You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

61

Saturday, June 27th 2015, 5:53am

Xem ra VN chỉ có " con bài át chủ " là vịnh Cam Ranh ( theo như lời bọn giặc TC nói ).

Và xem ra TC rất quan tâm đến việc VN sẽ dùng con " át chủ " nầy như thế nào trong ván bài sinh tử.
Có thể TC quan tâm thật mà cũng có thể TC dùng sự việc nầy như một cái cớ để bất thần ồ ạt tấn công vịnh Cam Ranh của VN.
TC chỉ dám thực hiện và nhứt định sẽ thực hiện dã tâm đó nếu như lực lượng duy nhất đồn trú ở vịnh Cam Ranh là lực lượng Hải Quân VN.

- Nếu như vịnh Cam Ranh mà lọt vào tay Mỹ thì mộng bá chủ của TC sẽ xẹp như bong bóng xì hơi. Tập Hoàng Đế sẽ tiếp tục " thao quang dưỡng hối ", tiếp tục làm đàn em bất đắc dĩ, để ẩn nhẫn chờ thời. TC sẽ chẳng dám bén mãng tới vịnh Cam Ranh là chổ " Long đàm hổ huyệt ". TC cũng sẽ từ bỏ ý đồ tấn công vào lãnh thổ VN vì " vuốt mặt cũng phải nể lỗ mũi " và cũng chắng có lợi lộc gì để gây chiến với VN nữa.

- Nếu như vịnh Cam Ranh mà lọt vào tay Nga thì đó mới là cơn ác mộng của TC. Tại sao ?
Tại vì Mỹ thì chỉ giới hạn ở việc kềm chế TC, nhưng Nga mới là đối thủ tiềm năng của TC. Có khi TC chẳng thà giúp cho MỸ vào vịnh Cam Ranh còn hơn là thấy Nga sử dụng hải cảng trọng yếu nầy. Và đây cũng là giải pháp lợi trước mắt mà hại sau lưng rất nhiều cho VN. Chọn giải pháp nầy là VN sẽ di hại cho đời sau vì họa TC xâm lăng vẫn còn đó và ngày thêm sôi sục.

- Nếu như cả Nga và Mỹ cùng kèn cựa nhau, mà VN không tìm ra một giải pháp nào có lợi nhất cho quê hương và làm vừa lòng hai bên thì thật là bất hạnh cho dân tộc. Tại sao ?
Vì đây là tình trạng mà TC có lợi nhất và mong muốn nhất.

Rất mong VN tận dụng một cách khôn ngoan của báu nầy mà giử yên bờ cõi.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 4th 2015, 9:51pm)


62

Saturday, June 27th 2015, 6:08am

Huyền Cao giả mệnh khao quân Tần
( Đông Châu Liệt Quốc )

Nước Trịnh có một người lái buôn, tên gọi Huyền Cao, vẫn làm nghề buôn trâu. từ khi vương tử Đái nhà Chu thích chơi trâu, các lái trâu ở nước Trịnh và nước Vệ đem trâu đến bán, được lãi to lắm, bởi vậy Huyền Cao còn giữ nghề ấy. Huyền Cao dẫu là người lái buôn, nhưng vẫn có lòng trung quân ái quốc, chỉ vì không gặp người tiến dẫn, thành ra chẳng ai biết đến. Bấy giờ Huyền Cao buôn được mấy trăm con trâu béo, định đem sang nhà Chu để bán.
Khi đi đến gần bến Lê Dương, gặp một người bạn cũ tên là Kiến Tha mới ở nước Tần về. Huyền Cao hỏi :

Nước Tần độ này có chuyện gì lạ không ?

Kiến Tha nói :

- Trong hồi tháng chạp mới rồi, nước Tần có sai ba tướng đem quân đi, hình như muốn đánh úp nước Trịnh, không bao lâu nữa quân Tần sẽ sang đến nơi.

Huyền Cao giật mình mà nói rằng :

- Nước cha mẹ của ta, nay có cái tai nạn ấy, ta không nghe được thì thôi, nếu nghe được mà không cứu thì một mai nước mất, ta còn mặt mũi nào mà trở về nữa !

Huyền Cao nghĩ ra một kế, bèn từ biệt Kiến Tha, rồi một mặt sai người phi báo cho nước Trịnh biết mà phòng bị ; lại một mặt chọn hai mươi con trâu béo để sửa soạn làm lễ khao quân. Huyền Cao ngồi một cái xe nhỏ đi đón quân Tần.

Đi đến đất Diên Tân nước Hoạt, gặp tiền đội quân Tần, Huyền Cao đón ngang dọc đường mà nói với quân Tần rằng :

- Tôi là sứ thần nước Trịnh xin yết kiến quan nguyên soái.

Quân tiền đội báo với Mạnh Minh, Mạnh Minh giật mình, nghĩ rằng : Tại sao nước Trịnh biết có quân ta đến mà sai sứ thần đón ? âu là ta hãy tiếp kiến, để xem thế nào. Mạnh Minh nói xong, liền tiếp huyền Cao.

Huyền Cao làm như phụng mệnh vua Trịnh nói với Mạnh Minh rằng:

- Chúa công tôi nghe tin ba vị tướng quân, sắp sửa đem quân đi qua nước tôi, vậy có sai tôi dâng lễ mọn này, để khao các hàng quân sĩ. Nước tôi tiếp giáp các nước lớn, thường hay có việc can thiệp, nhờ có quân quý quốc đóng đồn để giữ hộ cho, nhưng nước tôi vẫn lo sợ rằng lỡ khi có sự bất trắc, lại nên tội với thượng quốc, bởi vậy phải hết sức ngày đêm phòng giữ, không dám trễ nải, xin ba vị tướng quân xét cho .

Mạnh Minh nói :

- Vua Trịnh sai nhà người khao quân, sao không có quốc thư ?

Huyền Cao nói :

- Chúa công tôi nghe tin các vị tướng quân khởi hành từ tháng chạp, mà quân đi gấp lắm, sợ đợi sửa quốc thư thì không kịp nghênh tiếp bời vậy chỉ truyền miệng cho tôi ra đây, xin các vị tướng quân lượng thứ cho.

Mạnh Minh ghé tai Huyền Cao mả bảo nhỏ rằng :

- Chúa công tôi sai chúng tôi đem quân đi đây là định đánh nước Hoạt, không phải có ý đến nước Trịnh đâu !

Nói xong, truyền đóng quân lại ở đất Diên Tân. Huyền Cao tạ ơn lui ra. Tây Khất Thuật và Kiến Bính hỏi Mạnh Minh rằng :

- Tướng quân đóng quân lại đây, là có ý gì ?.

Mạnh Minh nói :

- Quân ta đi xa hai nghìn dặm, chỉ có nhân lúc nước Trịnh bất ngờ để tiến đánh, nay người nước trịnh đã biết mà phòng bị trước, ta đánh cũng chẳng được nào. Vả ta muốn vây nước Trịnh thì lại không có quân tiếp ứng, chi bằng tiện đây ta đánh úp nước Hoạt, để khỏi mang tiếng là đem quân đi mà không được việc gì.

Đêm hôm ấy, ba tướng nước Tần chia quân làm ba mặt lẻn vào đánh lấy thành nước Hoạt. Vua nước Hoạt bỏ chạy sang nước Địch. Quân Tần bắt lấy hết sạch châu báu ngọc lụa của nước Hoạt. Nước Hoạt bị tàn phá, và sau đó lại bị nước Vệ kiêm tính mất.

Trịnh Mục công tiếp được mật báo của Huyền Cao, chưa lấy gì làm tin lắm, tức thì sai người dò thám bọn Kỷ Tử, xem tình hình thế nào. Bấy giờ đã thượng tuần tháng hai, bọn Kỷ Tử đang sửa soạn xe cộ và khí giới chỉ đợi quân Tần đến nơi thì trong ngoài hợp sức mà đánh Quân sĩ về báo Trịnh Mục công. Trịnh Mục công sợ hãi, liền sai lão đại phu là Chúc Vũ đến yết kiến bọn Kỷ Tử, đưa biếu mỗi người một tấm lụa mà bảo rằng:

- Các ngài đóng quân ở nước tôi, nước tôi vì việc khoản đãi mà hươu nai ở chốn Nguyên Phố đã hết sạch cả, nay nghe tin các ngài đang sửa soạn quân mã, tất là muốn thu quân về nước. Hiện nay Mạnh Minh cùng các tướng đã tiến quân đến nước Hoạt, sao các ngài không đi theo ? .

Kỷ Tử giật mình, thầm trong lòng rằng :

Mưu kế của ta đã tiết lộ ra rồi, quân đến mà vô công thì ta là hữu tội, chẳng những không ở yên được nước Trịnh, mà muốn về nước Tần cũng không được nữa.

Kỷ Tử xin lỗi với Chúc Vũ, rỗi bỏ trốn sang nước Tề. Phùng Tôn và Dương Tôn cũng sợ tội, bỏ trốn sang nước Tống. Quân lưu thú không có chủ tướng họp nhau toan nổi loạn. Trinh Mục công sai Dật Chi Hỗ đem lương thực cấp phát cho quân Tần để về nước ; rồi ghi công Huyền Cao, cử cho làm chức quận úy. Từ đó nước Trịnh được yên
ổn.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 27th 2015, 6:21am)


63

Wednesday, July 1st 2015, 6:21pm

Nhận Định Về Kịch Bản Chiến Tranh Từ Trung Quốc
14-9-2008
GNA: bài viết đăng trên nhiều blogs của TQ và VN. Đăng lại từ blog viet studies của GS Trần Hữu Dũng ngày 23/5/2014

“Tiến công Việt Nam theo kế hoạch A: đánh một trận, thiên hạ sẽ ổn định”

Điều nghiên chiến lược

Từ trước đến nay Việt Nam và Đông Nam Á đều thuộc phạm vi thế lực truyền thống của Trung Quốc. Trong phần lớn thời gian của lịch sử, Trung Quốc và Việt Nam là láng giềng hữu hảo. Nhưng từ sau thập kỷ 70 của thế kỷ trước, do thực lực của nước ta suy yếu nên đã dần dần mất đi quyền kiểm soát đối với khu vực này. Việt Nam nhân cơ hội này đã xâm chiếm lãnh thổ của nước ta, đưa tới hai nước thù địch, giao chiến với nhau.

Hiện nay, Việt Nam là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với an ninh lãnh thổ Trung Quốc, là trở ngại lớn nhất đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhìn từ góc độ khác cho thấy Việt Nam cũng là đầu mối và trung tâm chiến lược của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Muốn kiểm soát lại Đông Nam Á cần chinh phục Việt Nam. Chinh phục Việt Nam là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất để Trung Quốc mở rộng về phía Nam.

Việt Nam là nước có thực lực quân sự mạnh nhất ở Đông Nam Á, lại có kinh nghiệm chiến tranh phong phú, đặc biệt là kinh nghiệm tác chiến với các nước lớn quân sự. Cho nên nhìn từ góc độ nào thì Việt Nam đều là “khúc xương khó nhằn”. Dựa theo câu nói của Mao Chủ tịch thì về chiến lược chúng ta cần coi thường địch, nhưng về chiến thuật phải coi trọng đối thủ. Cho nên hành động quân sự đối với Việt Nam cần phải có một kế hoạch tác chiến tỷ mỉ khoa học.

Địa hình Việt Nam rất đặc thù, ví von một cách thông tục thì Việt Nam giống như một con rắn nước kỳ quái nằm ở cực Đông của bán đảo Trung Nam.

Hướng Bắc-Nam thì dài, hướng Đông – Tây thì hẹp. Chiều dài Bắc-Nam khoảng 1600km, chỗ hẹp nhất hướng Đông-Tây chỉ có 50km.

Địa thế Việt Nam phía Tây cao, phía Đông thấp, địa hình ba phần tư là núi và cao nguyên.

Phía Bắc Việt Nam nhiều dãy núi liên tiếp nhau bị ngăn cách bởi những khe núi vực sâu, cao 300-1500m so với mặt nước biển. Phía Nam là cao nguyên và đồi núi, cao 500-1500m so với mặt nước biển. Trên núi sông suối nước chảy xiết, mùa mưa nước lũ tràn lan, rừng rậm nhiệt đới bao phủ 40% diện tích toàn lãnh thổ. Cho nên phần lớn các khu vực ở Việt Nam không thích hợp với tác chiến cơ động với quy mô lớn.

Theo bài học thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và kinh nghiệm thành công của chúng ta trong cuộc chiến tranh phản kích tự vệ, việc sử dụng lực lượng sơn cước và máy bay trực thăng vũ trang là biện pháp tốt nhất tiến hành chiến tranh sơn địa và chiến tranh rừng núi. Chỉ cần đột phá được tuyến phòng ngự ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, một khi tiến vào đồng bằng sông Hồng thì lực lượng thiết giáp sẽ lại phát huy uy lực lớn.

Còn việc đưa lực lượng thiết giáp theo cách tiến công cũ như trong cuộc chiến tranh phản kích tự vệ đã chứng minh không thành công. Như vậy chỉ có thể mở một chiến trường mới, tập kết nhanh chóng và hiệu quả với quy mô lớn lực lượng thiết giáp. Việc thực hiện đòn đột kích mang tính hủy diệt đối với khu vực trung tâm của địch là điều then chốt để giành chiến thắng trên mặt đất.

Làm thế nào chế phục được Việt Nam “con rắn kỳ quái này?”

Điều chủ yếu quyết định bởi việc làm thế nào nhanh chóng chặt đứt đầu rắn. Tục ngữ Trung Quốc có câu “đánh rắn đánh phải đánh vào đốt thứ 7, vị trí đốt thứ 7 là chỗ hiểm của rắn”.

