủ khác hoặc thêm một số nét để tạo thành một ký hiệu mới (new notation) hay ký tự (character) mới, hay chữ con mới (sub-character).
Mẫu Tự Trung Hoa (Chinese Main Character Table) được tạo ra dựa theo tám dạng nét cơ bản:

1. Nét ngang: hoành 一 (viết từ trái sang phải) như trong chữ [一 , nhất], (một)
2. Nét sổ thẳng: trực 丨 (viết từ trên xuống dưới) như trong chữ [十 , thập], (mười)
3. Nét phẩy: phiệt 丿(viết từ trên-trái xuống phải-dưới) như trong chữ [八 , bát],(tám)
4. Nét mác: phật 乁 (viết từ trên-trái xuống phải-dưới) như trong chữ [入, nhập],(vào)
5. Nét móc câu với 5 dạng khác nhau và không hoán đổi nhau được: 乛, 亅, 勹, 乚
- [hoành câu] nét ngang móc 乛 như trong chữ [字 , tự] (chữ)
- [sổ câu] nét đứng móc 亅 như trong chữ [小 , tiểu] (nhỏ)
- [loan câu] nét cong với móc 勹 như trong chữ [狗 , cẩu], (chó)
- [tiết câu] nét mác với móc 乚 như trong chữ [我 , ngã], (tôi)
- [bình câu] nét cong đối xứng với móc như trong chữ [忘 ,vong], (quên)
6. Nét gãy: chiết フ
7. Nét xốc: khiêu 冫 như trong chữ [跳 , khiêu], (nhảy)
8. Nét chấm: điểm 丶 (viết từ trên xuống dưới-phải hoặc trái) như trong chữ [六, lục],(sáu)

Ngoài ra còn một số nét kết hợp không theo chuẩn cơ bản. Bao gồm các dạng nét như sau:
- [sổ bình câu] nét đứng kết hợp với bình câu và móc như trong chữ [也 ,dã], (cũng)
- [phiệt điểm] nét phẩy về trái kết thúc bởi chấm như trong chữ [女 , nữ],(con gái)
- [sổ triệp triệp câu] nét sổ với 2 lần gập và móc như trong chữ [馬 ,mã], (ngựa)
Tuy phân chia chúng ra thành 8 dạng nét cơ bản cho tiện sắp xếp, nhưng trong đó một số nét cơ bản lại có nhiều tiểu dạng khác nhau và các dạng đó không hoán đổi với nhau được. Do vậy, dựa vào thực tế ta cóthể nói Mẫu tự Trung Hoa được tạo ra dựa theo 23 dạng nét (shape) cơ bản.Phương thức Hình Thanh (形聲) gây ra rất nhiều từ đồng âm,người ta phải xem hoặc đọc thêm bằng mắt (vì phần nghĩa do phần hình 形 chỉ định) mới hiểu rõ nghĩa.

1,045

Wednesday, December 11th 2019, 6:38pm

Tuy nhiên, với việc giản thể hoá chữ Hán do chính quyền Trung Quốc khởi xướng sau này nên số bộ thủ tăng thêm 13 bộ nữa. Do đó, bảng bộ thủ (部首) ngày nay gồm 227 bộ thủ (mẫu tự TrungHoa).

B. Tại sao các quốc gia như Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly không đổi hệ thống chữ viết biểu ý (ký tự – character) sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh, duy chỉ có Việt Nam?
Tiếng Trung Hoa, Nhật, Cao Ly và Tiếng Việt Nôm (post-Nôm) là những tiếng đơn âm nên đều mắc phải một trở ngại chung là có nhiều chữ đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa (đồng âm dị nghĩa). Trung Hoa và Nhật Bản không thể đổi sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh mà chỉ để phiên âm cho người nước ngoài học ngôn ngữ bản địa được dễ dàng, chứ không thay thế hẳn như trường hợp Việt Nam vì số âm tiết (syllable) của ngôn ngữ họ hạn hẹp.

