You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

261

Wednesday, March 16th 2016, 5:55am

Nhận định:

Cho tới ngày hôm nay thì ai cũng biết rằng cho dù TC có ngang ngược như thế nào, ngạo mạn như thế nào, thậm chí là có chiếm nốt hết những đảo còn lại của VN ở Biển Đông thì ta cũng chỉ biết cúi đầu cam chịu mà thôi. Bởi vì sao ?
- Bởi vì đó sẽ là một trận chiến không cân xứng mà dù cho " địch chết ba, ta chết một " thì TC vẫn ở vị thế áp đảo tuyệt đối.
- Bởi vì cha ông chúng nó đã tính tóan kỹ lưỡng cho mộng bành trướng từ lâu rồi. Dù cho không làm được bá chủ thế giới thì cũng quyết " chia ba thiên hạ ".
- Bởi vì các " quan chức " của ta thì chỉ muốn đắm mình trong xa hoa và kể chuyện " cổ tích " cho con cháu của mình nghe.
- Bởi vì " phồn vinh gỉa tạo " chỉ sản xuất ra được những đại gia và tinh thần nô lệ ngọai bang mà thôi: Thà đem thân làm tôi mọi để còn có miếng ăn còn hơn là phải đói khát rách rưới.
- Bởi vì làm sao mà " Bẻ nạn chống trời ( con )" cho được ? Thôi thì " xếp giáp quy hàng " trước cho khỏi mất mạng.
- Bởi vì Luật Nhân Quả là hể anh trồng xòai thì ra xòai, trồng quít thì ra quít. Bao nhiêu năm nay anh đã cố gắng trồng những con người cam chịu thì nay anh bội thu những con người ấy.

Thế cho nên trên các cổng thông tin " ngòai luồng " chỉ nghe thấy " tàu lạ " đâm, chém, bắn, giết, dìm chết người VN chứ tuyệt nhiên không bao giờ nghe nói có một lực lượng " tuần duyên " nào bén mãng ở đó cả.
Thôi ta cứ đi lễ và đốt vàng mã thật nhiều vào để cầu mong cho bọn Ác-hen-ti-na nầy khệnh chúng chết hết dùm ta.
Nghe nó "đã" làm sao !!! :D 8o :thumbup: :thumbsup:

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 28th 2016, 6:09am)


262

Thursday, March 17th 2016, 8:08pm

Còn tại sao, khi VN bị TC tấn công biên giới Nga đã giúp đỡ kịp thời và hiệu quả, nhưng khi VN bị TC tấn công cướp đảo Nga lại hầu như không có động tĩnh gì ? Đâu là lý do đích thực ?

Ối giời, mấy ông ơi, đến giờ nầy mà còn hỏi mấy câu vớ vẫn ấy thì quả thực là mơ hồ giửa " địch và ta ". Lúc trước thì ta là đàn em của Nga chống lại TC nên chúng nó phải bênh ta chứ ! Còn sau nầy ta đã quy phục " thiên triều " thì chúng nó còn " chưởi thề khóai trá " chứ rỗi hơi đâu mà can ngăn " chủ tớ " nhà người.

Cũng như vậy Mỹ đã chơi cái trò " thí chốt (VN ) để bắt xe ( Nga ) " đó.

Rốt cuộc chỉ có cái đám VN ta là tới giờ phút cuối cùng nầy, nước nhà bại vong đến nơi, mà còn chưa biết đối xử tử tế với nhau cho ra hồn người nữa. Hảy quỳ mọp xuống mà rước ngọai xâm để tàn hại anh em đi, rồi xem lũ bán nước chúng mày còn đắc chí được đến bao lâu nữa ?
Tại sao không nghĩ xa hơn một chút xíu để nhỡ mai nầy ta còn nhìn mặt nhau mà khóc nữa chứ !?

263

Wednesday, March 23rd 2016, 1:55am

‘Tứ trụ’ trên Biển Đông: Việt Nam hưởng lợi gì ?
VOA Tiếng Việt
08.03.2016

Đề xuất của Mỹ, thiết lập liên minh chiến lược 4 bên, mang lại hy vọng cho nhiều người Việt về việc các nước lớn “kẹp chặt” Bắc Kinh ở vùng biển Đông. Chỉ huy các lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Harris, tuần trước đã đề xuất tái phục hồi liên minh không chính thức gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ và Hoa Kỳ.

Không đề cập tới Trung Quốc, Đô đốc Harris nói rằng một số cường quốc đang tìm cách “bắt nạt các quốc gia nhỏ hơn thông qua các hành động chèn ép, đe dọa”, đồng thời cho rằng việc lập ra một nhóm hải quân giữa các nước lớn trong khu vực là cách tốt nhất để ngăn chặn các hành động “ỷ lớn hiếp đáp các nước nhỏ”.

Đề nghị của chỉ huy lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương đã nhận được sự ủng hộ của nhiều người sử dụng mạng ở Việt Nam. Chuyên gia về quan hệ Việt – Trung Dương Danh Dy nhận định với VOA Việt Ngữ rằng:

“ Việc tái lập liên minh bốn bên là điều “tất nhiên” vì chính sự “hung hăng của TC ở biển Đông đã buộc các nước phải cùng chung tay kiềm chế. Họ nhất trí với nhau trong việc đối phó với TC thì họ sẽ ngăn chặn, TC không phải muốn làm gì cũng được nữa. Rõ ràng điều đó, TC phải tính toán, phải cân nhắc. Họ có phản ứng, họ có áp lực với TC, chứ không phải như những nước yếu như ta, một nước nhỏ như ta, muốn làm gì thì làm nữa.”

Trong khi đó, TC luôn khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Trường Sa và Hoàng Sa đồng thời cấp tập xây đảo nhân tạo cũng như cho ngư dân ra đánh bắt ở biển Đông để xác lập chủ quyền.

Các nhà quan sát cho rằng việc nỗ lực khôi phục một liên kết hải quân đã bị TC phản đối một thập kỷ trước nhằm mục đích cân bằng lại với các hành động mở rộng lãnh hải của Bắc Kinh, và rằng chính quyền của Chủ tịch Tập Cận Bình lần này “sẽ không để yên”.

Trong khi đó, Tướng Lori Robinson, chỉ huy Không lực Mỹ ở Thái Bình Dương, hôm nay mới tuyên bố rằng không quân Hoa Kỳ sẽ tiếp tục các chuyến bay hàng ngày trên vùng trời biển Đông, bất chấp việc TC đưa các tên lửa đất đối không và chiến đấu cơ tới Hoàng Sa và Trường Sa.
Phát biểu tại thủ đô Canberra của Australia, bà Robinson cũng thúc giục các quốc gia khác thực thi quyền được bay qua và đi ngang quang các vùng lãnh hải và không phận quốc tế mà TC tuyên bố nhận chủ quyền ở biển Đông. Tuy nhiên, vị chỉ huy này từ chối bình luận về phản ứng của Mỹ nếu một chiếc máy bay của Hoa Kỳ bị TC bắn hạ.