Chúng ta chú ý thấy rằng khu vực ven biển miền Trung Việt Nam có một địa phương gọi là Thanh Hoá. Khu vực này là mũi cực Nam của đồng bằng sông Hồng, là cửa đi ra biển của sông Mã. Từ Thanh Hoá hướng về phía Nam và Đông Tây, địa hình đột nhiên thu hẹp lại giống như cổ con rắn, chia cắt Việt Nam thành 2 phần Nam-Bắc hoàn toàn khác nhau.

Toàn bộ tuyến đường sắt và đường bộ huyết mạch chủ yếu nối liền hai miền Bắc – Nam đều đi qua Thanh Hoá — mảnh đất nhỏ hẹp này. Vị trí địa lý của Thanh Hoá rất giống tuyến đường độc đạo chiến lược Cẩm Châu của nước ta. Cho nên, Thanh Hoá chính là yết hầu khống chế đầu rắn phía Bắc của Việt Nam. Bóp nghẹt yết hầu này, cũng có nghĩa là bóp nghẹt đốt thứ 7 của con rắn.

Thanh Hoá có địa thế thấp, đồng thời cũng là bình nguyên rộng bằng phẳng, rất thích hợp với việc tiến hành đổ bộ với quy mô lớn. Nếu vận dụng phương pháp đổ bộ, thì có thể nhanh chóng đưa nhiều lực lượng thiết giáp vào chiến trường. Như vậy xe tăng một khi đổ bộ lên bờ sẽ tránh gặp phải địa hình núi non, tận dụng ưu thế địa hình đồng bằng, nhanh chóng tiến về Hà Nội. Nếu việc tác chiến đổ bộ ở Thanh Hoá diễn ra thuận lợi, sẽ khiến cục diện toàn bộ chiến trường nẩy sinh thay đổi cơ bản, khiến việc quân ta nhanh chóng giải quyết vấn đề Việt Nam có thể trở thành khả năng.

Điều kiện đổ bộ thuận lợi như vậy, vì sao quân Mỹ trước đây không lợi dụng. Điều này chủ yếu là do trong thời gian chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc đã cảnh cáo Mỹ cấm vượt qua vĩ tuyến 17. Mỹ luôn nhớ đến thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, cho nên lời cảnh cáo của Trung Quốc đã có tác dụng răn đe nhất định. Còn Thanh Hoá nằm ở gần vĩ tuyến 20. Đến ngay vĩ tuyến 17 quân Mỹ không dám vượt qua, thì việc đổ bộ lên Thanh Hoá càng không dám nghĩ đến.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 4th 2015, 9:52pm)


64

Wednesday, July 1st 2015, 6:38pm

Tổng hợp những xem xét trên, chế định ra kế hoạch tác chiến tiến công Việt Nam dưới đây:

1-Bố trí binh lực:

Việc tác chiến với Việt Nam quyết định đột kích theo 3 hướng, chiến pháp là “hướng tâm hợp vây” và thực hiện phương châm chiến lược Bắc trước Nam sau. Dựa vào phương châm chiến lược này chia lực lượng tiến công thành 3 tập đoàn chiến dịch Bắc, Đông và Nam.

Hướng Vân Nam: lấy tập đoàn quân 14 thuộc lục quân làm chủ lực đảm nhận nhiệm vụ tiến công của tập đoàn Bắc. Đồng thời để thích ứng với nhu cầu trong giai đoạn đầu khai chiến tiến hành tác chiến ở vùng núi, sẽ rút 1 lữ đoàn sơn cước và 1 đại đội vận tải đường không của tập đoàn quân 13 tăng cường cho tập đoàn quân 14. Hướng Vân Nam tổng cộng có khoảng 60 nghìn quân.

Hướng Quảng Tây: lấy tập đoàn quân 42 làm chính, đảm nhận nhiệm vụ tiến công của tập đoàn Đông; rút 1 lữ đoàn thiết giáp và 1 trung đoàn vận tải đường không của tập đoàn quân 41 tăng cường cho tập đoàn quân 42. Sư đoàn không quân số 2 thuộc lực lượng không quân phụ trách chi viện trên không cho tập đoàn Đông. Hướng Quảng Tây tổng cộng có 100 nghìn quân.

Hướng đổ bộ từ biển của tập đoàn Nam: tập đoàn quân số 1 của lục quân và 2 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến đảm nhận nhiệm vụ tiến công chủ yếu. Sư đoàn cơ giới 127 thuộc tập đoàn quân 54 của lục quân là lực lượng thê đội 2, đảm nhận là mũi đột kích bằng xe tăng chủ yếu tiến công Hà Nội. Đồng thời chủ lực hạm đội Nam Hải và lực lượng không quân thuộc hải quân phụ trách chuyên chở quân đổ bộ và chi viện yểm trợ trên không ở khu vực tác chiến này.
Sư đoàn không quân số 9 thuộc lực lượng không quân thì phụ trách kiểm soát không phận khu vực miền Trung Việt Nam. Tập đoàn Nam tổng cộng khoảng 150 nghìn quân, trong đó lực lượng đổ bộ khoảng 100 nghìn quân.


Tập đoàn quân 24 và quân đoàn lính dù số 15 thuộc quân khu Tế Nam là lực lượng dự bị.

Cho đến nay, tổng số binh lực tham chiến của quân ta khoảng 520 nghìn quân (không tính lực lượng tên lửa và không quân chiến lược), tác chiến tại tuyến 1 có 310 nghìn quân. Dự tính đưa 1200 xe tăng 3000 xe thiết giáp, 3200 máy bay chiến đấu các loại vào tham gia tác chiến.

2 – Thực hiện tác chiến:

Dự kiến thời gian tác chiến là 31 ngày:

a – Giai đoạn tiến công chiến lược:

* Ngày đầu tiên của chiến tranh: lực lượng tên lửa của ta bắt đầu tiến hành tiến công đợt 1 bằng tên lửa đối với 300 mục tiêu chính trị quân sự quan trọng trên toàn bộ lãnh thổ của địch. Sẽ phóng vào lãnh thổ địch 500 tên lửa chiến thuật tầm ngắn, 100 tên lửa chiến thuật hành trình, hải quân sẽ phóng 200 tên lửa hành trình từ căn cứ trên đất liền100 tên lửa hành trình từ căn cứ trên biển. Lực lượng kỹ thuật điện từ tiến hành gây nhiễu điện từ mạnh đối với trung tâm chỉ huy, hệ thống thông tin và rađa của địch. Máy bay oanh tạc chiến lược tiến hành oanh tạc chiến lược có trọng điểm đối với các nhà máy phát điện và cơ sở công nghiệp cỡ lớn của địch.

* Ngày thứ hai: lực lượng không quân và lực lượng không quân thuộc hải quân xuất kích 1000 lượt máy bay tiến hành tiến công hoả lực chính xác đợt 2 đối với các mục tiêu quân sự quan trọng của địch và tiến hành đánh giá hiệu quả của cuộc tiến công bằng tên lửa đợt 1. Lực lượng tên lửa tiếp tục phóng 300 tên lửa chiến thuật về phía địch.

* Ngày thứ ba: lực lượng không quân và lực lượng không quân thuộc hải quân xuất kích 1500 lượt máy bay tiến hành không tập với quy mô lớn hơn các mục tiêu quân sự quan trọng của địch. Tiêu diệt triệt để lực lượng không quân và hải quân còn lại của quân đội Việt Nam. Hải quân tiếp tục phóng 100 tên lửa hành trình từ căn cứ trên đất liền, tiến hành phá huỷ các điểm đã xác định.

b – Giai đoạn tiến công chiến thuật:

* Ngày thứ tư: lực lượng không quân và lực lượng không quân thuộc hải quân xuất kích 1000 lượt máy ba tiến hành tiến công hoả lực lần thứ 3 đối với các mục tiêu quân sự chủ yếu của địch. Đồng thời các tập đoàn quân tiến công sử dụng Katusha tầm xa và pháo cỡ lớn tiến hành đột kích đối với các mục tiêu quan trọng của địch.

Hạm đội Nam Hải hoàn thành nhiệm vụ phong toả toàn bộ khu vực biển vịnh Bắc Bộ và tuyến đường phía cực Nam của Nam Hải (biển Đông). Hạm đội Đông Hải thực hiện cảnh giới vòng ngoài, thực hiện vu hồi từ xa.

* Ngày thứ năm: lực lượng không quân và lực lượng không quân của hải quân xuất kích 500 lượt máy bay tiến hành oach tạc chính xác có trọng điểm đối với các mục tiêu quân sự quan trọng của địch. Đập tan khả năng phản kích của địch. Máy bay trực thăng tiến công của lục quân phối hợp với pháo binh mặt đất tiến hành đột kích các mục tiêu nằm sâu trong chiến tuyến của địch. Đồng thời các lực lượng tham gia tiến công tiến vào vị trí tập kết,
10 tàu đổ bộ cỡ lớn và 100 tàu đổ bộ cỡ vừa chuyên chở quân đổ bộ xuất phát từ các quân cảng. Lực lượng không quân của hải quân và lực lượng tàu ngầm chịu trách nhiệm bảo vệ việc đổ bộ cũng như không phận có liên quan.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 1st 2015, 6:48pm)


65

Thursday, July 2nd 2015, 5:37am

c – Giai đoạn tác chiến trên mặt đất:

* Sáng sớm ngày thứ sáu: các lực lượng tiến công tiến hành chuẩn bị hoả lực trong 1 tiếng đồng hồ cuối cùng, sau đó từ 3 hướng Bắc, Đông và Nam nhanh chóng tiến vào bên trong lãnh thổ Việt Nam. Hướng tiến công của tập đoàn Bắc và tập đoàn Đông vẫn đi theo hướng mà trong cuộc chiến tranh phản kích tự vệ năm 1979 đã vận dụng. 2 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến thuộc thê đội đổ bộ thứ nhất của tập đoàn Nam lần lượt mở hướng đổ bộ ở hai khu vực Tịnh Gia và Lặc Trường, sau đó hoà nhập vào nhau.

* Ngày thứ bảy và thứ tám: lực lượng đổ bộ củng cố trận địa trên các bãi đổ bộ. Chủ lực của tập đoàn quân số 1 tiếp tục đổ bộ lên bờ mở rộng khu vực đổ bộ. Đồng thời sử dụng binh lực của 1 trung đoàn nhanh chóng tiến về phía Nam, dựa vào địa hình có lợi, ngăn cản quân đội Việt Nam tiến về chi viện cho phía Bắc.

* Ngày thứ chín và thứ mười: chủ lực tập đoàn quân số 1 công chiếm Thanh Hoá, cắt đứt sự liên hệ giữa chủ lực quân Việt Nam ở phía Bắc với các lực lượng ở phía Nam, hoàn thành việc bao vây chiến lược đối với Hà Nội. Đồng thời sử dụng binh lực của 1 sư đoàn công chiếm Nghĩa Đàn và dựa vào địa hình và tuyến ven biển thực hiện phòng ngự đối với hướng Nam, ngăn cản quân đội Việt Nam chi viện cho phía Bắc.

* Ngày thứ mười một: tập đoàn Bắc và tập đoàn Đông lần lượt tiến công đột phá Yên Bái và Lạng Sơn, hình thành thế tiến công gọng kìm đối với Hà Nội. Sư đoàn cơ giới 127 của tập đoàn quân 54 của lục quân hoàn thành việc đổ bộ.

* Ngày thứ mười hai và mười ba: sư đoàn 127 tiến về Hà Nội, nhanh chóng công chiếm Ninh Bình. Như vậy 3 tập đoàn đột kích chiến dịch Bắc, Đông và Nam của ta sẽ lần lượt tiến vào khu vực dự định, hoàn thành việc bao vây Hà Nội.

* Ngày thứ mười bốn và mười lăm: các đơn vị đóng nguyên vị trí đợi lệnh, nghỉ ngơi chỉnh đốn đội ngũ, củng cố các khu vực đã chiếm. Lực lượng không quân và pháo tầm xa của ta tiến hành chuẩn bị tiến công hoả lực trước khi tổng tiến công. Đồng thời tập đoàn quân 24 tiếp tục đưa vào chiến trường Việt Nam .

* Ngày thứ mười sáu: bắt đầu tổng tiến công Hà Nội, dự kiến trong 3 ngày hoàn thành việc công chiếm Hà Nội.

* Ngày thứ mười chín, hai mươi: các lực lượng nghỉ ngơi 2 ngày.

* Ngày thứ hai mốt: chủ lực của tập đoàn quân 24 và tập đoàn quân số 1 bắt đầu tác chiến tiến đánh miền Nam Việt Nam

* Đến ngày thứ ba mươi mốt: công chiếm toàn bộ Việt Nam .

Mấy điểm thuyết minh về kế hoạch tác chiến này:

Thứ nhất, vì sao chỉ tiến hành 5 ngày không tập đã đưa lực lượng mặt đất vào?

Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, trong tình hình có nhiều vũ khí chính xác và ưu thế hải quân tuyệt đối, nhưng Mỹ vẫn tiến hành chuẩn bị không tập kéo dài 1 tháng, sau đó mới đưa lực lượng mặt đất vào. Chúng ta sở dĩ nhanh chóng đưa lực lượng mặt đất vào, chủ yếu là do giữa Việt Nam và Irắc có sự khác biệt nhau.