Tiếng Bắc Kinh, Phổ Thông hay Quan Thoại chỉ có 1.300 âm, để giải quyết vấn đề đồng âm dị nghĩa do số âm tiết hạn chế người Trung Hoa phải chế ra vô số ký hiệu hay ký tự (character) khác nhau để phân biệt ý nghĩa của chúng dựa vào phương thức Hình Thanh là chính.
Chẳng hạn, một tiếng hay một âm “hoàng”, trong Hán tự có 17 ký tự (character) khác nhau để ghi 17 nghĩa khác nhau (đồng âm dị tự dị nghĩa), âm “kỳ” có 22 ký tự (character), âm “hoa” có 10 ký tự (character) … Họ cố gắng giải quyết vấn đề đồng âm bằng cách ghép hai hay ba ký tự với nhau — tuy nhiên có rất nhiều từ mới gồm hai hoặc ba ký tự hợp thành này, lại cũng thường có nhiều nghĩa. Do đó với hệ thống chữ viễt biểu ý Tiếng Trung Hoa phải dùng 227 bộ thủ (部首) hay mẫu tự Hán để tạo ra 3.000 ký tự cơ bản (basic Chinese character) để ghi lại hơn 50.000 từ (word). Do vậy nếu không thuộc mặt chữ và biết rõ nghĩa của 3.000 ký tự cơ bản (basic Chinese character) của mỗi thời đại thì không thể nói và hiểu rành rọt được Tiếng Hán của thời đại đó.

Trong khi đóTiếng Việt dùng 29 ký tự (chracter) hay chữ cái (letter) hoặc Tiếng Anh chỉ dùng 26 ký tự hay chữ cái cũng để ghi một lượng từ tương đương.

Tiếng Nhật do chỉ có 120 âm, 5 nguyên âm, nên đồng âm dị nghĩa rất nhiều, nếu viết bằng La Tinh thì không rõ nghĩa. Nhật ngữ hiện đại dùng ba thể Kanji, Hiragana, và Katakana. Kanji dùng diễn đạt ý nghĩa cơ bản của từ. Hiragana dùng sau Kanji để bổ túc ý nghĩa và ngữ pháp Nhật. Katakana chỉ dùng để phiên âm hoặc tạo các từ vay mượn của nước ngoài (gairaigo外來語, ngoại lai ngữ).

Người Cao Ly dùng chữ ký âm, được gọi là Hangul (한글) hay Chosŏn’gŭl (조선글) của riêng họ, tuy thoạt nhìn có vẻ giống Hán tự ở một khía cạnh nào đó, nhưng thật ra họ chỉ dùng 24 ký tự giống như bảng chữ cái La Tinh để ký âm tiếng Cao Ly. Do đó, thực sự mà nói là chỉ có Trung Quốc và Nhật Bản là sử dụng hệ thống chữ viễt biểu ý.

Tiếng Việt có thể đổi sang hệ thống chữ biểu âm La tinh để ghi âm nhờ vào sự phong phú về phát âm. Mỗi tiếng nói là do một âm tiết (syllable) kết hợp với một thanh mà tạo thành. Tiếng Việt có khoảng 15.000 âm nên ít bị trường hợp chữ đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa (đồng âm dị nghĩa).
Để có thể ghi lại số lượng âm khổng lồ này, chưa kể f, j, w, z, chúng ta dùng 29 ký tự (printable character) hay chữ cái (letter) bao gồm 12 nguyên âm (vowel) gồm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y; 17 phụ âm (consonant) gồm: b, c, d, đ, g (gh), h, k.l, m, n, p. q, r, s, t, v, x. Như vậy vẫn chưa đủ, ngoài ra ta còn có 3 bán nguyên âm đôi (semi-vowel) gồm: iê, ươ và uô; 9 phụ âm đôi (consonant digraph) gồm: ch, gi, kh, ng(ngh), nh, ph, qu, th, tr, cộng thêm sáu thanh điệu (tones) được ghi bằng các dấu thanh (accent mark) gồm: thanh ngang (không dấu), dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu sắc và dấu nặng.

Thế mới thấy số lượng âm thanh của Tiếng Việt phong phú và giàu chất nhạc vô cùng. Do nhu cầu giao tiếp quốc tế cũng như ghi lại nhiều kiến thức mới, khoa học mới.

1,046

Wednesday, December 11th 2019, 6:43pm

Khuynh hướng đưa thêm các chữ cái F, J, W, Z được dùng để phiên âm tên, địa danh tiếng nước ngoài và dùng trong lĩnh vực khoa học như hoá học, vật lý học, toán học… không được nhiều người ủng hộ.