Trong khi đó, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị hôm nay cũng củng cố quan điểm cứng rắn của Bắc Kinh đối với tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông với tuyên bố rằng TC sẽ không cho phép các quốc gia khác vi phạm điều nước này coi là quyền chủ quyền ở vùng biển chiến lược này. Ông Vương nói thêm, ám chỉ Hoa Kỳ, rằng tuyên bố về tự do hàng hải của một nước nào đó không trao cho nước này “quyền muốn làm gì thì làm”.

Chỉ huy Không lực Mỹ ở Thái Bình Dương thừa nhận “khả năng xảy ra tính toán sai lầm” dẫn tới xung đột ở vùng biển đang ngày càng bị quân sự hóa. Nhưng bà nói rằng Hoa Kỳ và TC đã ký một thỏa thuận về cách thức hành xử trên không phận quốc tế hồi tháng Chín năm ngoái, và sẽ tiếp tục thảo luận chủ đề này trong năm nay. Vị nữ chỉ huy này cũng nói thêm rằng các máy bay tầm xa của Nga cũng tăng cường hoạt động ở Thái Bình Dương với các chuyến bay quanh Nhật Bản và Guam.

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy nói thêm rằng việc 4 nước trên liên kết với nhau sẽ giúp một nước nhỏ nằm cạnh “anh bạn” láng giềng khổng lồ Trung Quốc như Việt Nam sẽ ít nhiều “được hưởng lợi”. Ông Dy nói tiếp:

“Thứ nhất, anh TC không thể coi thường khi các nước lớn này đồng tình với Việt Nam, đồng tình về vấn đề biển Đông, dám phản đối hành động bá quyền của TC ở biển Đông. Thứ hai nữa, hành động đó có lợi cho Việt Nam trong thế chống đỡ với TC. Nếu một mình Việt Nam thì chúng ta ở thế rất yếu, nhưng mà có thêm các nước lớn đồng tình vào nữa, nhất là có thêm Mỹ, thì TC không phải muốn làm gì Việt Nam thì cũng làm được đâu”.

Trong bài bình luận mới nhất đăng tải hôm qua, tờ Hoàn cầu Thời báo của TC một lần nữa lại lên án sự can dự của Mỹ ở biển Đông. Tờ báo có tư tưởng dân tộc cực đoan này đổ lỗi cho Washington gây ra tình trạng căng thẳng hiện nay ở vùng biển tranh chấp.

Ấn phẩm của Nhân dân Nhật báo viết:

“Hoa Kỳ tuyên bố rằng nước này không đứng về phía nào trong vấn đề tranh chấp lãnh hải, nhưng lại đi diễn tập quân sự chung với Nhật Bản và Australia, cũng như hỗ trợ Philippines và Việt Nam dưới vỏ bọc của việc
bảo vệ tự do hàng hải. Can thiệp vào biển Đông là sự chuyển hướng lớn trong sách lược của Nhật Bản đối với TC”.


Bài bình luận xuất hiện đúng ngày các hãng tin đưa rằng hai chiến hạm của Nhật Bản sẽ cập bến vùng vịnh Cam Ranh chiến lược của Việt Nam sau khi tháp tùng một tàu ngầm tới Philippines. Ngay lập tức, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TC Hồng Lỗi đã lên tiếng nói rằng:

“Quan hệ hợp tác giữa các nước liên quan nên có ích cho hòa bình và ổn định của khu vực, không nhắm mục tiêu vào một bên thứ ba và không đe dọa tới chủ quyền và quyền lợi an ninh của các nước khác”.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 23rd 2016, 2:04am)


264

Monday, March 28th 2016, 6:27am

Bắc Kinh: Ngư dân Philippines ném 'bom lửa' vào tàu chấp pháp TC
Theo Reuters, Businessinsider.com
VOA Tiếng Việt
23.03.2016

Bộ Ngoại giao TC hôm 22/3 nói các ngư dân Philippines đã ném “bom lửa” vào các tàu chấp pháp của TC ở Biển Đông. Trước đó, báo chí Philippines nói người trên các tàu tuần duyên TC đã ném chai lọ trúng vào người của các ngư dân Philippines.

Philippines và TC lâu nay vẫn cáo buộc lẫn nhau về các hành vi ở vùng Biển Đông có nhiều tranh chấp. TC đòi chủ quyền hầu hết vùng biển. Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia và Đài Loan cũng đòi chủ quyền.

Báo chí Philippines tuần này cho hay một nhóm ngư dân nước này đã bị tuần duyên TC dùng chai lọ ném trúng và đuổi ra khỏi bãi cạn Scarborough. Các ngư dân sau đó đã đáp trả bằng cách ném đá, các bài báo cho biết.

Khi được hỏi về sự việc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TC Hoa Xuân Oánh nói:

“ Bãi Scarborough - mà Bắc Kinh gọi là Hoàng Nham - là lãnh thổ của TC còn các ngư dân Philippines đã đánh bắt cá xung quanh đó trái phép. Tàu nhà nước của TC đã đề nghị các tàu thuyền đánh cá phi pháp của
Philippines rời đi, tuân theo luật pháp, nhưng họ từ chối làm theo. Một số người trên tàu thậm chí còn huơ mã tấu và ném bom lửa, cố ý khiêu khích, tấn công những người thi hành công vụ và tàu làm nhiệm vụ của TC, thách thức việc thực thi pháp luật của TC và đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn và trật tự của vùng biển quanh đảo Hoàng Nham.”


“ TC đã tăng cường công tác quản lý của nước này quanh bãi cạn”, bà nói thêm nhưng không đưa ra chi tiết.

Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Philippines nói:

"Chúng tôi không thể bình luận tại thời điểm này trong khi chúng tôi vẫn đang chờ báo cáo chính thức từ các cơ quan liên quan của chúng tôi về vụ việc".

265

Monday, March 28th 2016, 6:37am

Malaysia điều tàu hải quân đối phó 100 tàu TC xâm nhập lãnh hải
Theo Time, ABC, New York Times.
VOA Tiếng Việt
25.03.2016

Hôm 24/3, ông Shahidan Kassim, bộ trưởng đặc trách an ninh quốc gia Malaysia, nói nước ông đã cử tàu của hải quân và Cục Thực thi Luật pháp Hàng hải đến giám sát hải phận gần Bãi cạn Luconia ở Biển Đông sau khi phát hiện một đội tàu lớn gồm khoảng 100 tàu TC gần khu vực.

Bộ trưởng Shahidan nói Malaysia có thể sẽ có hành động pháp lý nếu các tàu đó đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Biển Đông là vùng có tranh chấp nóng vì các nước Việt Nam, TC, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền về các đảo và bãi cạn ở vùng biển. Tranh chấp đã leo thang gần đây cùng lúc TC đẩy nhanh hoạt động bồi đắp một số đảo nhân tạo và lắp đặt hỏa tiễn trên một đảo.

Vụ các tàu TC bị cáo buộc xâm nhập vùng biển của Malaysia là hành động mới nhất của TC làm gia tăng quan ngại ở Biển Đông.