Trước hết tính chất phức tạp của môi trường địa lý Việt Nam đã quyết định hiệu quả cao nhất của không tập chỉ trong giai đoạn bắt đầu chiến tranh, lợi dụng tính bất ngờ, gây sát thương lớn cho phía địch. Sau đó quân địch sẽ nhanh chóng điều chỉnh bố trí binh lực, lợi dụng địa hình nhiều núi và rừng tiến hành ẩn nấp có hiệu quả. Mà Việt Nam cả năm có độ ẩm rất cao, mây mù bao trùm, khiến việc trinh sát trên không của chúng ta rất khó khăn.

Cho nên nếu không dựa vào sự phối hợp chính xác của lực lượng mặt đất, hiệu qủa cuộc việc tiếp tục không tập sẽ không cao.
Ngoài ra, Việt Nam không có lực lượng thiết giáp với quy mô lớn, chủ yếu lấy lực lượng bộ binh nhẹ và lực lượng sơn cước làm chính. Những lực lượng này khiến quân đội Việt Nam dễ phân tán và lẩn tránh. Như vậy chỉ có thể dựa vào lực lượng lục quân để tiến công theo địa điểm chỉ định.


Còn một điểm nữa là Mỹ luôn nhòm ngó vào Việt Nam. Chỉ cần chúng ta tiến hành chiến tranh với Việt Nam, Mỹ nhất định sẽ tìm cách ngăn cản. Chỉ cần nhanh chóng đưa lực lượng mặt đất vào, biến Việt Nam thành một chiến trường thực sự, hình thành cục diện hỗn chiến, thì mới có thể triệt để ngăn chặn Mỹ thọc tay vào.

Thứ hai, kế hoạch tác chiến này thực hiện 3 hướng đột kích, theo chiến pháp “hướng tâm hợp vây”

Trong đó tập đoàn đổ bộ hướng Nam là hướng chủ côngtrọng điểm tiến công của quân đội ta. Vì vậy lực lượng thiết giáp mạnh nhất và tinh nhuệ nhất cần được tập trung sử dụng tại hướng này. Tập đoàn đột kích hướng Đông là hướng tiến công bổ trợ. Tập đoàn Bắc hướng thực hiện kiềm chế chiến lược.

Thứ ba, do cuộc chiến tranh đối với Việt Nam là cuộc chiến tranh chính quy lấy địa hình rừng núi làm chính, cho nên các cuộc tiến công của máy bay trực thăng sẽ phát huy tác dụng tương đối quan trọng.

Lực lượng không quân thuộc lục quân của quân đội ta hiện nay còn thiếu nghiêm trọng. Để thích ứng với nhu cầu tác chiến với Việt Nam trong tương lai, các quân đoàn cần tăng cường xây dựng lực lượng không quân, nên trên cơ sở các trung đoàn không quân thuộc các tập đoàn quân hiện nay, mở rộng biên chế thành các lữ đoàn. Nâng cao mạnh mẽ khả năng tiến công phòng thủ lập thể và khả năng điều hành trên chiến trường.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 2nd 2015, 5:49am)


66

Thursday, July 2nd 2015, 5:55am

“Trung Quốc mộng” và căn tính sói
Lê Vũ Quý Linh thực hiện phỏng vấnGS. Trần Ngọc Vương
(Bài đăng trên báo Người Đô Thị số 18, phát hành ngày 28.5.2014)

Hiểu về Trung Quốc

Lê Vũ Quý Linh: Thưa ông, ngoài việc nghiên cứu, bấy lâu nay giới hàn lâm còn biết ông dịch khá nhiều sách Trung Quốc sang tiếng Việt. Vì sao ông làm công việc này?

GS. Trần Ngọc Vương: Tôi phải nói rất rõ ràng rằng mấy chục năm nay, từ sau khi thống nhất đất nước đến giờ, thế lực duy nhất đe doạ, xâm phạm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, can thiệp sâu vào nền chính trị Việt Nam chính là Trung Quốc. Cho nên khi đối kháng với Trung Quốc cần khẩn trương hiểu biết về họ, cần khẩn trương nghiên cứu, tìm hiểu và học tập họ nữa. Tôi đang tổ chức dịch những bộ sách hết sức quan trọng của Trung Quốc về phương diện học thuật, từ lịch sử Phật giáo đến văn học, những bộ sách về Đạo giáo, Nho giáo Trung Quốc.

Hiện nay tôi đang tổ chức dịch bộ Quan huấn tập thành (những lời dạy, chỉ dẫn, khuyên bảo cho tầng lớp quan lại, từ anh mới học việc cho đến tể tướng); trong đó tổng kết toàn bộ danh tác của Trung Quốc từ xưa đến nay, văn hoá quan trường Trung Quốc trong 5.000 năm. Bộ sách này rất khổng lồ. Tôi đề nghị một loạt các cơ quan mà tôi cho là có trách nhiệm của nhà nước, nhưng chẳng đâu muốn làm và chẳng ai muốn dịch. Hiện nay có một doanh nhân bỏ tiền cá nhân tài trợ cho người của tôi dịch.

Cuốn thứ hai tôi cũng đang dịch mang tiêu đề Phản kinh, tức là cẩm nang, bí kíp của những thủ đoạn chính trị và người ta quảng cáo cuốn sách là: Lịch đại thống trị giả/ Mật như bất ngôn/ Dụng như bất tuyên bất kỳ thư (tạm dịch: Bộ kỳ thư mà kẻ thống trị ở tất cả các nơi phải giữ bí mật, làm theo nhưng không nói ra, không công bố). Bộ sách này được một nhân vật đỗ tiến sĩ đời Đường viết ra, sau đó tìm cách dâng cho vua rồi trốn biệt, về sau không ai biết ra làm sao. Ngay đến cái tên của tác giả cũng là điều kỳ bí. Tôi mua bộ sách này lần đầu vào năm 1998, lúc tôi dạy ở đại học Bắc Kinh. Đọc tên tác giả, tôi hơi ngỡ ngàng vì chưa biết chữ ấy bao giờ. Nghĩ mình người nước ngoài, học tiếng Hán có hạn chế, ai dè về hỏi các giáo sư Trung Quốc cũng không ai biết. Hai ba hôm sau nữa kỷ niệm 100 năm đại học Bắc Kinh, gần 10 xe chở các chuyên gia đại học Bắc Kinh ra đại lễ đường Nhân dân, giáo sư Phó Thành Cật cầm chữ trên tay đi hỏi cũng không ai biết. Cuối cùng, ông về tra Trung Quốc đại từ điển, ra tên này nằm ở phần đuôi của từ ghép. Phiên âm Hán Việt phải đọc là Nhuy. Cái tên này còn chưa có trong thư tịch Việt Nam, chỉ đọc theo nguyên lý thôi. Thật lạ!

Bộ sách được cất trong kho chứa sách của triều đình, nhưng thi thoảng lại lọt một phần nào đó ra ngoài nên đời Minh, Thanh đều có chỉ dụ cấm tàng trữ, đọc cuốn sách đó. Mãi tới năm 1998, lần đầu tiên nó được in ra, mà lại in ở nhà xuất bản Nội Mông Cổ, theo kiểu in để thăm dò. Nói vậy để biết đó cũng là loại bí kíp kỳ thư. Kiểu bí kíp ấy, Trung Quốc rất có truyền thống nên tôi muốn giới thiệu để chúng ta, nhất là giới chính trị, hiểu họ hơn. Hiểu được văn hoá chính trị có lẽ sẽ giúp ta bình tĩnh và khôn khéo hơn khi phải sống cạnh một nước lớn và nhiều chiêu trò như Trung Quốc.

Đọc một số đoạn, chúng ta sẽ hiểu dần cách Trung Quốc làm chính trị. Vì họ làm đúng theo bài bản ấy thật. Song các nhà chính trị của ta có vẻ không mấy người quan tâm. Thủ đoạn của chính trị gia Trung Quốc kinh khủng lắm.

Nên nhớ rằng chỉ ở Trung Quốc, những lợi ích mang màu sắc chính trị mới có thể khiến người ta thực hiện những hành vi mà trong các hoàn cảnh khác ít ai có thể làm được.

Đông Chu Liệt Quốc còn chép lại câu chuyện: có một anh đầu bếp nấu cho chủ, một ông vua chư hầu. Có lần ông vua đùa than thở: Cao lương mỹ vị trên đời ăn hết rồi chỉ còn mỗi một thứ chưa ăn là… thịt người. Hôm sau, anh đầu bếp dâng cho chủ một món thật thơm, chế biến rất tinh xảo. Tay đầu bếp cứ nhìn xem chủ ăn, gặng hỏi chúa công ăn ngon không, thấy thế nào. Ông vua bảo: Thấy lạ, cũng ngon đấy. Rồi hỏi món gì thì đầu bếp quỳ xuống lạy: “Tâu chúa công, thần đắc tội! Hôm qua chúa công nói còn món thịt người chưa ăn, nay thần cho chúa công ăn thịt người. Thần không dám giết người ngoài, chỉ giết con của thần để nấu”.

Cái đó là gì vậy?

Người Việt Nam có dám làm chuyện đó không?

Tôi nghĩ chắc không mấy ai làm được vì nó quá trái với tự nhiên.

Vậy thì một khi họ đã dám làm đến những việc như vậy thì ta phải đặt ra câu hỏi: có điều gì họ không dám làm không?

Hỏi để nhận ra một điều: nếu chỉ so với lương tri của người bình thường, có khi ta không đo lường hết được họ.

Trong cuốn tiểu thuyết viết theo lối khảo cứu, đề xuất luận điểm, có tên Lang Đồ Đằng (dịch sang tiếng Việt là Tô Tem Sói), tác giả Khương Nhung của Trung Quốc xác định thuộc tính có tính chất căn tính của người Trung Quốc là sói tính. Sói là con vật ranh mãnh thủ đoạn, độc ác, thâm hiểm nhất của thảo nguyên, của bình nguyên và cao nguyên. Người Trung Quốc đặt căn cước của mình khởi đi từ đó. Mấy năm liền, người Trung Quốc in đi in lại cuốn tiểu thuyết này, cổ vũ “tính chiến đấu”, tinh thần “quật cường” của đồng bào họ.

“Trung Quốc mộng”


Lê Vũ Quý Linh: Ông nghĩ gì về tham vọng “Trung Quốc mộng” (Chinese Dream) mà gần đây đang được đề cập nhiều?

GS. Trần Ngọc Vương: Người thể hiện tập trung nhất, cao nhất cái gọi là “Trung Quốc mộng” là Mao Trạch Đông. Muốn hiểu “Trung Quốc mộng” thì phải hiểu mô hình hoàng đế Trung Hoa.

Nhà cầm quyền Trung Quốc đang nỗ lực để hiện thực hoá giấc mộng đó. Chúng ta cần tỉnh táo ở tình huống này: từ thế kỷ 15 - 16 trở lại đây, thậm chí cho đến hết thế kỷ 20, kinh nghiệm lịch sử cho thấy các cường quốc tư bản chủ nghĩa trở thành đế quốc chủ nghĩa lớn lên được là nhờ biển. Các đế chế hình thành được trong thời đại tư bản chủ nghĩa, đế quốc chủ nghĩa đều là đế chế biển. Nhưng truyền thống của Trung Quốc mấy nghìn năm qua là đế chế lục địa.

Tại sao gọi Trung Quốc là đế chế lục địa?

Từ đời Hán, Trung Quốc bắt đầu đi dần xuống phía Nam, chiếm những vùng đất sát biển, thế nhưng biển với người Trung Quốc chưa thành một thứ thế năng sống. Những sản vật biển nhiều khi bình thường, với họ vẫn là khó khăn, hiếm hoi, và đều xếp vào hàng quý hiếm, đặc sản, trong đó có muối. Người Trung Quốc bị ám ảnh bởi muối, thậm chí ứng xử với nó bằng quốc sách. Đời Hán có một cuốn sách cực kỳ nổi tiếng,
đó là cuốn Diêm Thiết Luận (tạm dịch: Bàn về sắt và muối). Cho tới tận thời Quốc Dân đảng, buôn muối là một nghề mang tính đặc quyền và độc quyền ở Trung Quốc. Người Trung Quốc quản lý rất chặt môn bài buôn muối, và người buôn muối thường rất giàu. Đối với cư dân miền núi, vùng sâu của Trung Quốc thì muối trở thành vấn đề lớn. Người ta buôn muối như buôn thuốc phiện. Trung Quốc đến bây giờ có 9,6 triệu cây số vuông về mặt diện tích, nhưng chỉ có hơn 18.000 cây số bờ biển, tỉ lệ bờ biển trên lãnh thổ là thấp nên chưa bao giờ Trung Quốc được xem là một quốc gia biển cả.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 2nd 2015, 6:14am)


67

Thursday, July 2nd 2015, 6:15am

Lê Vũ Quý Linh: Vậy người Trung Quốc ý thức về biển tự bao giờ, thưa ông?

GS. Trần Ngọc Vương: Khi người Trung Quốc đẩy hạt nhân của mình lùi dần xuống phương Nam, tiến sâu thêm xuống phía nam vùng sông Dương Tử, (từ vùng Giang Nam cũ, bây giờ là Triều Châu, Phúc Kiến, Thượng Hải, Quảng Châu…). Từ cửa sông Dương Tử mới có lối ra của Trung Quốc với biển. Đấy là xứ mở ra với biển của nền văn hoá Bách Việt, bộ phận thứ hai của văn hoá Trung Hoa. Tôi phải nhấn mạnh họ không phải là người Hán, không có cùng cái vô thức lịch sử với bộ phận cư dân phương Bắc. Thế nên họ thường xuyên bị coi là khu vực ngoại vi, bị gọi là dân Nam Man, và bị kỳ thị bởi người Hán.