Ngoài ra, vấn nạn “đồng tự, đồng âm nhưng dị nghĩa” đối với Tiếng Hán là một bài toán nan giải, thế nhưng đối với Tiếng Việt,chúng ta có thể giải quyết một cách triệt để được vấn đề “chữ viết giống nhau,đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa” nhờ thoát ra khỏi sự trói buộc, đóng khung trong phép lục thư (六書) của Trung Hoa và thay vào đó bằng cách ghép các từ đơn (simple word) căn bản thành nhiều từ kép (compound word) mới, cũng như nhiều tiếng mới bằng những nguyên tắc, phương thức mới linh động:

1. Láy từ
Ví dụ:
Trắng tinh, trắng toát, trắng xoá
Đen đúa, đen nghịt, đen ngòm, đen xì.

2. Đồng kết: ghép (kết hợp) từ thuần Việt với từ Nho Việt có cùng nghĩa (đồng nghĩa)
Ví dụ:
Hát xướng: hát (Việt), xướng (Nho).
Trắng bạch: trắng (Việt) + bạch (Nho)

3. Dị tự: sử dụng chữ cái I hoặc Y tạo ra từ mới
Ví dụ:
Lí trong “lí nhí” khác với lý trong “lý tưởng”
Kì trong “kì cọ” khác với kỳ trong “kỳ ngộ”,“kỳ tích”

4. Tạo tân: từ hoàn toàn mới dựa vào dấu thanh
Ví dụ:
Thẻ số: number tag, thẻ tín dụng: credit card
siêu: meta, siêu: super

Tóm lại, Tiếng Việt có thể đổi sang hệ thống chữ biểu âm La tinh để ghi âm nhờ vào sự phong phú về phát âm và nhờ vào số lượng chữ cái dồi dào, 12 nguyên âm (vowel): a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y, 3 bán nguyên âm đôi (semi-vowel): iê, ươ và uô, 17 phụ âm đơn (consonant): b, c, d, đ, g (gh), h, k. l, m, n,p. q, r, s, t, v, x), 9 phụ âm kép (consonant digraph): ch, gi, kh, ng (ngh), nh, ph, qu, th, tr, cộng thêm sáu thanh (tone): thanh ngang (không dấu), dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu sắc và dấu nặng) để có thể ghi lại số lượng âm khổng lồ này.
Thêm vào đó nhờthoát ra được sự trói buộc trong phép lục thư (六書) củaTrung Hoa, chúng ta có thể tạo ra nhiều từ ghép mới bằng những nguyên tắc mới linh động hơn, giảm thiểu được vấn đề đồng âm, đổng tự và góp phần làm trong sáng Tiếng Việt.

1,047

Wednesday, December 11th 2019, 6:53pm

Phụ đính:
Hãy xem cách ghi âm tiếng Tàu bằng chữ cái La Tinh rất là rối rắm:

Tào (Tsao)
Bộc (Pu)
Choang (Zhuang)
Diêu (Yao)
Hứa (Hsu)
Nhạc Hân (Yue Xin)
Lạc Ngọc Thành (Le Yucheng)
Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew)
Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou)
Nhậm Chính Phi (Ren Zhengfei)
Văn Hối Báo (Wen Wei Bao)
Trương Thủ Thịnh (Zhang Shoucheng)
Dương Chấn Ninh (Yang Chen-ning)
Dương Phúc Gia (Yang Fujia)
Hoa Pha (Hua Po)
Vương Toàn Chương (Wang Quanzhang)
Khưu Chiêm Huyên (Qiu Zhanxuan)
Trần Toàn Quốc (Chen Quanguo)
Nghê Lạc Hùng (Ni Lexiong)
Hứa Lợi Bình (Xu Liping)
Lâm Trung Bân (Lin Chong Pin)
La Viện (Lou Yuan)
Tưởng Kinh Quốc (Chiang Ching Kuo)
Cơ Long (Kee Lung)
Nghi Lan (Yi lan)
Hòa Điền Thái Đạt (Hetian Taida)
Bách Độ (Baidu)
Hướng Tùng Tộ (Xiang Songzuo)
Cao Phong (Gao Feng)
Ninh Cát Triết (Ning Jizhe)
Lý Khắc Cường (Li Keqiang)
Đông Phương (Dongfeng)
Hoa Vi (Huawei)
Trần Hương Mai (Chen Xiangmei)
Điền Trì Vĩ (Tien Chin-wei),
Thành Đô (Chengdu)
Sơn Tây (Shanxi)
Sơn Đông (Shandong)
Hà Bắc (Hebei)
Thanh Hải (Qinghai)
Tân Cương (Sinkiang)
Dương Tử (Yangtze)
Hòang Hà (Huang He)
Tập Cận Bình (Xi Jinping)
Hứa Chương Nhuận (Xu Zhangrun)
Lưu Hạc (Liu He)
Nghiêm Đức Phát (Yen Teh Fa)
Điền Nguyên động (Tianyuandong)
Chu Khẩu Điếm (Zhoukoudian)
Lôi Quân (Lei Jun)
Liêu Diệc Vũ (Liao Yiwu)
Vương Duy Lâm (Wang Weilin)
Ngô Quốc Phong (Wu Guofeng)
Bạc Hy Lai (Bo Xilai)
Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo)
Hoàng Kỳ (Huang Qi)
Phạm Trường Long (Fan Changlong)
Hoắc Kiến Hoa (Huo Chien-hwa)
Vân Nam (Yunnan)
Nhậm Chính Phi (Ren Zhengfei)
Vu Đô (Yudu)
Ngụy Phượng Hòa (Wei Fenghe)
Long Hòa (Lung Wo)
Ngũ Tu Quyền (Wu Xiuquan)
Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi)
Vương Gia Tường (Wang Jiaxiang)
Hàn Chính (Han Zheng)
Minh Báo (Ming Pao)
Kiều Kiến Quân (Qiao Jianjun)
Trần Toàn Quốc (Chen Quangguo)
Vương Chí Dân (Wang Zhimin)
Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang)
Thẩm Quyến (Shenzhen)
Triết Giang (Zhejiang)
Dương Quang (Yang Guang)
Mã Hiểu Quang (Ma Xiaoguang)
Tiền Học Sâm (Qian Xue-sen)
Đồng La Loan (Causeway Bay)
Lương Thiên Kỳ (Leung Tinkei)
Thụ Nhân (Shue Yan)
Nguyên Lãng (Yuen Long)
Cảnh Biểu (Geng Biao)
Lý Gia Thành (Li Ka-shing)
Vương Toàn Chương (Wang Quanzhang)
Trương Dương (Zhang Yang)
Bành Hạo Tường (Pang Ho-cheung)
phổ thông thoại (potongwa)
Lương Chấn Anh (Leung Chun-ying)
Hán nhân chủng (Han renzhong)
Hán tộc (Hanzu)
Mông Cổ (Menggu)
Châu Dong (Zou Gong)
Trung Cộng nhân chủng' (Zhongguo renzhong)
Hoàng đế (Huangdi)
Lam Kình (Lanjing)
Hồ - Quảng (Hukuang = Hồ Nam và Quảng Châu)
Bách Độ (Baidu)
Tưởng Kinh Quốc (Chiang Ching-kuo)
Tưởng Phương Trí Di (Chiang Fang Chi-yi)
Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai–shek)
Ngô Khiêm (Wu Qian)
Thái Cổ Thành (Tai Koo Shing)
Hàn Chính (Han Zheng)
Hải Dương Thạch Du (Haiyang Shiyou)
Hải Dương Địa Chất (Haiyang Dizhi)
Tây Loan Hà (Sai Wan Ho)
Mã Ôn Sơn (Ma On Shan)
Nghiêm Phục (Yan Fu)
Vương Quốc Duy (Wang Guo-Wei)
Trương Sĩ Chiêu (Zhang Shi-Zhao)
Trần Toàn Quốc (Chen Quanguo)
Sa Điền (Sha Tin)
Lưu Hiểu Minh (Liu Xiaoming)
Chu Bảo Tùng (Chow Po Chung)
Liêu Diệc Vũ (Liao Yi Wu)
Tăng Ngọc Thành (Tsang Yuk Shing)
Cảnh Sảng (Geng Shuang)
Trịnh Hòa (Zhang He)
Mã Hoan (Ma Huan)
Tạ Xuân Đào (Xie Chuntao)
Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao)
Trần Hương Mai (Chen Xiangmei)
Hán Hòa (Kanwa)
Quế Mẫn Hải (Gui Minhai)