Khi được hỏi về vụ việc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TC Hồng Lỗi nói tại một cuộc họp báo thường kỳ ông “không rõ các chi tiết” về những gì phía chính phủ Malaysia đã nói. Ông bổ sung thêm rằng:

“Vào thời điểm này hàng năm các tàu đánh cá của TC có mặt ở các vùng biển phù hợp tiến hành đánh cá bình thường”

Ông này không cung cấp thêm chi tiết.

Trong tuần này, Indonesia đã phản đối TC về một vụ việc liên quan đến một tàu tuần tra Indonesia, một tàu tuần duyên Trung Quốc và một tàu đánh cá cũng của Trung Quốc trong vùng biển mà Indonesia nói là hải phận nước này.

TC nói các tàu của họ đã hoạt động ở “ngư trường truyền thống của Trung Quốc” và tàu tuần duyên của họ đã không đi vào hải phận của Indonesia.

266

Monday, March 28th 2016, 6:52am

Cờ Trung Quốc ‘bị bôi đen’ ở Cộng hòa Séc
Theo Radio Prague, The Express Tribute
VOA Tiếng Việt
27.03.2016

Hàng chục lá cờ của TC, treo ở Cộng hòa Séc trước chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình, đã bị bôi đen. Một phát ngôn viên cảnh sát cho biết, nhiều lá cờ của TC được treo dọc theo con đường dẫn từ phi trường Praha tới trung tâm thủ đô đã bị “bôi đen vào ban đêm”.

Tin cho hay, những kẻ phá hoại chưa rõ danh tính đã dùng sơn đen để bôi lên các lá quốc kỳ TC do Phòng Hợp tác Hỗn hợp Trung – Séc treo lên.

Lãnh đạo của quốc gia đông dân nhất thế giới dự kiến sẽ tới Cộng hòa Séc vào thứ Hai tới, bắt đầu chuyến công du kéo dài hai ngày, trước khi tới Mỹ để thảo luận về các vấn đề hạt nhân.

Người biểu tình của quốc gia chủ nhà dự kiến sẽ biểu tình phản đối ông Tập về các chính sách của TC đối với Tây Tạng.

Họ dự kiến sẽ treo một tấm ảnh chân dân khổ lớn của lãnh tụ tinh thần lưu vong Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, gần sân bay, cùng với cựu tổng thống Séc Vaclav Havel, một người từng bất đồng chính kiến và từng hoạt động về nhân quyền.

Việc treo các lá cờ cùng các tấm bảng lớn chào đón ông Tập đã khiến một số người, nhất là các ủng hộ viên của ông Havel, phẫn nộ. Họ cho rằng việc làm đó là một “sự nhạo bang quyền tự do, nhân quyền và dân chủ”.

Các tổ chức nhân quyền cáo buộc TC đàn áp người Tây Tạng, trong khi Bắc Kinh bác bỏđiều này.

267

Monday, March 28th 2016, 7:32am

Bàn cờ chiến lược tại Biển Đông
BBC Tiếng Việt
25 tháng 3 2016

Trong vùng Biển Đông tranh chấp, TC trong thời gian qua đã bồi đắp đảo đá nhân tạo và triển khai tàu chiến, tên lửa đất đối không và radar tần số cao.
Liệu TC có ngưng quân sự hóa để thương lượng với các nước láng giềng ?
Hay là Bắc Kinh sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền trên các hòn đảo đã bồi đắp với tham vọng kiểm soát Biển Đông ?
Trong bối cảnh đó hành động bảo vệ tự do hàng hải của hải quân Mỹ có được các nước trong khu vực chào đón không ?
Đâu là chiến lược tốt nhất cho các nước ASEAN trước sự đối đầu của Mỹ và TC ?

TC thắng chiến thuật, thua chiến lược ?

Theo ông Richard J. Heydarian, tác giả cuốn sách Mặt trận mới ở Châu Á: Mỹ, TC và xung đột tại Tây Thái Bình Dương, đang dạy Chính trị học tại Đại học Philippines De La Salle, cho rằng việc TC quân sự hóa các hòn đảo tại Biển Đông bao gồm cả hai mục đích dân sự và quân sự:

“TC liên tục khẳng định mục đích dân sự của mình trong việc bồi đắp đảo nhân tạo ở Biển Đông. Nhưng các quốc gia khác đều lo ngại rằng TC đang dần thiết lập chủ quyền trên thực tế một cách không chính thức trên những hòn đảo này,”

Ông nói với BBC rằng những đụng độ đẫm máu tại Biển Đông như trận Gạc Ma năm 1988 hiếm có cơ hội lặp lại. Mục tiêu hiện tại của TC là gián đoạn khai thác năng lượng, hoạt động tuần tra trên biển, hay hoạt động đánh bắt của ngư dân các nước lân cận như Philippines, Việt Nam và Malaysia. Ông cảnh báo:

“Không thể phủ nhận lực lượng của TC so với các nước Đông Nam Á hiện rất là chênh lệch”.

Theo ông, các nước trong khu vực hoan nghênh sự hiện diện và chương trình bảo vệ tự do hàng hải (FONON) của hải quân Hoa Kỳ để đối trọng với TC. Mặc dù TC đang có lợi thế về mặt chiến thuật, nhưng lại đang thua về mặt chiến lược. Nguyên nhân là do rất nhiều nước trong khu vực, e ngại sự hung hăng của TC tại Biển Đông nên xoay trục gần hơn với Hoa Kỳ.

Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cam kết thúc đẩy việc ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Sáng kiến Kết nối Hoa Kỳ-ASEAN, còn Nhật Bản cam kết cung cấp thêm 100 tỷ đô la cho những dự án phát triển tại Đông Nam Á. Những hành động của các nước này được coi là chính sách “chế ngự”, sự kết hợp giữa “ngăn chặn” và “giao thiệp”.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 28th 2016, 7:38am)


268

Monday, March 28th 2016, 7:54am

Trong khi đó, ông Anders Corr, giám đốc Công ty tư vấn chính phủ Corr Analytics, nhận xét chiến lược của TC tại Biển Đông là sự tiếp nối chủ nghĩa bành trướng của nước này:

“Trong lịch sử, TC đã làm điều tương tự với Tân Cương và Tây Tạng; và nay tiếp tục chính sách này tại vùng Biển Hoa Đông, Biển Đông, và khu vực Himalaya”.

Theo ông, công bằng mà nói hiện tại Biển Đông đang bị quân sự hóa bởi tất cả các bên, không chỉ có TC, bởi vì chủ quyền của những hòn đảo này vẫn đang bị tranh chấp. Ông cũng cho rằng hoạt động hải quân Hoa Kỳ ở Biển Đông sẽ có lợi cho các nước ASEAN đang tranh chấp với TC. Ông nói:

“Hoạt động này cho thấy Hoa Kỳ không chấp nhận hay ủng hộ lập trường của TC về chủ quyền đường chín đoạn. Tranh chấp này đã kéo dài nhiều thập niên và khó có thể có bước tiến đột phá trong thời gian tới. Nguyên nhân là do vẫn còn bế tắc trong cách giải quyết hợp lý cho tất cả các bên”.