Trong thập đại đế vương (10 bậc đế vương) được ghi danh của Trung Quốc, chỉ có một người gốc phương Nam là Chu Nguyên Chương, còn lại là người phương Bắc. Nhà Minh có gắn bó với phương Nam, nên không hề ngẫu nhiên mà trong hơn nửa thế kỷ đầu của triều đại nhà Minh, tầm nhìn biển bắt đầu được mở ra. Và chính thời đó mới xuất hiện Trịnh Hoà. Trịnh Hoà là người gốc Hồi giáo Ả Rập, mang toàn bộ tri thức, kinh nghiệm buôn bán Địa Trung Hải của tổ tiên ông để phục vụ Minh triều. Khi nhà Minh lập ra Nam Kinh, ông ta là tổng thái giám (hoạn quan), đề nghị và được chấp nhận đóng những đoàn tàu lớn đi ra biển. Ông có cả thảy bảy chuyến đi biển và đấy có thể coi là một trong những người sớm nhất đi vòng quanh thế giới. Tuy nhiên, ông cũng chỉ có khoảng trên dưới 30 năm thực hiện những công việc đó. Ghi chép về biển của Trung Quốc thời đó chỉ như vậy. Sau năm 1432 là được cho vào kho. Vài chục năm sau, các vua chúa thế hệ sau của nhà Minh cũng bị xâm nhập cái tâm thế lục địa Bắc phương hoá, coi lục địa quan trọng hơn, quay lưng lại với biển, trọng nông.

Không phải ngẫu nhiên mà ngay sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa qua, Tập Cận Bình đi xuống hạm đội Nam Hải và đứng trên hạm đội này công bố về khát vọng thực hiện giấc mộng Trung Hoa, cái khát vọng trở thành đế chế biển muộn màng từ kinh nghiệm cay đắng không theo được với các đế chế biển trước đây. Trung Quốc bây giờ cảm thấy mình đủ nội lực, cảm thấy mình cần phải trở thành như vậy: một đế chế biển. Thậm chí giờ tham vọng lớn hơn, đòi chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ chẳng hạn. Rõ ràng cái cách đặt vấn đề vẫn là một thứ chủ nghĩa nước lớn, coi tất cả các nước khác chỉ là “gia vị” trên bàn đàm phán.

Lê Vũ Quý Linh: Trong bối cảnh đó, chúng ta có thoát ra được không, theo ông?

GS. Trần Ngọc Vương: Tôi cho rằng, bị ràng buộc và lệ thuộc vào Trung Quốc không phải là định mệnh của dân tộc ta. Vì trong cái vành đai văn hoá Hán truyền thống thì Nhật Bản, Hàn Quốc có bị thế đâu?

Ngay Triều Tiên bây giờ cũng đang vùng vằng thoát ra khỏi Trung Quốc. Những nước thoát ra được gần như đều trở thành nước công nghiệp lớn.

Việt Nam từ hàng nghìn năm nay rõ ràng vẫn độc lập với Trung Quốc, và khi bắt đầu có chủ nghĩa đế quốc, thực dân thì thế giới bị đa cực hoá, do đó việc gắn, trói vào một cực càng không phải là định mệnh.

Tuy nhiên, Trung Quốc thì rõ ràng không muốn nhìn thấy một Việt Nam mạnh, càng không muốn nhìn thấy một Việt Nam độc lập hoàn toàn với Trung Quốc mà chỉ muốn Việt Nam lệ thuộc, là chư hầu.

Vấn đề còn lại ở đây là bản lĩnh, thái độ, trách nhiệm của người lãnh đạo với dân tộc. Chúng ta có làm được điều đấy không?

Tôi nghĩ làm được.

Lê Vũ Quý Linh: Địa chính trị của ta ở cạnh một nước “lớn mà chơi không đẹp” thì cách ứng xử nên như thế nào, thưa ông?

GS. Trần Ngọc Vương: Một điều phải thuộc nằm lòng là chúng ta cần học tập họ và hữu nghị với họ, đấy là những mệnh đề không thể khác được. Nền văn minh Trung Hoa là một nền văn minh vĩ đại, rực rỡ, rất nhiều thành tựu. Cha ông ta từng làm học trò của nền văn minh ấy. Và ngày nay không thiếu phương diện chúng ta vẫn tiếp tục là học trò.
Về quan hệ quốc tế, hai nước có chung một đường biên giới dài như vậy, không muốn hữu nghị cũng không được.


Nhưng mà luôn luôn nhớ rằng đấy là một nước lớn vô trách nhiệm và cư xử bẩn tính.

Cộng sinh với họ rất mệt mỏi nhưng vẫn phải kiên trì vì đó là điều tất yếu, không thể khác. Chúng ta phải khẩn trương củng cố nội lực, kiện toàn tư chất, phẩm giá dân tộc… mới có đủ sức mạnh đối đầu cạnh tranh với họ.

Với Trung Quốc, không bao giờ được ảo tưởng, cũng không bao giờ được mỏi gối chùn chân. Người Trung Quốc buộc ta luôn phải cảnh giác.
______________________

GS. Trần Ngọc Vương từng có thời gian giảng dạy tại đại học Bắc Kinh và đang tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu văn hoá Trung Quốc. Học giả này đã có cuộc trò chuyện thẳng thắn và cởi mở với Người Đô Thị.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 2nd 2015, 6:26am)


68

Saturday, July 4th 2015, 5:54am

Nhận định:

" Thế sự nhược đại mộng " ( chuyện đời giống như một giấc mơ dài ) ! Con người trải qua bao khó nhọc, tạo tác, xây dựng và mưu đồ to lớn rốt cục mọi sự đều là vô thường. Vẫn là những chu kỳ thành-trụ-hoại-không tiếp nối liên tục. Vẫn là sắc-sắc không-không. Vậy đâu là thực, đâu là hư, đâu là chân, đâu là ngụy trong cõi nhân sinh?

Giàu sang phú quý để mà chi, khi nhắm mắt xuôi tay thì bậc đế vương hay kẻ cùng đinh cũng chỉ là những bộ xương trắng trong mộ phần đen tối mà gấm vóc lụa là châu báu không thể làm cho chúng khác biệt nhau.

Nhưng mà con người không muốn nghĩ về đoạn cuối của cuộc đời. Người ta chọn lãng quên điều nầy như là một cách tự kỷ ám thị như là họ trường sinh bất tử. Cho nên có những người chỉ biết có hiện tại và chỉ biết có mình để rồi bán linh hồn cho chính mình ( không thua kém gì bán cho quỷ dử ). Và trở thành nô lệ cho chính bản thân ( cũng không thua kém gì làm nô lệ cho người khác ). Họ làm đủ mọi chuyện gian ác để phục vụ bản thân ( để được giàu sang phú quý ).

Phải chi họ hiểu rằng tất cả sẽ chỉ như một giấc mộng ... Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang ...
Phải, họ đả từng sống trong vinh quang, quyền uy tột đỉnh, phú gia địch quốc, dinh cơ nạm ngọc chạm vàng.
Nhưng giờ đây họ sẽ kết thúc cuộc đời trong bóng tối, trong tù tội....
" Như có chép rằng: Ấy là Chúa bắt những kẻ khôn ngoan trong mưu kế họ. Lại rằng: Chúa thông biết ý tưởng của người khôn ngoan; Ngài biết ý tưởng họ đều là vô ích ". ( Kinh Thánh: I Cô-rinh-tô 3:16-20 )

Như có nhiều vị thức giả đã nói:

" Đừng tự ru ngũ mình bằng câu nói nhàm chán đất nước ta giàu đẹp, rừng tiền biển bạc ( chúng nó đã vơ vét sạch cả rồi ! ), người Việt chúng ta chăm chỉ cần cù ( phải chăng để xuất khẩu lao động ? ), thông minh hơn người ( mà sao vẫn còn nghèo khổ và bị ức hiếp ? ) "

Phải có can đảm tự thú nhận với mình, ít ra là với người Việt chúng ta, là đất nước mình còn thua kém xa các nước láng giềng, người dân chúng ta còn thua kém người dân các nước Á Đông khác. Biết mình biết người trăm trận không thua ( Binh Thơ Tôn Tử ).

Từ đó mình mới thấy rõ nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhược tiểu của nước Việt là thiếu vắng một đội ngũ tinh hoa của dân tộc để cứu quốc và kiến quốc.

Vâng, chúng ta có rất nhiều những cá nhân rất xuất sắc trong mọi lãnh vực ở trong cũng như ngoài nước, nhưng chúng ta chưa có một đội ngũ tinh hoa đủ lớn để làm nên lịch sử.
Đội ngũ tinh hoa nầy chắc hẳn không phải là đội ngũ của những kẻ say mê một lý tưởng viễn vông sẳn sàng bất chấp mọi thủ đoạn, sử dụng mọi phương tiện để đạt được quyền lực theo kiểu " chánh quyền khai sanh từ nòng súng ". Càng không phải là những kẻ rất mực tinh ranh quỷ quái biết lợi dụng những lúc tranh tối tranh sáng và sự sợ hải của người dân để vơ vét của cải quốc gia. Cũng không phải là đội ngũ của những kẻ khoa bảng, học cao hiểu rông nhưng kênh kiệu, tự mãn và thiếu vắng lòng nhân ái bao dung. Cũng không phải là đội ngũ của những kẻ chỉ cố chấp và phân biệt với những người Việt khác bằng những nhản mác chính trị rổng tuếch như cách mạng, cộng sản hay quốc gia ...

Đó phải là một đội ngũ của những người muốn vượt qua mọi trở ngại để xây dựng đất nước bằng khả năng hữu hiệu, sự hiểu biết và khôn khéo của chính mình. Họ có thể đa mưu túc trí nhưng không cần phải dùng đến những thủ đoạn hạ cấp. Họ có thể đầy quyền năng nhưng không áp bức người khác. Họ có thể tạo ra những lợi ích to lớn nhưng không tham lam vơ vét vì không muốn để lại của cải mà là sự nghiệp lịch sử.

NP đang mơ chăng ? Lý tưởng hay ảo tưởng ? Việc đó còn tùy nhận xét của người đối diện. Nhưng NP biết rõ một điều những nước văn minh tiến bộ trên thế giới đều có hay tự tạo cho mình một đội ngũ như vậy ( mà có khi thành viên lại là người từ xứ khác đến ). Và nhứt là ông cha ta đã từng ở trong một đội ngũ như vậy trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước Việt Nam.

Hảy tự hỏi như người Mỹ đã từng hỏi :

" You were born with wings, why prefer to crawl through life ? "
( Bạn được sinh ra với đôi cánh mà sao lại chọn bò sát suốt cuộc đời ? )
Thật là đáng tiếc phải không ?

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 4th 2015, 8:09am)


69

Tuesday, July 7th 2015, 6:29am

Dư luận trước chuyến công du Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng
Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2015-07-02


Mỹ chìa tay cho VN ?

Nhiều chuyên gia về Việt Nam, nhất là mối quan hệ Hà Nội- Washington, trong những ngày qua lên tiếng cho rằng chuyến công du của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ lần này mang tính ‘biểu tượng’. Chính phủ Mỹ hiểu rõ hệ thống chính trị của Việt Nam là đảng cộng sản nắm toàn quyền cai trị, dù rằng Việt Nam cũng có chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia và thủ tướng là người đứng đầu chính phủ.

Hoa kỳ từng tiếp thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005, chủ tịch Nguyển Minh Triết năm 2007, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2008 và chủ tịch nước Trương Tấn Sang năm 2013 tại Nhà Trắng. Tuy nhiên lần này thông tin nói ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ được tổng thống Barack Obama tiếp tại Nhà Trắng khiến nhiều người quan tâm.

Luật sư Vũ Đức Khanh, từ Canada, có bình luận về tin ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được gặp người đứng đầu chính phủ Mỹ tại chính nơi làm việc của nguyên thủ Hoa Kỳ như sau:

“Tôi nghĩ rằng vì chiến lược chuyển trục sang Á Châu-Thái Bình Dương của tổng thống Hoa Kỳ Obama, cho nên Nhà Trắng sẽ làm một ngoại lệ là tiếp ông tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Thật sự ra có nhiều người từng vào Nhà Trắng, trong đó có những nhà lãnh đạo cộng đồng như Đức Dalai Lama, hoặc gần đây chúng ta có thấy tổng thống Obama tiếp anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trong Nhà Trắng. Vì vậy vấn đề ông Trọng vào Nhà Trắng cũng không phải là vấn đề gì quá to tát. “

Vai trò cá nhân lãnh đạo

Đối với những người trong nước thì vai trò của ông Nguyễn Phú Trọng không giống những vị nguyên thủ quốc gia khác có thể có những quyết định cá nhân. Trong trường hợp Việt Nam với cơ chế tập thể làm chủ, Bộ Chính Trị đưa qua quyết định và ông Nguyễn Phú Trọng chỉ là người được chọn để mgang đi thông điệp đã được thống nhất.

Luật sư Vũ Đức Khanh nói về điều này:

“Việt Nam không phải là một trục quan trọng trong chiến lược chuyển trục sang Á châu- Thái Binh Dương của Hoa Kỳ; tuy nhiên Việt Nam sẽ là một trong những Luật sư Vũ Đức Khanh nói về quan trọng cua liên minh Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương vì Việt Nam có đường biên giới sát với Trung Quốc và có cùng ý thức hệ với Trung Quốc. Nếu như Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc thì bắt buộc Hoa Kỳ phải mở một vòng tuyến Đông Nam Á, phải sử dụng trục của Eo biển Malacca, trong đó có Singapore, Mả Lai và Indo.