1,048

Wednesday, December 18th 2019, 6:31am

Người giúp cựu sĩ quan KGB Vladimir Putin trở thành tổng thống
Steve Rosenberg
BBC News, Moscow
17 tháng 12 2019

Qua các thời đại, các nhà lãnh đạo Nga đã giành được quyền lực theo nhiều cách khác nhau. Đối với Sa hoàng, đó là do sinh ra; Vladimir Lenin thông qua cách mạng; tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô thì bằng cách leo lên các vị trí trong bộ chính trị và chờ đến lượt được lên chức. 20 năm trước, Vladimir Putin đã được trao quyền lực tại Kremlin. Cựu sĩ quan của KGB - cơ quan mật vụ của Nga - đã được Tổng thống Boris Yeltsin cùng bộ sậu tuyển chọn để đưa Nga tiến vào Thế kỷ 21. Nhưng tại sao Putin được chọn?

Người phó tài giỏi
Valentin Yumashev đóng vai trò quan trọng trong việc Vladimir Putin trở thành tổng thống Nga. Ông từng là nhà báo trước khi trở thành quan chức tại Kremlin, hiếm khi Yumashev trả lời phỏng vấn, nhưng ông đã đồng ý gặp tôi và kể câu chuyện của ông.
Yumashev là một trong những phụ tá đáng tin cậy nhất của Boris Yeltsin - ông kết hôn với con gái của ông Yeltsin, Tatyana. Là quản lý nhân sự của Yeltsin, năm 1997, ông Yumashev đã giao cho ông Putin công việc đầu tiên tại Điện Kremlin. Yumashev nhớ lại:
"Anatoly Chubais, giám đốc điều hành sắp mãn nhiệm của Yeltsin, nói với tôi rằng ông biết một người quản lý mạnh mẽ, người sẽ làm một phó tướng đắc lực cho tôi. Ông ấy giới thiệu tôi với Vladimir Putin và chúng tôi bắt đầu làm việc cùng nhau. Tôi ngay lập tức nhận ra năng lực tuyệt vời của Putin. Ông ấy rất xuất sắc trong việc đưa ra các ý tưởng, trong việc phân tích và tranh luận về các quan điểm của mình. Có một khoảnh khắc, tôi đã tự hỏi, khi nào người đàn ông này trở thành tổng thống? Yeltsin có một vài ứng cử viên trong đầu, như Boris Nemtsov, Sergei Stepashin và Nikolai Aksenenko. Yeltsin và tôi đã nói rất nhiều về những người có thể kế vị. Và chúng tôi nhắc đến Putin. Yeltsin hỏi tôi: 'Ông nghĩ gì về Putin?'. Tôi nghĩ anh ấy là một ứng cử viên tuyệt vời, tôi trả lời. Tôi nghĩ ông nên xem xét người này. Cung cách làm việc của người này cho thấy rằng anh ấy đã sẵn sàng cho những trách nhiệm khó khăn hơn."

Liệu quá khứ từng làm việc KGB có cản trở Putin?
Yumashev trả lời:
"Rất nhiều đặc vụ KGB đã rời khỏi tổ chức như Putin. Việc ông ta là cựu điệp viên KGB chẳng có vấn đề gì. Putin đã thể hiện mình là một người theo chủ nghĩa tự do và là một nhà dân chủ, người muốn tiếp tục cải cách."