Nữ tiến sĩ Elena Atanassova-Cornelis, giảng viên chính trị Đông Á tại Bỉ, thì lại lo ngại về diễn biến trong ván bài quân sự ở biển Đông. Bà dẫn chứng:

“TC đã chỉnh sửa Sách trắng nước này vào năm 2015, trong đó cho phép tăng cường đầu tư quân sự mở rộng khả năng phòng thủ kiểm soát cả vùng thềm lục địa (biển gần) và ngoài khơi (biển xa). Mục tiêu được cho là nhằm thiết lập các vùng cấm bay, cũng như củng cố chính sách chống xâm nhập, chống tiếp cận”.
Về chính sách hiệu quả nhất cho các nước Đông Nam Á vào thời điểm này, bà Elena Atanassova-Cornelis gói gọn trong thuật ngữ “rào giậu kép”:

“Phần lớn các nước ASEAN muốn thi hành chính sách cân bằng và rào giậu với cả hai siêu cường TC và Mỹ. Đây là điều dễ hiểu: Một mặt, ASEAN muốn hạn chế sự phụ thuộc và tính dễ bị tổn thương trong trường hợp Hoa Kỳ bỏ rơi hoặc quan hệ Hoa Kỳ và TC ấm lên. Mặt khác, các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á cũng cần ngăn ngừa ưu thế vượt trội và các động thái không mong muốn của TC.”

269

Monday, March 28th 2016, 8:08am

Chiến lược lâu dài

Theo ông Anders Corr, chiến lược tốt nhất đối với các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á là phát triển kinh tế và dân chủ hóa từng bước. Những hình mẫu tốt là Nhật Bản và Hàn Quốc, vì những quốc gia này là dân chủ và có nền kinh tế khá phát triển có thể hỗ trợ được cho lực lượng quân sự quốc gia.

Về việc liệu Trung Quốc có đưa ra các biện pháp cứng rắn hơn , ông Corr nói:

“ TC sẽ không muốn ảnh hưởng xấu tới quan hệ kinh tế với các quốc gia ASEAN do TC cũng phụ thuộc nhiều và các mặt hàng xuất và nhập khẩu với các quốc gia này. Nền kinh tế của TC có tăng trưởng nhưng với tốc độ chậm hơn so với nhiều nước Đông Nam Á. Trong khi đó, Mỹ cũng không muốn leo thang căng thẳng với TC vì hệ quả tốn kém và khả năng đứt quãng thương mại quốc tế.”

Ông Anders Corr nhấn mạnh đến khả năng TC thỏa hiệp được với tầng lớp tinh hoa và doanh nghiệp tại Hoa Kỳ để quay sang ủng hộ TC. Ông nói:

“Những nhà tài phiệt và tập đoàn kinh doanh lớn của Hoa Kỳ không muốn hy sinh lợi ích kinh tế với TC, và họ có thể gây ảnh hưởng với chính phủ Mỹ thông qua bầu cử dân chủ. Năm 2015, thương mại hai chiều giữa Mỹ và TC đạt mức kỷ lục là 590 tỷ đô la. TC cũng có quan hệ thương mại rất tốt với các nước Châu Âu như Anh và Pháp. Như vậy, đến một thời điểm nào đó, Hoa Kỳ có thể không còn khả năng bảo vệ các quốc gia đồng minh thân cận nhất của mình tại châu Á. Đến lúc đó, TC có thể sẽ đưa ra những động thái mạnh mẽ hơn về quân sự tại Biển Đông. Sắp tới Hoa Kỳ chuẩn bị bước vào chuyển giao quyền lực thông qua kỳ bầu cử Tổng thống. Chính quyền Obama có chính sách tương đối mềm mỏng với TC và Nga, vì thế hai nước này gần đây có được lợi thế trong các tranh chấp lãnh thổ. Tổng thống kế nhiệm có thể sẽ có đường lối cứng rắn hơn đối với TC.”

Các biện pháp cụ thể cho các nước Đông Nam Á, theo tiến sĩ Elena Atanassova-Cornelis, nhận định có thể chia thành ba hướng:

Một là tăng cường khả năng tự vệ, đối thoại với TC và sự cam kết của Hoa Kỳ tại khu vực.
Hai là đa dạng hóa chiến lược thể hiện ở chỗ thiết lập và củng cố các hiệp ước đối tác nâng cao khả năng thích nghi với biến đổi chiến lược.
Ba là củng cố các tổ chức đa phương và vai trò trung tâm của ASEAN.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 11th 2016, 6:16pm)


270

Monday, April 11th 2016, 6:18pm

Nghị trình Obama tại Việt Nam?
Châu Bảo Nguyễn thực hiện
BBC Tiếng Việt
11 tháng 4 2016

Ông Murray Hiebert, chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược (CSIS) ở Hoa Kỳ, dự đoán về chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama đến Việt Nam sắp vào cuối tháng 5 năm 2016:

“Trong chuyến thăm này, Việt Nam muốn Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường và dỡ bỏ toàn bộ lệnh cấm buôn bán vũ khí sát thương.Hoa Kỳ thì muốn Việt Nam cải thiện hồ sơ nhân quyền, nhà nước không can thiệp vào thị trường, cũng như có một đồng tiền có thể quy đổi. Hợp tác có điều kiện là điều thường gặp trong quan hệ quốc tế, cũng như quan hệ Việt-Mỹ. Trong năm cuối nhiệm kỳ Tổng thống, ông Barack Obama đang có các chuyến đi quốc tế nhằm đánh dấu di sản đối ngoại của mình. Chuyến thăm Cuba hồi tháng 3 năm 2016 có ý nghĩa như vậy.”

Ông Murray Hiebert cho rằng chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama sẽ thúc đẩy thể chế hóa quan hệ song phương Việt - Mỹ. Đây là nền tảng một mối quan hệ lâu dài, tiếp nối thành tựu đã đạt được trong những chuyến thăm trước đó của Chủ tịch nước Việt Nam ông Trương Tấn Sang (năm 2013) và đương kim Tổng bí thư ông Nguyễn Phú Trọng (năm 2015).

Lần cuối cùng một tổng thống Mỹ đương nhiệm đến Việt Nam cách đây 10 năm (2006) dưới thời Tổng thống Mỹ George W. Bush.

Hợp tác kinh tế

Về hợp tác kinh tế, chuyến đi này của ông Obama được kỳ vọng thúc đẩy việc thực thi Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhằm tăng cường thương mại và cơ hội đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. ông Hiebert bình luận:

“Việt Nam sẽ là nước có lợi nhất trong 12 nước tham gia Hiệp định TPP. Đặc biệt hiệp định này sẽ khiến sản phẩm may mặc và giày thể thao của Việt Nam hưởng thuế quan thấp hơn tại thị trường Mỹ. Điều này giúp cho khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với TC, Campuchia và Bangladesh,”

Ông đưa ra dẫn chứng từ một nghiên cứu của World Bank, cho thấy nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng khoảng 8% trong những năm tới nhờ vào vị thế là thành viên của Hiệp định TPP.