Vì không muốn trục Đông Nam Á đó phải dời xuống tận cùng của khu vực Biển Đông, bằng mọi giá Hoa Kỳ muốn giữ được một thế cân bằng ở Việt Nam. Mục đích của Hoa Kỳ là muốn sử dụng Việt Nam như một vùng ‘trái độn’ nếu như Hà Nội ngả về phía Trung Quốc thì ít nhất Hoa Kỳ còn kiểm soát được một vùng nào đó. Tôi không muốn trở lại cuộc chiến tranh trước đây ở vùng vĩ tuyến thứ 17; nhưng Hoa Kỳ phải bằng mọi giá với cách nào đó giữ được vùng nào đó ở phía nam Việt Nam, dùng Việt Nam như vùng ‘trái độn’.

Nếu Việt Nam không ngả hẳn về phía Trung Quốc hay Hoa Kỳ thì Mỹ thành công ở mức độ vô hiệu hóa Việt Nam và Trung Quốc.”

Tuy nhiên, luật sư Vũ Đức Khanh trích dẫn phát biểu của đại sứ Mỹ ở Việt Nam, Ted Osius, rằng Hà Nội không thể dùng tù chính trị để đổi chác, mà mối quan hệ song phương Việt- Mỹ phải được xây dựng trên nền tảng những giá trị mà hai phía cùng chia xẻ. Hoa Kỳ muốn giúp Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường, thịnh vượng, trong đó có tôn trọng những quyền cơ bản của người Việt Nam.

Nhận định:

Trước hết, NP chỉ là một công dân hạng bét trong cả hai quốc gia VN và Mỹ cho nên không bao giờ có được những thông tin thuộc loại " bí mật quốc phòng ". Vì vậy quý vị chịu khó đọc lại những bài viết đã được phổ biến ( có nghĩa là ai cũng biết rồi ! ).

Mỹ chìa tay cho VN ?

Có thể đúng, có thể không.
Mà sao ta lại không nghĩ rằng VN chìa tay cho Mỹ ?
Hay nói rõ ra VN đang với tay ra để " búa xua " Mỹ ? ( xin lỗi vì tiếng Tây bồi của NP ).
Sao không nghĩ VN đã " sai sứ " Phạm Quang Nghị mang ủy nhiệm thư sang Mỹ đưa tận tay John McCain ( bức ảnh Hồ Trúc Bạch tai tiếng ấy ).

Thôi, NP tưởng tượng hơi nhiều, bị những tuồng tích Tàu ám ảnh đó mà.
Trong sử Tàu hể ông dzua nào bị quyền thần áp bức, kềm chế ngày đêm, hay có cái màn cắn-móng-tay-xé-áo-viết-huyết-thư rồi nhờ người thân tín mang đi cầu cứu. Dĩ nhiên là dấu kín kẻo lọt ra là cả dzua lẫn tôi đều chít.

Còn cái ông Luật sư Vũ Đức Khanh nầy lại nói về cái chuyện " tiền đồn của Mỹ " và " trái độn ở vĩ tuyến thứ 17 " nếu như Hà Nội ngả về phía Trung Quốc. Thiệt đúng là phát biểu linh tinh ( mà nghe sao ớn quá ).

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 18th 2015, 5:41pm)


70

Tuesday, July 7th 2015, 7:31am

TBT Trọng đi Mỹ: Chuyến đi mở cục diện mới
Alexander L. Vuving
Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á Thái Bình Dương, Honolulu.
6 tháng 7 2015

Nếu như chuyến đi Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972 đã mở ra một cục diện mới trong tam giác quan hệ Xô-Trung-Mỹ thì chuyến đi Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong những ngày này cũng sẽ mở ra một cục diện mới trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ.

Và nếu như cái bắt tay của Tổng thống Nixon và Chủ tịch Mao Trạch Đông năm đó đã đặt nền tảng cho những biến chuyển sâu rộng trong nội địa Trung Quốc cả mấy chục năm về sau thì cái bắt tay giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Barack Obama mùa hè này cũng sẽ đặt nền tảng cho những biến chuyển sâu rộng sẽ diễn ra ở Việt Nam trong nhiều năm tới.

Ý nghĩa lịch sử

Ta sẽ nhìn thấy ý nghĩa lịch sử của sự kiện này khi đặt nó trong tầm nhìn lịch sử.

Người ta thường nói đây là lần đầu tiên người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam được tiếp đón như quốc khách ở Nhà Trắng. Chính phủ Mỹ đã vượt qua các thông lệ lễ tân để đón một vị lãnh đạo đảng (lại còn là Đảng Cộng sản) nhưng không mang chức vụ gì trong chính quyền quốc gia.

Điều này nói lên tính chất quan trọng của chuyến đi và của mối quan hệ Việt-Mỹ. Nhưng nó không phải là ý nghĩa lịch sử chủ yếu của sự kiện này.

Ý nghĩa lịch sử lớn hơn của sự kiện này là vai trò của nó trong dòng lịch sử hiện đại Việt Nam cũng như trong mối quan hệ tay ba giữa Việt Nam, Mỹ và Trung Quốc.

Từ nhiều thập kỷ nay, chính trị Việt Nam không nằm ngoài mối quan hệ tay ba Việt-Trung-Mỹ. Nói như vậy không có nghĩa là Việt Nam bị lệ thuộc vào hai nước lớn dù rằng Việt Nam phải chịu ảnh hưởng ít nhiều từ hai nước này.

Là một “đỉnh” trong “tam giác” (cũng như Mỹ và Trung Quốc), Việt Nam sẽ có cơ hội thể hiện được tính chủ động, độc lập của mình trong việc xử lý mối quan hệ với hai nước còn lại.

Cách đây 25 năm, lãnh đạo Việt Nam đứng trước một hoàn cảnh lịch sử hết sức khó khăn khi khối đồng minh Đông Âu tan vỡ, “anh cả” Liên Xô xuống dốc và rút dần cam kết, trong khi thực lực Việt Nam chỉ trông chờ chủ yếu vào ý chí và tay không.

Xử lý mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc trở nên một vấn đề sống còn hơn bao giờ hết.

Tháng 9 năm 1990, sau khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cùng Thủ tướng Đỗ Mười bí mật đi Thành Đô gặp lãnh đạo Trung Quốc thì Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cũng đi Washington gặp ngoại trưởng Mỹ không chính thức.

Ở Thành Đô, Trung Quốc đặt điều kiện bình thường hoá quan hệ, ông Linh ông Mười đồng ý hết. Ở Washington, Mỹ không chịu bỏ cấm vận, cũng chưa tính chuyện sớm bình thường hoá quan hệ, ông Thạch đành về tay không.

Những gì sau đó là lịch sử. Việt Nam đặt mình vào quỹ đạo Trung Quốc với hy vọng có “ông anh đỏ” chống lưng sẽ giữ được chế độ.

Ông Thạch, người đã có cuộc cãi vã với phái viên Trung Quốc Từ Đôn Tín tháng 6 năm 1990 và có “nickname” là “Mr. America”, bị “thí tốt” phải về hưu, coi như món quà cống nạp “thiên triều”. (Bạn đọc có thể tham khảo cuốn “Hồi ức và Suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ vừa mới từ trần để hiểu thêm về giai đoạn này).

Trong suốt hơn chục năm sau, dù Việt Nam vẫn ra sức tăng cường quan hệ với Mỹ, nhưng những sự “ra sức” này bị giới hạn nặng nề. Năm 1999, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chuẩn bị ký Hiệp định Thương mại với Mỹ ở Auckland rồi lại phải hoãn, vì có sự ngăn chặn của một lãnh đạo còn cao hơn.

Cách nhìn mới

Lên cầm quyền năm 2001, chính quyền mới ở Mỹ của Tổng thống George W. Bush có cách nhìn mới về Việt Nam, muốn nói chuyện chiến lược với Việt Nam nhưng phía Việt Nam từ chối.

Mỹ có cách nhìn mới về Việt Nam vì họ có cách nhìn mới về Trung Quốc, coi nước này là “đối thủ chiến lược” chứ không phải là “đối tác chiến lược”. Trong 8 năm tại vị, chính quyền Bush đã có nhiều nỗ lực lôi kéo Việt Nam về phía mình và đưa quan hệ với Việt Nam lên tầm chiến lược. Một ví dụ là năm 2008, Mỹ đã chủ động mời Việt Nam gia nhập khối Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Thái độ này của chính quyền Bush (con) khác hẳn với thái độ của chính quyền Bush (cha) trước đây và kể cả của chính quyền Clinton. Chủ trương của cả hai chính quyền Bush (cha) và Clinton là nhường Trung Quốc đi trước một bước trong tiếp cận với Việt Nam. Ngược lại, chính quyền Bush 2001-2008 mong muốn biến Việt Nam thành một đối tác chiến lược của Mỹ.

Trong bối cảnh thay đổi ấy, đi thăm Trung Quốc tháng 12 năm 2001 sau khi lên Tổng bí thư, ông Nông Đức Mạnh đồng ý đưa câu “chống chủ nghĩa bá quyền”, câu “mật khẩu” của Trung Quốc để tập hợp lực lượng chống Mỹ, vào Tuyên bố chung. Đây là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng, câu này có trong Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Đó là lần cuối cùng bởi vào tháng 7 năm 2003, sau khi Mỹ tấn công đánh chiếm Iraq chỉ trong vài tuần, Hội nghị Trung ương 8 khoá 9 ra nghị quyết lịch sử về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” với định nghĩa mới về đối tượng và đối tác, không gắn vấn đề bạn thù với ý thức hệ nữa.

Tuy Nghị quyết 13 Bộ Chính trị năm 1988 (tác phẩm của ông Nguyễn Cơ Thạch) đã đề ra chủ trương mở sang phương Tây, phải với Nghị quyết Trung ương 8 năm 2003, cửa thông sang Mỹ và phương Tây mới thực sự mở rộng.

Chỉ trong vòng 5 tháng sau Hội nghị Trung ương 8, một loạt quan chức cao cấp của Việt Nam đồng loạt đi Mỹ, trong đó có cả Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà và Phó Thủ tướng Vũ Khoan.

Nghị quyết 8 cũng bỏ rào cản về ý thức hệ để Việt Nam thực sự muốn gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quá trình Việt Nam xin gia nhập WTO đã khởi động từ giữa thập niên 1990 nhưng vẫn ì ạch cầm chừng, sau Nghị quyết 8 mới được đẩy nhanh.

Nếu như những năm 1990-2003 Việt Nam không thể lại gần vị trí có khoảng cách đều nhau giữa Mỹ và Trung Quốc chứ chưa nói đến đứng ở đó, thì sau năm 2003, vị trí đó trở nên có thể về lý thuyết tuy vẫn chưa thể trong thực tiễn.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 7th 2015, 7:41am)


71

Tuesday, July 7th 2015, 7:43am

Thế cân bằng

Chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đưa Việt Nam tới một vị trí có khoảng cách đồng đều giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời mở ra khả năng Việt Nam vượt qua “làn phân thuỷ” để bước sang khu vực gần Mỹ hơn.

Ông Trọng và ông Obama sẽ nâng cấp mối quan hệ “đối tác toàn diện” giữa hai nước lên “đối tác toàn diện sâu rộng” với một “tuyên bố tầm nhìn chung”, thể hiện tính chiến lược trường kỳ của mối quan hệ.

Việc đoàn ông Trọng có thêm 2 Uỷ viên Bộ Chính trị nữa đi cùng cho thấy Việt Nam coi trọng mối quan hệ với Mỹ như thế nào. Tuy đoàn ông Trọng đi Trung Quốc tháng 4 vừa qua có tới 4 Uỷ viên Bộ Chính trị đi cùng Tổng bí thư, nhưng khi ông đi thăm các nước bạn bè thân thiết nhất của Việt Nam như Lào, Cuba, Nga, mỗi đoàn cũng chỉ có thêm 1 Uỷ viên Bộ Chính trị đi cùng.

Tuy đoàn đi Trung Quốc hùng hậu như thế, quan hệ với Trung Quốc trên danh nghĩa còn là “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” với “16 chữ vàng” và phương châm “4 tốt”, nhưng thực chất, như chính hai Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình nhìn nhận tại cuộc hội đàm tháng 4, độ tin cậy chính trị giữa hai nước vẫn chưa cao, hai nước cần thể hiện tinh thần “nói đi đôi với làm”.

Trong khi đó, như Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh “bật mí” trong cuộc phỏng vấn tuần rồi với VnExpress, hai nước Việt, Mỹ “đã đạt được sự thống nhất không còn muốn là kẻ thù của nhau, không xâm phạm, xâm hại những lợi ích chiến lược của nhau và đặc biệt là cam kết không bao giờ đem chiến tranh đến cho nhau”.

Nếu như Hội nghị Thành Đô 1990 để lại di sản trong chính trị Việt Nam là xu hướng “chống phương Tây” giành ngôi trưởng, xu hướng “hiện đại hoá” chỉ ở ngôi thứ, thì chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ có tác động ngược lại.

Nó báo hiệu rằng xu hướng “hiện đại hoá” đang đi lên và xu hướng “chống phương Tây” đang đi xuống. Sự kiện này sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả Đại hội 12 của Đảng Cộng sản, dự trù nhóm họp vào cuối năm nay hoặc đầu sang năm.

Người ta thường cho rằng ông Trọng là người bảo thủ và thân Trung Quốc. Nhận định này quá giản đơn mà không thấy hết được sự phức tạp và tế nhị của chính trị và quan hệ quốc tế.