Kế thừa trong bí mật
Vào tháng 8/1999, ông Vladimir Yeltsin bổ nhiệm Vladimir Putin làm thủ tướng. Đó là dấu hiệu rõ ràng rằng Tổng thống Yeltsin đang chuẩn bị để Putin kế nhiệm tại Điện Kremlin. Ông Yeltsin vẫn còn một năm trước khi kết thúc nhiệm kỳ, nhưng vào tháng 12/1999, ông đã đưa ra quyết định bất ngờ là đi sớm. Yumashev kể lại:
"Ba ngày trước Tết, Yeltsin triệu tập Putin. Ông ấy yêu cầu tôi có mặt, và cả Alexander Voloshin, nhân viên mới của ông ấy nữa. Ông ấy nói với Putin rằng ông sẽ không ở lại tới tận tháng Bảy. Ngày 31/12, ông ấy từ chức. Chỉ có một nhóm nhỏ người biết: tôi, Voloshin, Putin và con gái của Yeltsin, Tatyana. Yeltsin thậm chí còn không nói với vợ. Ông Yumashev được giao nhiệm vụ viết bài phát biểu từ chức của Yeltsin. Đó là một bài phát biểu khó viết. Chắc chắn văn bản sẽ đi vào lịch sử. Thông điệp rất quan trọng. Đó là lý do tại sao tôi viết dòng nổi tiếng 'Hãy tha thứ cho tôi'. Người Nga đã phải chịu cú sốc và căng thẳng như vậy trong những năm 1990. Yeltsin phải nói về những điều này. Vào đêm giao thừa năm 1999, Boris Yeltsin ghi hình phát biểu trên truyền hình cuối cùng của mình ở Điện Kremlin. Nó đến như một cú sốc cho tất cả mọi người tại đó. Ngoại trừ tôi, người đã viết bài phát biểu. Mọi người bật khóc. Đó là một khoảnh khắc xúc động. Nhưng điều quan trọng là tin tức không bị rò rỉ. Vẫn còn bốn giờ trước khi có thông báo chính thức. Vì vậy, mọi người phải ở trong căn phòng lúc đó bị khóa cửa. Họ không được phép rời đi. Tôi lấy băng và lái xe tới đài truyền hình. Bài phát biểu được phát vào giữa trưa. "

Vladimir Putin trở thành quyền tổng thống. Ba tháng sau, ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.

Một thành viên của 'Gia đình'?
Valentin Yumashev thường được xem là một thành viên của "Gia đình" - vòng tròn gồm những người 'thân tín' của Boris Yeltsin - được cho là đã gây ảnh hưởng đến ông ta vào cuối những năm 1990.
Ông Yumashev nói rằng "Gia đình" chỉ là một huyền thoại. Nhưng chẳng có mấy nghi ngờ việc trong những năm 1990, sức khoẻ của Tổng thống Yeltsin bị suy yếu, nhà lãnh đạo Kremlin đã đặt niềm tin của mình, ngày càng nhiều, vào một nhóm nhỏ gồm người thân, bạn bè và các doanh nhân. Valery Solovei nhà khoa học chính trị giải thích:
"Đoàn tùy tùng của Putin không gây ảnh hưởng như thế này. Có hai loại người mà Putin hướng tới: những người bạn thời thơ ấu, như anh em Rotenberg và những người từng phục vụ trong KGB Xô Viết. Nhưng ông ấy không đánh giá cao quá mức lòng trung thành của họ. Yeltsin tin tưởng các thành viên trong gia đình ông ấy. Putin không tin tưởng ai cả."

Không hối tiếc
Ông Putin vẫn nắm giữ được quyền lực, với tư cách là tổng thống hoặc thủ tướng, trong 20 năm. Trong thời gian đó, ông đã xây dựng một hệ thống quyền lực quanh mình. Nga đã trở thành một quốc gia ngày càng độc tài, với ít quyền và tự do dân chủ hơn. Ông Solovei nói:
"Yeltsin tin rằng ông có một nhiệm vụ và Putin cũng vậy. Yeltsin tự coi mình là Moses: ông muốn dẫn dắt đất nước của mình thoát khỏi chế độ nô lệ cộng sản. Nhiệm vụ của Putin là trở về quá khứ. Ông muốn trả thù những gì ông gọi là 'thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ 20', sự sụp đổ của Liên Xô. Ông và đoàn tùy tùng của ông, cựu sĩ quan KGB, tin rằng sự hủy diệt của Liên Xô là do tình báo phương Tây."

Giờ đây, hầu như không thể nhận ra Vladimir Putin là nhân vật theo chủ nghĩa tự do mà ông Yumashev nhớ lại. Vậy, sếp cũ của Putin có hối hận khi trao cho ông ta công việc không? Yumashev nói và khẳng định thêm:
"Tôi không hối tiếc. Rõ ràng là người Nga vẫn tin tưởng Putin".

Tuy nhiên, ông Yumashev nghĩ rằng:
" Việc từ chức của ông Vladimir Yeltsin sẽ là bài học cho tất cả các tổng thống Nga: việc từ chức và nhường chỗ cho những người trẻ tuổi là rất quan trọng. Đối với Yeltsin, điều này là cực kỳ quan trọng."

16 users apart from you are browsing this thread:

16 guests

Similar threads