Mặt khác, trong chuyến thăm này, ông Obama và những người đồng nhiệm có thể sẽ bàn thảo về việc triển khai đường bay thẳng giữa Việt Nam và Mỹ. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt NamTed Osius hiện đang đẩy mạnh việc này nhằm giúp cho việc đi lại của thương nhân, khách du lịch hay du học sinh giữa hai nước được thuận lợi hơn.

Một vấn đề quan trọng khác có thể bàn bạc là việc Việt Nam muốn Mỹ công nhận là nền kinh tế thị trường. Như một điều kiện để gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), Việt Nam trước đó đã chấp nhận danh nghĩa là nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018. Dưới danh nghĩa này, các công ty Việt Nam dễ bị doanh nghiệp Mỹ cáo buộc bán phá giá sản phẩm vào thị trường này. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng muốn Mỹ chấm dứt một số biện pháp bảo hộ đối với sản phẩm cá da trơn từ Việt Nam.

Để Việt Nam được công nhận kinh tế thị trường, Quốc hội Mỹ đã đưa ra khá nhiều điều kiện mà Việt Nam phải đáp ứng. Trong đó bao gồm nhà nước không can thiệp vào thị trường, cũng như Việt Nam phải có một đồng tiền có thể được tự do chuyển đổi cho loại tiền tệ khác hoặc
vàng mà không cần sự cho phép của các ngân hàng trung ương.


Lệnh cấm vận vũ khí

Ông Murray Hiebert nói lãnh đạo hai nước có thể bàn về vấn đề Biển Đông, cũng như hợp tác đối phó biến đổi khí hậu và môi trường. Sẽ không bất ngờ nếu Tổng thống Obama tuyên bố tăng ngân sách cho các dự án hỗ trợ nạn nhân chất độc màu da cam.

Trong khi đó, Việt Nam sẽ yêu cầu phía Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm mua bán vũ khí sát thương. Lệnh cấm này đã được dỡ bỏ một phần vào năm 2014 nhằm giúp Việt Nam nâng cao sức mạnh an ninh hàng hải.

Để dỡ bỏ hoàn toàn lệnh này, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu Việt Nam phải cải thiện hồ sơ nhân quyền, đặc biệt là việc giam giữ các blogger và người bất đồng chính kiến.

Trong chuyến thăm này, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng có thể bàn bạc hợp tác về lực lượng gìn giữ hòa bình. Bắt đầu từ việc phía Mỹ thể cử chuyên gia đến làm việc tại Trung tâm Gìn giữ Hòa bình Việt Nam. Tuy nhiên điều này có thể chưa kịp hoàn thành trong chuyến thăm của ông Obama.

Trung tâm Gìn giữ Hòa bình Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng là cơ quan chuyên môn tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc.

Trước đó, truyền thông trong nước đưa tin các sĩ quan Việt Nam đầu tiên nhận sứ mệnh gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp Quốc tại Cộng hòa Trung Phi từ tháng 4/2014, và tại Nam Sudan từ tháng 6/2014.

Gặp giới trẻ?

Ông Murray Hiebert dự đoán là ngoài Hà Nội, Tổng thống Obama có thể ghé thăm thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của Việt Nam. Nếu thời gian cho phép, ông Obama có thể gặp mặt một số lãnh đạo kinh tế, đặc biệt là những người trẻ để tăng cường hình ảnh và sự kết nối của nước Mỹ với thế hệ lãnh đạo tương lai của Việt Nam.

Nếu ông Obama thăm thành phố Hồ Chí Minh, có thể ông Obama sẽ tham dự khánh thành Đại học Fulbright Việt Nam tại thành phố này. Đây là đại học phi lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội Mỹ đầu tư một phần kinh phí. Dự án Đại học Fulbright Việt Nam lần đầu được đề cập trong Tuyên bố chung của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama ngày 25/7/2013.

Theo ông Hiebert, TC sẽ không trực tiếp bình luận về chuyến đi thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barrack Obama. Tuy nhiên nếu có hiệp định liên quan đến an ninh chính trị được ký kết giữa Mỹ và Việt Nam, rất có thể TC sẽ tăng cường hoạt động của mình tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông.

-----------------------------------------------------

Ông Murray Hiebert hiện là phó giám đốc chương trình nghiên cứu Đông Nam Á của CSIS tại thủ đô Washington Hoa Kỳ. Trước khi gia nhập CSIS, ông là giám đốc khu vực Đông Nam Á, Phòng Thương Mại Hoa Kỳ. Từng làm việc cho Tạp chí Wall Street Journal Asia và Far Eastern Economic Review, ông Hiebert là tác giả của hai quyển sách về Việt Nam có tên Chasing the Tigers (Nhà xuất bản Kodansha năm 1996) và Vietnam Notebook (Review Publishing xuất bản năm 1993).

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 11th 2016, 6:27pm)


271

Saturday, April 16th 2016, 2:49pm

TC với kế hoạch 4 sân bay 3 bến tàu khống chế toàn bộ Việt Nam
VIỆTPRESS USA


Thời gian gần đây TC xây dựng căn cứ quân sự tại những đảo đang tranh chấp là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Liệu đây có phải là kế hoạch của TC nhằm thiết lập 4 sân bay và 3 bến tàu quân sự nhằm khống chế toàn bộ không và hải phận Việt Nam ?
1. Ba căn cứ hải quân kiểm soát toàn bộ biển Đông

Ba căn cứ này nằm trên đảo Hải Nam, đảo Phú Lâm ( Hoàng Sa ), đảo Gạc Ma ( Trường Sa ) của Việt Nam.

Đảo Hải Nam

Đảo Hải Nam của TC nằm rất gần đất liền của Việt Nam, chiếm 2,2 triệu km2 hải phận kinh tế, tức gấp 6,6 lần diện tích đất liền của Việt Nam (331.698 km2), gấp 4 lần hải phận kinh tế của Việt Nam.
Gần đây TC đã hoàn tất căn cứ hải quân Longpo trên Vịnh Á Long (gần mũi phía Đông Nam của đảo Hải Nam). Căn cứ này có tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo tấn công vào đất liền và tàu chiến. Cơ sở Ngọc Lâm của căn cứ Longpo còn được xây dựng để chứa các loại tàu ngầm khác. Đây là một căn cứ hải quân đủ sức chứa cả một hạm đội với hàng không mẫu hạm.

Đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa)

TC đang hoàn thiện các công trình cảng biển nơi đây để phục vụ cho các tàu hải quân cỡ lớn, kể cả tàu khu trục (loại tàu mang đầy đủ các tên lửa chống hạm, chống ngầm, đối không, đối đất).

Đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa)

Ba căn cứ hải quân này sẽ khống chế toàn bộ vùng biển đông của Việt Nam, căn cứ ở đảo Hải Nam khống chế vùng biển phía bắc Việt Nam, căn cứ đảo Phú Lâm khống chế vùng biển miền trung, căn cứ trên quần đảo Trường Sa khống chế vùng biển phía nam

2. Bốn sân bay khống chế vùng trời Việt Nam

Sân bay đảo Hải Nam

Sân bay tại đảo Hải Nam đã được hoàn thành và đưa vào hoạt động từ lâu, nơi đây tập trung một lượng lớn máy bay chiến đấu của sư đoàn 9 không quân TC.
TC được cho là đã triển khai 24 máy bay chiến đấu J-11B ở đảo Hải Nam – lãnh thổ cực nam của TC– hướng TC muốn bành trướng lãnh thổ ở biển Đông.

Sân bay đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa)

Sau khi hoàn tất việc xây dựng, TC đã ngang nhiên công bố hình ảnh sân bay này trên đảo Phú Lâm.
Ban đầu TC công bố đường băng dài 2.000m, nhưng nay qua đầu tư đã nâng chiều dài lên đến 2.800m. Sân bay này cho phép TC kiểm soát hầu hết không phận trên biển Đông mà TC xác nhận là chủ quyền. Hầu hết các loại máy bay TC có thể hoạt động trên đường băng này.
Khoảng cách từ sân bay Phú Lâm đến Đà Nẵng chỉ 390 km, thời gian bay chưa tới 30 phút.

Sân bay Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam)


Sân bay trên đảo Gạc Ma có thể chứa các loại máy bay J11, J16, bán kính hoạt động của loại máy bay này là 1.600km.
Từ sân bay Gạc Ma đến TPHCM chỉ 800km, thời gian bay khoảng 50 phút. Sau khi hoàn tất sân bay Gạc Ma, TC tiếp tục xây dựng sân bay ở đảo Chữ Thập.

Sân bay Phú Quốc thì sao ?

Hiện đã có kế hoạch chuyển nhượng quyền khai thác và quản lý sân bay Phú Quốc nhằm có nguồn để đầu tư phát triển sân bay Long Thành. Kế hoạch này đã được Bộ GTVT trình lên Bộ Chính trị.

Như vậy nếu dự án này được thông qua, sẽ có nhiều nhà đầu tư trong ngoài nước đăng ký khai thác sân bay Phú Quốc. Thử nhìn vào con số các nhà thầu TC trúng thầu hầu hết các dự án tại Việt Nam, thì khả năng nhà đầu tư TC được khai thác sân bay này là rất lớn.
Các dự án nằm ở vị trí quân sự trọng yếu đều đã về tay nhà thầu TC, thời gian thuê đất 50 – 70 năm, như dự án khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh), khai thác bô xít ở Tây Nguyên.
Nếu dự án xây dựng sân bay Long Thành được thông qua và các nhà đầu tư TC nắm được quyền khai thác sân bay Phú Quốc, thì TC sẽ có bốn sân bay hình thành một tứ giác khống chế vùng trời và vùng biển của Việt Nam. Và nếu có một cuộc xung đột trên đất liền, TC sẽ dễ dàng được hỗ trợ từ không và hải quân.

Cả thế giới đều thấy rõ được dã tâm này của TC còn Việt Nam thì không.
( " Ai cũng hiểu nhưng có một lọai người không hiểu "
:cursing: :cursing: :cursing: :thumbdown: :evil: :!: :!: :!: )

MỜI ĐỌC TIẾP TIN NẦY TRÊN VIỆTPRESS USA TẠI LINK:
http://www.vietpressusa.com/2015/04/trun…an-bi-nuot.html

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 19th 2016, 5:09am)


272

Tuesday, April 19th 2016, 5:11am

Đồng chí B nói về âm mưu chống VN của bè lũ phản động TQ

Nguồn: Thư viện Quân đội, Hà Nội. Tài liệu do Christopher E. Goscha phát hiện và dịch sang tiếng Anh, Nhóm nghiên cứu Việt Nam đương đại, Trường Khoa học Chính trị, Paris.
Bản dịch tiếng Việt © 2010 Bùi Xuân Bách & talawas
Posted on 17/04/2016 by Hiep Le

Lời giới thiệu:

Tài liệu dưới đây được dịch từ cuốn Đằng sau tấm màn tre – Trung Quốc, Việt Nam và Thế giới ngoài châu Á (Behind the Bamboo Curtain – China, Vietnam, and the World beyond Asia), do Priscilla Roberts biên tập, Trung tâm Woodrow Wilson và Đại học Stanford xuất bản, 2006.

Phần III chương 14 của cuốn sách có tiêu đề “Lê Duẩn và sự đoạn tuyệt với Trung Quốc”.

Phần này gồm bài giới thiệu khá dài (14 trang, từ trang 453 đến 467) của Tiến sĩ Stein Tønnesson và bản dịch tài liệu này ra tiếng Anh của Christopher E. Goscha ( 20 trang, 467-486 ). Tiến sĩ Stein Tønnesson là học giả nghiên cứu về thời kỳ Chiến tranh lạnh, trong đó có mối quan hệ giữa Việt Nam với các cường quốc Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc trong giai đoạn này. Ông hiện đang là Giám đốc Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế, Oslo, Na uy và cũng là tác giả cuốnViệt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu ra sao, mà anh Vũ Tường đã giới thiệu trong bài điểm sách đăng trên talawas blog.

Christopher E. Goscha hiện đang giảng dạy môn Lịch sử tại American University và Trường Quốc tế ở Paris. Ông là đồng Giám đốc Nhóm nghiên cứu Việt Nam đương đại, Trường Khoa học Chính trị, Paris. Gần đây ông có tác phẩm đã in “Mậu dịch vùng biên giới Việt Nam với Hoa Nam thời đầu chiến tranh” (Asian Survey, 2000) và đã trình luận án về đề tài Bối cảnh châu Á của cuộc chiến Pháp-Việt tại Trường Cao đẳng thực hành, thuộc Viện Đại học Sorbonne.

Bài giới thiệu của Stein Tønnesson có khá nhiều nhận định sắc sảo và chính xác. Rất tiếc là không đủ thời gian để dịch ra giới thiệu với các bạn, nhưng các bạn có thể tham khảo bản tiếng Anh ( trang 273-288 ).

Lẽ ra tài liệu từ tiếng Việt, đã được dịch sang tiếng Anh, thế thì còn dịch lại ra tiếng Việt làm gì. Vấn đề là ở chỗ, như Stein Tønnesson đã nhận xét:

“Cho đến giờ, rất ít tài liệu thuộc loại này được phía Việt Nam cho phép các học giả tiếp cận.”

Vậy thì trong khi chờ đợi tài liệu được bạch hóa, ta dịch ra để cùng đọc, tuy không thể chính xác bằng bản gốc, nhưng cũng có thể cung cấp cho ta một số thông tin nhất định. Cũng có bạn đã viết rằng:

Vì bạn dịch tác phẩm từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, bạn không bao giờ dịch ngược một tác phẩm trở về ngôn ngữ nguồn. Không ai làm việc vớ vẩn ấy.