Trước kia, ông Trường Chinh cũng thường được coi là bảo thủ và thân Trung Quốc. Nhưng chính ông là người có dũng khí viết lại Báo cáo Chính trị để đề ra chính sách “đổi mới” ở Đại hội 6 năm 1986. Chính ông cũng là người vào những năm đầu thập kỷ 1960 đã có lúc ngả theo quan điểm Liên Xô về chung sống hoà bình, một quan điểm bị Trung Quốc kịch liệt chống đối.

Hồi đó người ta cũng nghĩ ông Lê Duẩn thân Liên Xô nhưng chính ông đã đồng chủ trương (cùng ông Lê Đức Thọ) đàn áp những người ủng hộ quan điểm Liên Xô mà ông và các đồng chí gọi là “nhóm xét lại”.

Đổi mới để sống còn

Một chỉ dấu cho thấy ông Trọng đã quyết định phải thúc đẩy quan hệ với Mỹ để cân bằng Trung Quốc và cũng để hiện đại hoá đất nước là ông cử ông Phạm Quang Nghị, người mà ông từng đề cử “quy hoạch” làm Tổng bí thư khoá tới, đi Mỹ tiền trạm cho ông chỉ mấy ngày sau khi Trung Quốc rút giàn khoan vào tháng 7 năm ngoái.

Ngay trong năm 2014, người ta đã ngầm hiểu rằng quan hệ với Mỹ tuy danh nghĩa là đối tác toàn diện nhưng thực chất đã là đối tác chiến lược.

Điều này khác hẳn với cách đây chỉ khoảng hơn chục năm, quan hệ với Trung Quốc trên danh nghĩa còn chưa gọi là đối tác chiến lược, nhưng phía Việt Nam đã ngầm hiểu là đồng minh chiến lược.

Với những sự ngầm hiểu mới (Trung Quốc là mối đe doạ chiến lược, Mỹ tiến tới là đồng minh chiến lược không chính thức), chính trị trong nước của Việt Nam sẽ có những đổi thay mới. Có thể khẳng định ngay từ bây giờ là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 sẽ không bầu một nhân vật bảo thủ, chống phương Tây lên làm Tổng bí thư.

Tuy nhiên, liệu Đại hội có bầu một nhân vật đổi mới, hiện đại hoá lên hay không thì vẫn còn là câu hỏi. Các nhóm chiếm số đông trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng hiện nay không phải là “bảo thủ”, cũng không phải là “đổi mới”, mà là “trung dung” và “trục lợi”. Tuỳ theo diễn biến trong những tháng sắp tới mà Đại hội 12 có thể sẽ bầu một nhân vật hoặc “trung dung” hoặc “trục lợi” hoặc cũng có thể “đổi mới” lên làm Tổng bí thư.

Mặc dầu vậy, với xu thế dài hạn là Việt Nam sẽ phải đương đầu với mối đe doạ chiến lược của một Trung Quốc nhiều tiền lắm mẹo, Việt Nam sẽ không có con đường nào khác là phải đổi mới để sống còn.

Nhận xét:

Người Việt mình có một thành ngữ để chỉ tình trạng thật tế hiện tại của VN, đó là " trên đe dưới búa ". Dưới là áp lực của xã hội, kinh tế, chính trị cần phải cải thiện ( ý dân là ý Trời ). Trên là hiểm họa chiến tranh không biết giáng xuống lúc nào từ TC ( họa phúc vô môn ). Bằng mọi giá và bằng mọi cách TC phải chiếm cho bằng được phần biển đảo còn lại của VN. TC đang trong tư thế " cọp rình mồi ". Nhất cử nhất động của VN đang bị soi mói một cách sát sao. Chỉ cần một sơ hở là thịt da của VN sẽ nằm gọn trong miệng hùm TC.

Vâng, VN ta vẫn đang yên tĩnh, mọi người vẫn đang sinh hoạt bình thường như trước tháng 3 năm 1975. Ai nấy vẫn đang nhậu nhẹt vui chơi. Quan to bà lớn vẫn đang công du, tham quan mua sắm.
Có chi đâu hè ?
Rung cây nhát khỉ chăng ?
Chờ đấy, có câu:
" Bằng cách nầy hay bằng cách khác, không sớm thì muộn, anh sẽ phải làm việc nầy thôi ! "
(Sooner or later, one way or the other, you will have to do it )
Có tự hào hay tự đắc gì thì mọi người cũng nhận ra cái thế và con đường mà VN phải bước qua.

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 7th 2015, 7:18pm)


72

Friday, July 10th 2015, 7:49am

NP xin nhắc lại câu nói của James Carville, Chiến Lược Gia của cuộc vận động bầu cử tổng thống 1992 cho Bill Clinton, một lần nữa:

"It's the economy, stupid ! "
( Hởi những thằng đầu đất, mọi sự đều do miếng ăn mà ra cả ! )

Vì nghèo đói nên mới có chiến tranh và vì có chiến tranh mới nghèo đói.
Nhưng muốn gây chiến thì phải có tiền để mua vũ khí và nuôi quân chớ. Rồi lại phải tính đến chuyện thắng bại nữa chớ.
Đem quân ( không phải đem chuông nhé ) đi đánh xứ người thì được gì , mất gì ?
Vậy thì Mỹ có thể chọn đánh nhau với TC bằng quân sự hoặc bằng kinh tế. Và chắc chắn Mỹ sẽ chọn đánh vào nền kinh tế của TC cũng như Nga, hơn là giải pháp quân sự.

Cũng như TC lúc thì công khai, lúc thì âm thầm " đánh " vào kinh tế VN trong suốt mấy chục năm vừa qua bằng rất nhiều cách, kể cả cách phá hoại nền kinh tế của VN, trước khi phải dùng đến quân đội.
Không hiểu ư ?
Xin về đọc lại những kế sách " đểu giả " của Văn Chủng ( và Phạm Lãi ) bày cho Việt Vương Câu Tiển để phá, trước khi diệt nước Ngô của Ngô Phù Sai.
Nhưng mà TC đã không học được bài học của Nga, đó là:


Nền kinh tế chỉ huy, kinh tế do nhà nước hoạch định chặt chẽ, đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Chứ không phải do một thế lực thù địch hay phản động nào cả !
Vâng, có phần tác động của Mỹ khiến cho Nga chạy đua vũ trang làm cho kinh tế Nga mau kiệt quệ.

Chẳng qua là " Sấn hỏa đả kiếp " (Theo lửa mà hành động) mà thôi.

Bây chừ TC vẫn đang còn " duy ý chí " để cố tìm ra mưu kế cứu vãn bong bóng địa ốc và bong bóng chứng khoán thay vì " cởi trói " kinh tế để nó được năng động. Vì sợ mất đi " Định Hướng XHCN " chăng ?
Nếu vậy thì chít nị rồi, làm sao đuổi được đế quốc Mỹ khỏi biển đông ???
Có cần nhắc lại câu nói của James Carville không ?

"It's the free economy, stupid ! "

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 12th 2015, 9:32am)


73

Monday, July 13th 2015, 5:42am

Thị trường chứng khoán với màu sắc Trung Quốc
Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

Thị trường chứng khoán của Trung Quốc đang bị dao động nặng sau khi sụt giá mất một phần năm trong hai tuần khiến chính quyền phải hạ lãi suất và tỷ lệ dự trữ của các ngân hàng để kích thích.

Giữa những bất trắc đang chờ đợi giới đầu tư, Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu đặc tính của thị trường chứng khoán Trung Quốc qua phần phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin qúy thính giả theo dõi cuộc trao đổi do Nguyên Lam thực hiện sau đây.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa.

Hôm Thứ Sáu 26, chỉ nội một ngày mà Chỉ số Phức hợp của thị trường Thượng Hải, là Shanghai Composite Index sụt 7,4%, tức là mất 19% từ đỉnh cao ngày 12 Tháng Sáu.

Hai sàn giao dịch cũng giảm tương tự là Thẩm Quyến mất 20% và ChiNext mất 27% so với đỉnh điểm vào đầu Tháng Sáu.

Qua ngày Thứ Bảy 27, Ngân hàng Trung ương của Bắc Kinh đột ngột cắt lãi suất tài trợ 25 điểm cơ bản, tức là 0,25%, và hạ mức dự trữ pháp định xuống chỉ còn 2%.

Vậy mà đến ngày Thứ Hai 29, các thị trường chứng khoán xứ này vẫn mất giá, tổng cộng là hơn một phần năm so với đỉnh cao của họ.

Giới giao dịch cổ phiếu cho là thị trường chứng khoán Trung Quốc bắt đầu trào lưu sụt giá mà họ gọi là “bear market”, thị trường ủ rũ tựa con gấu. Qua ngày Thứ Ba30 thì các chỉ số đã tăng chút đỉnh, nhưng có thể là sẽ còn bị nhiều dao động trong thời gian tới.

Vì vậy, xin ông phân tích cho thính giả của chúng ta những đặc điểm đáng chú ý của thị trường này và nếu có thể thì đưa ra vài tiến báo về chiều hướng tương lai.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nói ngay là chúng ta đang bước vào một thị trường chẳng giống ai, xin gọi đó là “thị trường chứng khoán với màu sắc Trung Quốc”. Đặc tính đó là Bắc Kinh đánh cá về kinh tế với đồng tiền của người dân.

Nguyên Lam: Chúng tôi hiểu rằng ông vừa nêu một kết luận tổng hợp động thái Trung Quốc từ nhiều năm. Nếu vậy thì xin ông bắt đầu bằng sự kiện là trong vòng một năm 12 tháng vừa qua các thị trường chứng khoán xứ này đã tăng vọt gần gấp đôi trước khi bị sụt kể từ ngày 12 và nay đang ở giữa giai đoạn dao động. Thế đặc tính hay màu sắc Trung Quốc là gì ở trong trào lưu này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta phải lùi xa hơn thời khoảng một năm và nhìn sâu hơn vào quá khứ thì mới dám nói đến các đặc tính của thị trường này. - Giữa năm 2007, tức là đúng tám năm về trước, thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng đã có một vụ sụt giá mất 16% vào ngày 30 Tháng Năm, khi ấy dân Tầu chơi stock gọi là “sự biến 530”.

Khi ấy, lãnh đạo Bắc Kinh cũng đã có biện pháp can thiệp để khôi phục niềm tin của giới đầu tư qua quyết định thay đổi thuế suất đánh trên các nghiệp vụ giao dịch.

- Nhìn xa hơn vào toàn cảnh thì cứ giáp Tết Nguyên Đán là các thị trường chứng khoán của Tầu giảm giá vì dân đầu tư bán ra để lấy tiền về ăn Tết và mỗi khi thị trường giảm giá mạnh thì nhà nước lại nhảy vào can thiệp để khích lệ tinh thần dân chúng.

Đây là một đặc điểm của Trung Quốc vì các xứ khác ít khi để Bộ Tài Chính, Ngân hàng Trung ương hay Ủy ban Giao dịch Chứng khoán nhảy vào thị trường để làm sai lệch quy luật cung cầu và chiều hướng giá cả. Người ta chỉ đảm bảo luật lệ minh bạch và áp dụng nhất quán để giới đầu tư và doanh nghiệp tính toán lợi hại trên một thị trường có mục tiêu cơ bản là huy động vốn cho doanh nghiệp.

Vụ thị trường cổ phiếu Tầu tăng giá trong năm qua và thật ra là lên gấp ba từ hơn ba năm qua cũng nằm trong đặc tính ấy.

Nguyên Lam: Ông vừa nêu ra một nhận xét đáng chú ý là trào lưu tăng giá này đã khởi sự từ ba năm trước, chứ không phải từ một năm qua. Thưa ông, nguyên do nào hay biện pháp gì của Bắc Kinh đã thổi lên vụ tăng giá đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta nên nhìn vào biện pháp này thì thấy ra rủi ro ngày nay của thị trường chứng khoán Trung Quốc. Giới quan sát gọi đây là “ảo thuật của Bắc Kinh”, tôi gọi đây là “xảo thuật moi tiền của nhà nước”.

- Từ năm 2010, Bắc Kinh đã cho nhà đầu tư vay tiền của các doanh nghiệp môi giới chứng khoán để mua cổ phiếu. Biện pháp giải tỏa này được mở rộng hơn từ năm 2012 và là động lực của vụ cổ phiếu lên giá. Chuyện nay nó hơi chuyên môn một chút nên ta cần giải thích thêm

- Một cách thông thường thì nhà đầu tư là người có tiền tiết kiệm không cần tiêu ngay nên mới đem khoản tiền gọi là dư dôi đó đi đầu tư.

Thí dụ như vào thị trường cổ phiếu hay trái phiếu hoặc thị trường bất động sản, hoặc đơn giản nhất là ký thác vào một trương mục tiết kiệm ngân hàng để kiếm lời.

Nguyên tắc an toàn ở đây là chỉ đầu tư và lấy rủi ro nếu mà dù mình có thua lỗ mất tiền thì sinh hoạt thường nhật của gia đình cũng không bị thiệt hại gì. Nhưng vì ham lời và tin rằng thị trường sẽ còn lên giá, người ta mới đi vay tiền để đưa vào nghiệp vụ đầu tư đó.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 13th 2015, 5:52am)


74

Monday, July 13th 2015, 5:53am


Nguyên Lam: Thưa ông, Nguyên Lam xin hỏi ngay rằng người ta đi vay ở đâu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta có thể vay mượn trong gia đình bè bạn nhưng rất hiếm vì chẳng ai muốn cho người khác vay để đưa tiền vào một nghiệp vụ khó hiểu.

Cũng chẳng ngân hàng nào cho thân chủ vay tiền để chơi stock vì không thẩm định được rủi ro của việc sử dụng và sinh lời.