Nhìn chung thì đúng, tưởng như tiên đề, nhưng thực ra cũng có những lệ ngoại như trong trường hợp này. Việc “tam sao” này ắt là “thất bổn”, chẳng hạn như bản tiếng Anh dùng chữ “we” thì trong bản gốc có thể là “chúng ta”, “chúng tôi” mà hai từ này nội hàm cũng đã khác nhau (không hay có bao gồm người đối thoại hoặc người nghe), lại cũng có thể là phe ta, quân ta, dân ta v.v… nên chỉ có thể dựa vào ngôn cảnh mà phỏng đoán. Stein Tønnesson cũng đã chỉ ra:

“Chúng ta được biết, Lê Duẩn rất ít khi tự mình chấp bút và tài liệu mang phong cách khẩu ngữ (khiến cho việc dịch cực kỳ khó khăn). Rất có thể đây là bản thảo Lê Duẩn đọc cho thư ký ghi, hoặc những đoạn chi tiết do một cán bộ cấp cao dự buổi nói chuyện này ghi lại.”

Christopher E. Goscha đã phát hiện tài liệu này trong Thư viện Quân đội ở Hà Nội, chép tay lại và dịch ra tiếng Anh. Cũng theo Stein Tønnesson:

“Văn bản không đề ngày tháng, và tên tác giả chỉ cho biết là “đồng chí B”. Dù sao, nội dung tài liệu cho ta thấy, nó được viết năm 1979, có lẽ vào quãng thời gian giữa cuộc tấn công của Trung Quốc vào Bắc Việt Nam tháng 2-1979 và thời điểm phát hành cuốn Sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam về mối quan hệ Việt – Trung ngày mồng 4 tháng 10 cùng năm. Dường như văn bản được soạn chỉ ít lâu sau quyết định ngày 15 tháng 3-1979 của Đặng Tiểu Bình ngừng cuộc tấn công trừng phạt Việt Nam và rút quân về nước, nhưng trước khi Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc tháng 7-1979.”

Nếu tên tác giả chỉ ghi là “đồng chí B” thì sao lại dám khẳng định là Lê Duẩn?

Bài nói chuyện của “đồng chí B” có cho ta biết rằng, trong những cuộc họp của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, ông ta được gọi là anh Ba, một bí danh mà mọi người đều biết là của Lê Duẩn. Tài liệu cũng nói nhiều đến những cuộc họp cấp cao với phía Trung Quốc trong đó có cả Mao, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, khi đó nhân vật B này thường xưng tôi và đại diện cho phía Việt Nam một cách đầy quyền uy như thế, hẳn chỉ có rất ít người.

Một nhận xét khác của Stein Tønnesson là “những điều Lê Duẩn nói ra (trong năm 1979) rõ ràng mang sắc thái tức giận”, nhưng về thái độ của Lê Duẩn thì “một nét ấn tượng của tài liệu này là sự thẳng thắn, bộc trực và cách tác giả đưa vấn đề ra như là một cá nhân.” Ta đều biết vai trò và vị trí của ông trong Đảng cũng như trong các sự kiện từ khi được cử làm Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam rồi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.

Stein Tønnesson cũng cho rằng khi Lê Duẩn xưng tôi với Hồ Chí Minh thì đó là thái độ có phần xấc xược, nhưng người dịch không nghĩ như vậy. Nếu bạn đã đi nhiều vùng trên đất nước ta, hoặc được tiếp xúc với nhiều người từ những địa phương khác nhau tới, bạn sẽ thấy đó chỉ là một tập quán ngữ dụng của một số nơi chứ không phải là hỗn hào hay xấc xược. Hoặc cũng có đoạn, khi nói chuyện với Mao, Lê Duẩn cũng dám “ăn miếng trả miếng”, nhưng người dịch hoài nghi chuyện này, chúng ta cần phối kiểm với những tài liệu khác nữa.

So với cuốn Sách trắng của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, công bố ngày mồng 4 tháng 10-1979, tài liệu này cũng không có nhiều điểm khác biệt, trừ một số tình tiết về cách suy nghĩ và ứng phó của phía Việt Nam. Dẫu sao, theo thiển ý của tôi, thì đây cũng là một tài liệu quý. Nó cho ta thấy việc ra đời của cuốn Sách trắng đã được chỉ đạo từ cấp cao nhất.
Vì thời gian có hạn, lại dịch ngược lại từ tiếng Anh ra Việt trong khi ngôn ngữ nguồn đã là tiếng Việt, chắc chắn bản dịch còn nhiều thiếu sót. Người dịch cũng chỉ mong muốn một chữ “tín”, mà chưa dám nghĩ đến “đạt, nhã”. Mong các bạn thông cảm và đóng góp ý kiến cho. Chúng tôi xin chân thành cảm tạ.

Xin lưu ý:

– Dấu ngoặc vuông [ ] là của Christopher E. Goscha.

– Chúng tôi vẫn giữ nguyên những con số của ghi chú cho phù hợp với trong sách

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 19th 2016, 5:58pm)


273

Tuesday, April 19th 2016, 6:01pm

Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc

Nói chung, sau khi ta đã thắng Mỹ thì không còn tên đế quốc nào dám đánh ta nữa. Chỉ có những kẻ nghĩ rằng, họ có thể đánh và dám đánh chúng ta, là bọn phản động Trung Quốc. Nhưng nhân dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn như vậy. Tôi không rõ bọn phản động Trung Quốc này còn tồn tại bao lâu nữa. Dẫu sao, chừng nào bọn chúng còn đó thì chúng sẽ tấn công ta như chúng vừa làm gần đây [vào đầu năm 1979]. Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc thì các tỉnh [Bắc Trung bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành căn cứ cho cả nước. Đó là những căn cứ vững chắc nhất, tốt nhất và mạnh nhất không gì so sánh được. Vì nếu như vùng đồng bằng [Bắc bộ] vẫn liên tục căng thẳng như vậy thì tình hình sẽ hết sức phức tạp. Hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Nếu không có nhân dân Việt Nam thì sẽ chẳng có ai dám đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam đang đánh Mỹ thì cả thế giới còn lại sợ Mỹ…(25) Mặc dầu Trung Quốc đã giúp [Bắc] Triều Tiên, nhưng đó chỉ vì mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ mà thôi. Sau khi chiến tranh chấm dứt [ở Triều Tiên] và áp lực chuyển sang Việt Nam, ông ta [có lẽ ám chỉ Chu Ân Lai như những đoạn tiếp theo sẽ gợi ý] nói rằng, nếu như Việt Nam tiếp tục chiến đấu thì họ sẽ phải tự lo liệu lấy. Ông ta sẽ không giúp nữa và đã gây sức ép buộc chúng ta phải ngừng đấu tranh.