Trên thị trường chứng khoán, giới đầu tư cũng không thể gõ cửa một doanh nghiệp để bảo rằng tôi xin đưa tiền này ra mua cổ phiếu của quý vị. Họ cần các công ty chuyên môn làm nghiệp vụ trung gian là đưa tiền của nhà đầu tư mua cổ phiếu được giao dịch trên sàn chứng khoán mà các công ty này biết rất rõ tình hình giá cả.

Vì biết rõ, các công ty làm nghiệp vụ môi giới chuyên môn này có thể cho nhà đầu tư vay tiền để mua thêm cổ phiếu. Người ta gọi đó là “margin lending” và nghiệp vụ giao địch bằng tiền đi vay thay vì bằng vốn riêng của nhà đầu tư được gọi là “margin trading”.

Nguyên Lam: Thế thì các công ty môi giới này không chỉ giúp thân chủ về mặt chuyên môn khi mua bán cổ phiếu và nhận tiền hoa hồng mà còn có thể là nhà tài trợ nghiệp vụ đầu tư nữa phải không?

Thưa ông, như vậy thì họ lấy tiền ở đâu ra cho các thân chủ vay?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi rất hay vì cho thấy cả chu trình vay trả rất nhiêu khê phức tạp.

- Các doanh nghiệp trung gian này có thể dùng vốn riêng để cho nhà đầu tư vay tiền đánh bạc mà tin rằng mình nắm vững tình hình lời lãi rủi ro vì là đánh bạc trên các sàn chứng khoán mà họ biết là lên giá hay xuống giá. Nếu thấy nhà đầu tư dùng tiền đi vay này chơi stock mà giá lại sụt tới gần giá mua lúc ban đầu thì họ có quyền đòi nhà đầu tư châm thêm vốn, đấy là trường hợp ta gọi là “margin call”.

Khi nhà đầu tư lại hết tiền châm vốn vì giá sụt quá mạnh và cần đắp quá nhiều tiền thì doanh nghiệp trung gian có quyền bán ngay các cổ phiếu mất giá ấy để lấy lại tiền của họ.

- Nói cho dễ hiểu thì các doanh nghiệp trung gian biết rõ tình hình rủi ro nên có thể tài trợ cho nhà đầu tư. Nhưng, và đây mới là chuyện lý thú, khi quá nhiều nhà đầu tư muốn vay thì doanh nghiệp trung gian có thể đi vay ngân hàng để đem về cho thân chủ đầu tư đánh bạc và họ kiếm lời ở giữa.

Nguyên Lam: Ông nói như vậy có nghĩa là khi Bắc Kinh cho nhà đầu tư được phép vay tiền của doanh nghiệp làm dịch vụ môi giới thì cũng có nghĩa là cho dòng tiền của ngân hàng chảy vào thị trường chứng khoán qua các doanh nghiệp môi giới này?

Nhưng vì sao Bắc Kinh lại làm như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đấy mới là câu hỏi then chốt và khiến ta liên hệ đến quyết định hạ lãi suất và giảm mức dự trữ pháp định mà Ngân hàng Trung ương của Bắc Kinh vừa công bố hôm 26.

- Lãnh đạo Trung Quốc tính như thế này: Khi thị trường địa ốc đã sa sút, họ muốn mở vòi tiền của các công ty môi giới và của các ngân hàng cho giới đầu tư đưa qua thị trường chứng khoán.

Trên thị trường này, các doanh nghiệp cần huy động vốn và phát hành cổ phiếu cho giới đầu tư mua về để kiếm lời. Khi nhà đầu tư dễ vay tiền đưa vào thị trường, các doanh nghiệp dễ có thêm vốn để thanh toán các khoản nợ quá lớn của họ. Chúng ta không quên rằng các doanh nghiệp Trung Quốc đang có mức nợ rất cao, có thể lên tới 17 ngàn tỷ đô la, nên có nhu cầu trả nợ rất lớn.

- Khi giải tỏa điều kiện tài trợ cho giới đầu tư như vậy, Bắc Kinh đã thổi lên một trái bóng cổ phiếu nhờ phản ứng ham lời của người dân, là nhà đầu tư, và trái bóng đó mới giải thích việc cổ phiếu tăng vọt. Nếu mọi sự tốt đẹp, nhà đầu tư mà có lời thì có thêm tiền nâng mức tiêu thụ và kích thích kinh
tế, đấy là điều mà giới kinh tế gọi là “hiệu ứng thịnh vượng” – wealth effect.

Nó phù hợp với chủ trương chuyển hướng kinh tế về tiêu thụ và tạo ra một thành phần trung lưu khá giả sẽ ủng hộ chế độ. Còn các doanh nghiệp mắc nợ thì có thêm tiền trả nợ lại cho ngân hàng và các ngân hàng đỡ mất nợ và mọi việc đều tốt đẹp!

Nguyên Lam: Thế nhưng nếu trái bóng đó bể thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đấy mới là câu hỏi ngàn vàng đang làm lãnh đạo Bắc Kinh mất ngủ!
- Chúng ta cần tạm nhắc lại cái gọi là bản sắc Trung Quốc trong thị trường chứng khoán đã, trước khi mình trở lại câu hỏi nhức nhối trên. Khác với các nước văn minh chỉ đặt ra luật chơi bình đẳng có luật lệ nghiêm minh để thị trường tự do vận hành trong một khuôn khổ pháp định công khai, lãnh đạo Trung Quốc lại nhảy vào thị trường để điều tiết tài nguyên và lợi tức quốc dân theo chủ trương chính trị của họ.

- Nhưng bản sắc Trung Quốc cũng bao gồm cả phản ứng ham lời và ưa đánh bạc của người dân. Khi được nhà nước mở cửa cho mình chơi stock, lại còn khuyến khích qua biện pháp tài trợ thì quả nhiên là thị trường lên giá vù vù. Người ta đánh giá thị trường này ở khái niệm gọi là “kết giá tư bản của thị trường” hay “market capitalization”, là nhân tổng số cổ phiếu với cái giá đương thời trên thị trường. Tính đến cuối năm ngoái thì kết giá này lên tới bốn ngàn năm trăm tỷ đô la, là vượt qua Nhật và chỉ thua Mỹ. Song song, vì phản ứng bày đàn, khi thấy cổ phiếu lên giá, dân Tầu ào ào nhảy vào đánh bạc kiếm lời, lại còn đi vay để đánh bạc mà có khi chẳng hiểu ra sự vận hành của thị trường chứng khoán là gì. Trung Quốc có 90 triệu nhà đầu tư như vậy, đa số là cò con, ra vào thị trường như vào sòng bạc. Họ có tiền mà không ký thác ngân hàng vì phân lời quá rẻ và đem vào sòng bài chứng khoán. Trong đó chừng 30% là tiền đi vay, là margin lending.

Nguyên Lam: Nếu vậy, khi truyền thông chuyên đề nói đến hiện tượng margin call mà ông gọi là châm vốn thì đấy có phải là chỉ dấu cho thấy thị trường đang dao động và trái bóng sẽ bể không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng và câu trả lời rõ rệt và dễ hiểu nhất là các doanh nghiệp Trung Quốc đang có mức lời sa sút thì giá cổ phiếu của họ không thể tăng mãi như vậy. Và khi cổ phiếu sụt thì phản ứng bày đàn tất nhiên dẫn tới nạn bán tháo, làm nhà đầu tư mất vốn và các ngân hàng theo nhau mất nợ. Ta đang chứng kiến chuyện đó và vụ này sẽ kéo dài nhiều năm.


Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi lý thú này.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 13th 2015, 6:06am)


75

Monday, July 13th 2015, 7:19am

Nhận định:

Một lần nữa, NP phải căn cứ vào những tin tức có sẳn mà ai cũng biết để học hỏi. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa là một kinh tế gia mà NP từ lâu rất tâm đắc. Ông có một tầm nhìn rất sắc bén về những vấn đề kinh tế.
Tuy nhiên có một số người, trong đó có NP, gặp khó khăn khi liên kết những nhận định chuyên môn của ông với thời sự kinh tế. Vì vậy xin mạn phép chia sẻ theo cách hiểu thông thường:

Trước hết, trong sinh hoạt chợ búa, mọi hoạt động xoay quanh việc trao đổi hàng hóa và công việc. Sự trao đổi nầy theo hướng tự nhiện là " thuận mua, vừa bán ". Để thỏa mãn cái lẽ thuận mua vừa bán thì giá trị của món hàng phải được người bán và người mua đồng ý ở một mức nào đó để có thể thực hiện việc trao đổi. Đó chính là giá cả của hàng hóa và dịch vụ.

Vậy thì cái gì đã làm nên giá cả của món hàng ?
Có 2 điều:
- Lợi ích của món hàng ( đáp ứng nhu cầu của người mua )
- Số lượng sẳn có của món hàng ( cán cân cung cầu ).

Nghĩa là món hàng càng có ích lợi giá càng cao và món hàng càng hiếm giá càng đắt.
Nếu mọi việc mua bán diễn ra theo lẽ tự nhiên nói trên thì gọi là thị trường tự do, trong đó mọi người tha hồ cạnh tranh để làm ra một món hàng tốt hơn và giá cả phải chăng hơn để bán được nhiều hơn. Dĩ nhiên là người mua sẽ có lợi hơn.

Nếu như một tư nhân cố ý:
- tạo sự khan hiếm giả tạo để tăng giá một món hàng
- hay tạo ra tâm lý hoảng loạn bán đổ bán tháo để hạ giá một món hàng thì gọi là tìm cách lũng đoạn thị trường ( như gian thương Tàu ngày xưa lũng đoạn thị trường lúa gạo ).

Nếu như một cơ sở thương mãi cố ý gán cho một món hàng những lợi ích không có thật để giành giật thị trường và tăng giá bán thì gọi là quảng cáo sai lạc gian dối ( như mang giầy hiệu đó đi mỗi ngày sẽ đươc xuống cân ).
Do đó giá cả là một cơ chế của thị trường tự do để có thể tự điều chỉnh mức cung cầu trong nền kinh tế của một quốc gia theo chủ nghĩa tư bản ( " định hướng Tư Bản Chủ Nghĩa " ? :evil: ).

Nếu như chính quyền của một quốc gia tìm đủ mọi cách để quyết định giá cả theo một xu hướng chính trị nào đó thì gọi là một nền kinh tế chỉ huy ( " định hướng Xã hội Chủ Nghĩa " ? :D )

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 14th 2015, 6:13pm)


76

Tuesday, July 14th 2015, 8:30am

Nói một cách đơn giản, số lượng mua ( sức cầu ), số lượng bán ( sức cung ) và giá cả của một món hàng sẽ tự điều chỉnh với nhau.
Nếu số lượng muốn mua vô ( cầu ) tăng thì giá sẽ cao, nếu số lượng muốn mua vô ( cầu ) giảm thì giá sẽ hạ. Ngược lại nếu số lượng muốn bán ra ( cung ) tăng thì giá sẽ hạ, nếu số lượng muốn bán ra ( cung ) giảm thì giá sẽ cao.
Như thế khi giá một món hàng cao ( vì cầu tăng ) thì các doanh nhân sẽ tìm cách gia tăng sản xuất để có thêm lợi nhuận ( cung tăng thì giá sẽ hạ xuống ).
Còn khi giá một món hàng hạ ( vì cầu giảm ) thì các doanh nghiệp sẽ giảm bớt sản xuất để tránh lổ lã ( cung giảm thì giá sẽ cao lên ). Khi cung và cầu cân bằng ( tương đương ) thì giá cả sẽ ổn định. Và đó chính sự năng động của thi trường tự do.

Trong các nước theo chủ nghĩa tư bản thì nền kinh tế vận hành bởi tư nhân theo thị trường tự do nên rất năng động. Chính quyền chỉ đóng vai trò giàm sát với những luật lệ được ban hành nhằm bảo đảm sư công bằng về quyền lợi của giới tiêu thụ là người dân.

Trong các nước theo chủ nghĩa xã hội, thì nền kinh tế được hoạch định một cách chặt chẽ bởi nhà nước sao cho phù hợp với chủ trương và đường lối của đảng. Vì thế nền kinh tế sẽ chẳng những không năng động mà lại còn kém hiệu quả.

TC là một nước có nền kinh tế chỉ huy nên không năng động và kém hiệu quả.
Chẳng những vậy chính quyền TC còn bất chấp các quy luật vận hành khách quan của nền kinh tế nên đi vào bế tắc là lẽ đương nhiên. Thêm vào đó giới cầm quyền chỉ gồm toàn những kẽ dốt nát mà tham lam, thừa cơ trục lợi nên làm cho hậu quả tồi tệ càng trở nên trầm trọng thêm.
Vậy mà dám ngang nhiên thách thức Mỹ và cả thế giới ( chưa đủ lông cánh mà muốn bay cao )
Quả là TC đã không biết rõ thực lực của chính mình !
Thế thì đừng trách Mỹ sẽ đánh cho những đòn tài chính " xấc bấc xang bang " ( nương theo nền kinh tế què quặc của mình ).

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 15th 2015, 7:12am)


77

Thursday, July 16th 2015, 5:25am

NP muốn nói đến thuật ngữ " kháng long hữu hối " của quẽ Bát Thuần Càn trong Kinh Dịch. Hể mà dũng mãnh quá, cương cường quá thì tất nhiên sẽ dẫn đến sự hối hận. Không phải " mãnh long quá giang " như trong phim võ hiệp của Lý Tiểu Long mà là " kháng long hữu hối " đấy !

Không hối hận sao được khi mà chỉ trong vòng chưa đầy một tháng mà thị trường chứng khoán của TC đã mất đi khoảng 4.000 tỉ USD. Con số thua lỗ nầy còn lớn hơn tổng số của quỹ Dự Trử Ngoại Hối của TC là khoảng 3.000 tỉ USD.
Mà nầy, 4.000 tỉ USD không phải là con số giởn chơi trên giấy tờ ( bút tệ ) đâu. Tiền tươi thóc thật đấy. Con số khủng nầy là dòng tiền được các nhà đầu tư lớn rút ra mà khó có cơ hội bỏ vào lại ( cash out for good ). Do đó để tránh cho thi trường chứng khoáng sụp đổ thì nhà cầm quyền TC phải bơm tiền vào đễ bù đấp.

Thử hỏi tiền ở đâu vậy ?

Xin thưa, tiền là của dân chúng làm ra, phần lớn là từ lợi nhuận của việc xuất cảng. Nhưng nhà cầm quyền TC đã thâu tóm hầu hết để bỏ vào Ngân Hàng Trung Ương mà nay chính phủ TC bơm trở lại vào thị trường đang dao động.
Chính phủ TC ra lệnh cho các công ty quốc doanh mua cổ phiếu, và nới lỏng các chính sách ngân hàng để cung cấp thêm vốn cho các nhà đầu tư chứng khoáng trong khi các thị trường ổn định trở lại.

Thử hỏi Chính phủ TC có thể tiếp tục làm việc nầy trong bao lâu nữa ?

Chắc là không bao lâu nữa trước khi nền kinh tế bị suy sụp.


Bởi vì các nhà đầu lớn thì muốn lấy lại vốn trước khi quá trể, còn các nhà đầu tư nhỏ là người dân sau cơn hoảng loạn vẫn còn cảm thấy rất bất an. Tóm lại mọi người sẽ chực chờ cơ hội để bán ra. Cổ phiếu thì cũng giống như những món hàng được đem ra mua bán, hể nhiều người muốn bán mà ít người muốn mua thì giá phải xuống nữa.
Để cứu vãn thì nhà cầm quyền TC lại phải can thiệp, lại phải bơm thêm tiền vô. Thế là không chóng thì chầy sẽ bị kiệt quệ và suy sụp thôi.

Mà kinh tế bị suy sụp thì lấy tiền đâu ra tài trợ cho chiến tranh ?

This post has been edited 8 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 18th 2015, 5:43am)


78

Saturday, July 18th 2015, 5:17am

Có những điều rất đơn giản mà đôi khi chúng ta không nhớ:

- Thứ nhất người dân làm ra tiền ( vì tạo ra của cải hay công việc ), chứ chính quyền không làm ra tiền.
- Nhưng chính quyền lại xài tiền của người dân ( tiền thuế ). Vì vậy trên nguyên tắc, chính quyền phải cung cấp một dịch vụ là dùng tiền thuế một cách hợp lý để mang lại những lợi ích tối đa cho người dân. Đúng như khẩu hiệu: " từ dân mà ra, do dân mà có và vì dân mà làm ".
- Dân là chủ còn chính quyền chỉ là người làm công nên chính quyền phải làm theo ý dân ( Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh ).

Thế nhưng những nhà cầm quyền Trung Hoa từ xưa tới nay lúc nào củng coi mình là chủ ( vua chúa ), là con trời ( thiên tử ) và là cha mẹ của dân ( Phụ mẫu chi dân ). Cho nên vua chúa có một uy quyền tuyệt đối trên tài sản và cả tính mạng của dân chúng.
Bọn họ có quyền ban ân hay giáng họa cho người dân ( quân xử thần tử, thần bất tử bất trung / phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu).
Bọn họ tráo trở nho giáo để kềm kẹp, trói buộc và nô lệ hóa dân chúng bằng cách nhấn mạnh những gông cùm tư tưởng như " quân, sư, phụ " ( tại sao không là phụ, sư, quân ? ) , như " Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử " ( tại sao phải nhắm mắt nghe theo ? ).

Bởi vậy bọn vua chúa Trung Hoa ngày xưa và bọn cầm quyền TC ngày nay rất thích dựng thật nhiều tượng đài Khổng Tử, chứ đạo giáo gì bọn buôn thần bán thánh ấy :cursing:

Còn bọn vua chúa ấy thi hầu hết là vô đạo, vô luân, vô pháp, vô thiên nên không bao giờ giử gin " ngũ thường " và " tứ đức ".
Trò chơi của chúng là gì ? là mộng " mưu bá, đồ vương " gây biết bao cảnh núi xương sông máu !

Nhà cầm quyền TC cũng vẫn tiếp nối truyền thống cổ hủ ấy nên coi ( hay muốn ) người dân của họ chỉ là một lũ ngu si dưới quyền cai trị của mình. Họ bắt thì dân phải nhịn đói ( thắt lưng, buộc bụng để xuất cảng ), họ cho thì dân mới được hưởng ( qua lợi tức ảo của cổ phiếu ). Họ thu tóm tiền của dân làm ra ( qua hệ thống ngân hàng nhà nước ) để làm gì và kết quả ra sao thì người dân không bao giờ được biết. Mà phải chi họ là thầh thánh hay ít ra là đỉnh cao của trí tuệ lòai người thì cũng đỡ. Họ chỉ là một bọn dốt nát , tham lam mà lại cùng hung cực ác.
Họ tự tung tự tác, thành-bại mất-còn cũng không sao, không ai có quyền bàn cải, cũng không ai có quyền kiểm sóat và không ai phải chịu trách nhiệm với ai.

Nhưng mà hậu quả tai hại thì người dân lãnh đủ.
mà người ta vẫn thường nói:
" Dân giàu thì nước mạnh "
Nghĩa là tiền của phải được tích chứa trong dân ( ngụ kim ư dân ).

Chỉ có nhửng người " duy ý chí " mới nói ngược: " Dân mạnh nước giàu " ( Dân mạnh để cho nhà nước xuất cảng lao động mà làm giàu chăng ? mà " nước " là ai ? Nhà nước ? hay bọn buôn người ? ).

This post has been edited 8 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 18th 2015, 5:32pm)


79

Monday, July 20th 2015, 7:03pm

Theo diễn biến mới nhất trận chiến " Dương đông kích tây " của TC đã mở màn sớm hơn kế họach !
Lý do: Theo bài nhận định của báo Boxun TC thì VN đã thay đổi lập trường từ " thân TC " đổi sang " thân Mỹ ".

Một khi TC đã chính thức lên tiếng lo ngại thì điều nầy có phần lớn là đã vượt quá tầm điều khiển của TC. Và điều lo ngại nầy là có thật và rất là bất lợi cho mưu đồ bá chủ Biển Đông của TC. Hẳn TC còn đang đau buốt về hành động " quật khởi " của Bắc Hàn là Chú Ĩn sau khi tại vị êm xuôi đã bất thần thanh trừng người dượng đầy uy quyền và bè lũ thân TC của hắn. Bây giờ Bắc Hàn đã ở ngòai tầm điều khiển của TC mà không ai có thể làm gì hay muốn làm gì họ ít ra là trong lúc nầy.
Về điểm nầy, dù không ưa gì Chú Ĩn, nhưng NP có lời khen ngợi " nhân dân Triều Tiên " ( Bắc Hàn ) đã dũng cảm vuốt râu hùm TC.

Cũng vậy VN không có một con đường nào khác hơn là rời xa nanh vuốt của TC. Hồi xưa thì người ta tin rằng: " Đi với TC thì mất nước, đi với Mỹ thì mất Đãng ". Nhưng ngày nay thì mọi người đã tỏ tường rồi: " Đi với TC thì chẳng những mất nước mà còn mất tuốt luôn Đãng ". Vâng Đãng CS của VN thì vẫn còn, nhưng một khi nước VN lọt vào miệng hùm TC thì mọi cơ cấu đều biến đổi, chứ không phải chỉ biến chất. Có nghĩa là sẽ không có một đãng viên người Việt nào sẽ được " cơ cấu " vào những chức vụ lãnh đạo cả. Thay vào đó sẽ là những đãng viên Tàu nói tiếng Việt như người Việt.
Điều nầy có dễ xãy ra không ? Dễ ợt !
Mà đã không có thực quyền thì lợi lộc cũng mất luôn, thậm chí có thể mất mạng nếu không " ói ra " những tiền của đã vơ vét được lúc trước. Không tin hả ?
Đọc lại chuyện Lộc Đỉnh Ký ( Vi Tiểu Bảo ) đi. Hay đọc lại Hồi ký của ông hòang Shihanouk để biết vì sao đang làm đại diện của Khmer đỏ mà phải bỏ trốn.
Trái lại " Đi với Mỹ thì chẳng những không mất Đãng mà cũng không mất nước, chẳng những vậy mà cả nước VN còn có cơ may ăn nên làm ra ". Ít ra thì cũng được " một khỏang thời gian coi được " ( decent interval ) để có thể thu vén mọi sự mà " cáo lão " để an hưởng thú điền viên với con cháu.

Vậy thì theo TC để ăn cái giải rút gì ? ?( :( :rolleyes:
Vậy có nên đổi lại thành câu: " Đi với TC thì mất mạng, còn đi với Mỹ thì hạ cánh an tòan " không ? :D :D :D :D

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 21st 2015, 2:33am)


80

Friday, July 24th 2015, 6:57am

Có 2 sự kiện đáng quan tâm:

- Hôm 28/6 đã có xô xát giữa một nhóm nhà hoạt động Campuchia do dân biểu Real Camerin dẫn đầu với người dân Việt Nam làm gần 20 người bị thương tại vùng biên giới Campuchia với Việt Nam.

Hôm Chủ nhật 19/7 con số người Campuchia đông hơn gấp bội.
Khoảng 2.000 người Campuchia dẫn đầu là các dân biểu của đảng Cứu quốc đối lập đã tới khu vực giáp ranh giữa tỉnh Long An và tỉnh Svay Rieng, nơi có cáo buộc rằng Việt Nam "vi phạm đất đai của Campuchia". Ông Real Camerin được các dân biểu cùng đảng Cứu quốc là Um Sam An, Cheam Channy và Nuth Rumduol tháp tùng. Ông nói với đám đông là cột mốc 203 đã được dựng sai vị trí.
Chính quyền Campuchia đã tìm cách ngăn cản đoàn người nhưng họ vẫn tới được nơi dự định là cột mốc số 203. Đám đông đối lập rút lui khoảng 20:00 tối. Với các hoạt động như thế này, dường như căng thẳng đường biên chưa có chiều hướng suy giảm.

- Cục Hải sự Trung Quốc ra thông báo hôm 20/7 cho biết Trung Quốc sẽ tiến hành tập trận ở Biển Đông từ ngày 22-31/7.

( Tin từ BBC Tiếng Việt )

Nhận định:

Nhìn vào địa hình của VN thì rõ ràng phía trước mặt là hướng đông ( Biển đông ) và phía sau lưng là hướng tây ( tây bắc, tây nguyên và tây nam ). Tây bắc thì là núi rừng Việt Bắc giáp giới TC. Tây nguyên thì có dãy Trường Sơn là xương sống của VN. Giữa tây bắc và tây nguyên là Vinh, cổ họng của VN. Tây nam thì có vùng giáp ranh giữa tỉnh Long An và tỉnh Svay Rieng, thắt lưng của VN, là nơi mà đất của Campuchia nằm sâu vào chung quanh đất của VN.
Hai điểm kể trên phải nói là hai tử huyệt của VN mà người Pháp khi vạch đường biên giới cho ba nước Việt, Miên, Lào đã để lại.
Đến nay TC đã từng bước điểm vào các tử huyệt của VN. Cũng giống như hình ảnh của một con sư tử đang sẳn sàng nhảy lên vồ một con nai, miệng thì ngọam vào cổ họng, móng vuốt thì chụp vào lưng nai. Nếu VN chểnh mảng ngu ngơ thì số phận cũng sẽ giống hệt như con nai kia, thế thôi.

Lý tưởng nhất là nhân lọai bất kể màu da chủng tộc sống chung hòa bình, gìn giử trái đất và môi trường, để phát triển văn minh chung. Nhưng nếu chẳng may thiên hạ đại lọan, cá lớn nuốt cá bé, thì tầng lớp lãnh đạo của quốc gia ít ra phải có trách nhiệm là tránh cho đất nước và dân tộc VN khỏi họa diệt vong. Chứ chưa nói đến là họ phải cố hết sức mà xóa bỏ những tử huyệt kể trên.
Nhưng thôi, đó chỉ là giấc mộng lớn của bậc anh hùng dân tộc Quang Trung, giấc mộng đòi lại đất lưỡng Quảng ( kể cả đảo Hải Nam ).

Biết đâu, vì mù quáng, vì kiêu ngạo hay vì không còn cách nào khác hơn, để tránh cho Đãng Cộng Sãn Trung Hoa khỏi bị đào thải mà TC quyết liệt gây chiến ( theo chủ trương " Thiên hạ đại lọan Trung Quốc hưởng lợi " ). Trong khi đó VN vẫn còn mơ hồ với mớ lý thuyết và chủ nghĩa không tưởng hoặc với tư tưởng nô lệ, cầu an thì tránh sao được họa vong quốc.

Các nước lớn họ đã lên kế họach hàng trăm năm, trải qua bao thế hệ thực hiện theo từng bước, mà mình thì ăn bửa nay chưa lo được ngày mai. Quả thực là thất vọng cho một tập thể theo chủ trương " tự sướng ", vơ vét để tự sướng.

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 24th 2015, 8:14am)


29 users apart from you are browsing this thread:

29 guests

Similar threads