Khi ta ký Hiệp định Giơ ne vơ, chính Chu Ân Lai là người đã chia cắt nước ta ra làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Bắc và Nam như vậy, cũng chính ông ấy lại ép chúng ta không được đụng chạm gì đến miền Nam. Họ cấm ta vùng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa được Mỹ ủng hộ]. [Nhưng] họ đã không làm chúng ta sờn lòng. Khi tôi vẫn còn đang ở trong Nam và đã chuẩn bị phát động chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Giơ ne vơ, Mao Trạch Đông đã nói với Đảng ta rằng, chúng ta cần ép các đồng chí Lào chuyển giao ngay hai tỉnh đã giải phóng cho chính phủ Viên Chăn (26). Nếu không Mỹ sẽ tiêu diệt họ, một tình huống hết sức nguy hiểm [theo quan điểm Trung Quốc]. Việt Nam lại phải làm việc ngay lập tức với phía Mỹ [về vấn đề này]. Mao đã bắt ta phải làm như vậy và chúng ta cũng đành phải làm như vậy (27).

Rồi sau khi hai tỉnh giải phóng của Lào đã được bàn giao cho Viên Chăn, bọn phản động Lào ngay lập tức bắt Hoàng thân Su-pha-nu-vông. Phía các đồng chí Lào có hai tiểu đoàn lúc ấy đang bị bao vây. Hơn nữa họ chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó một tiểu đoàn đã vượt thoát [khỏi vòng vây]. Khi đó tôi đưa ra ý kiến là phải chấp nhận cho các bạn Lào phát động chiến tranh du kích. Tôi mời phía Trung Quốc đến để thảo luận việc này với ta. Tôi nói: “Các đồng chí, nếu các anh tiếp tục gây sức ép với Lào như thế thì lực lượng của họ sẽ tan rã hoàn toàn. Bây giờ họ phải được phép tiến hành đánh du kích”.

Trương Văn Thiên ( 28 ), người trước kia đã từng là Tổng Bí thư [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và có bí danh là Lạc Phủ, đã trả lời:

“Vâng, thưa các đồng chí, điều các đồng chí nói là đúng. Chúng ta hãy cho phép Tiểu đoàn Lào ấy được đánh du kích”.

Tôi hỏi Trương Văn Thiên ngay lập tức:

“Các đồng chí, nếu các đồng chí đã cho phép Lào tiến hành chiến tranh du kích, thì đâu có gì đáng sợ nếu phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì đã làm cho các đồng chí phải sợ hãi đến nỗi các đồng chí lại ngăn cản chúng tôi?”

Ông ấy [Trương Văn Thiên] trả lời:

“Không có gì phải sợ cả!”

Đó là điều Trương Văn Thiên đã nói. Tuy nhiên Hà Vĩ, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam khi ấy, [và] có mặt lúc đó cũng nghe thấy những điều vừa nói.

Ông ta đã đánh điện về Trung Quốc [báo cáo những gì đã trao đổi giữa Lê Duẩn và Trương Văn Thiên]. Mao trả lời ngay lập tức:

“Việt Nam không thể làm như vậy được [phát động chiến tranh du kích ở miền Nam]. Việt Nam nhất định phải trường kỳ mai phục!”

Chúng ta quá nghèo. Làm sao ta có thể đánh Mỹ nếu như chúng ta không có Trung Quốc là hậu phương vững chắc? [Do đó], chúng ta đành nghe theo họ, có phải không? (29)

Dẫu sao thì chúng ta vẫn không nhất trí. Ta bí mật tiến hành phát triển lực lượng của ta. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém đi khắp các tỉnh miền Nam, ta đã ra lệnh tổ chức lực lượng quần chúng để chống chế độ này và giành lại chính quyền [từ tay chính phủ Diệm]. Chúng ta không cần để ý đến họ [Trung Quốc]. Khi cuộc đồng khởi giành chính quyền đã bắt đầu, chúng tôi sang Trung Quốc gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình nói với tôi:

“Các đồng chí, bây giờ sai lầm của các anh thành việc đã rồi, các anh chỉ nên đánh ở mức độ trung đội trở xuống.”

Đấy là một kiểu ràng buộc mà họ muốn áp đặt lên ta. Tôi nói [với Trung Quốc]:

“Vâng, vâng! Tôi sẽ thực hiện như vậy. Tôi sẽ chỉ đánh ở mức trung đội trở xuống”.

Sau khi chúng ta đánh và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta đã chiến đấu có hiệu quả, Mao đột ngột có đường lối mới. Ông ta nói rằng trong khi Mỹ đánh nhau với ta, ông ấy sẽ mang quân đội [Trung Quốc] vào giúp ta làm đường. Mục đích chính của ông ấy là tìm hiểu tình hình Việt Nam để sau này có thể đánh ta và từ đó bành trướng xuống Đông Nam Á. Không còn lý do nào khác. Chúng ta biết vậy nhưng phải chấp nhận [việc đưa quân Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam]. Chuyện này thì cũng được. Họ quyết định đưa quân vào. Tôi chỉ yêu cầu là họ đưa người không thôi, nhưng quân đội họ vào mang cả súng ống, đạn dược. Tôi lại đành phải đồng ý.

Sau đó ông ấy [Mao Trạch Đông] bắt ta tiếp nhận hai vạn quân, đến để làm đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam. Tôi từ chối. Họ vẫn liên tục yêu cầu nhưng tôi không thay đổi ý kiến. Họ bắt tôi phải cho họ vào nhưng tôi không chấp nhận. Họ tiếp tục gây áp lực nhưng tôi vẫn không đồng ý. Các đồng chí, tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy được âm mưu lâu dài của họ là muốn cướp nước ta, và âm mưu của họ xấu xa tới chừng nào.

Sau khi Mỹ đưa vài trăm ngàn quân vào miền Nam, chúng ta đã tiến hành Tổng tiến công Mậu Thân 1968, buộc chúng phải xuống thang. Để đánh bại đế quốc Mỹ ta phải biết cách kéo địch xuống thang dần dần. Đó là chiến lược của ta. Chúng ta chiến đấu chống lại một kẻ địch lớn, có dân số hơn hai trăm triệu người và họ từng thống trị thế giới. Nếu ta không thể bắt họ xuống thang dần từng bước, thì ta sẽ lúng túng và không thể tiêu diệt kẻ thù được. Ta phải đánh cho chúng tê liệt ý chí để buộc chúng đến bàn đàm phán và không cho phép chúng đưa thêm quân vào.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 19th 2016, 6:16pm)


274

Tuesday, April 19th 2016, 11:15pm

Khi đã đến lúc họ muốn đàm phán với chúng ta, Hà Vĩ viết thư cho ta nói:

“Các anh không thể ngồi xuống đàm phán với Mỹ được. Các anh phải kéo quân Mỹ vào miền Bắc mà đánh chúng”.

Ông ta đã gây sức ép bằng cách đó, khiến chúng ta hết sức bối rối.
Đó hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Thật là mệt mỏi mỗi khi những tình huống tương tự [với Trung Quốc] lại xảy ra.

Chúng ta đã quyết định rằng không thể làm theo cách đó được [về ý kiến của Hà Vĩ không nên đàm phán với Mỹ]. Ta đã ngồi xuống ở Paris. Ta đã kéo Mỹ xuống thang để đánh bại chúng. Trong khi đó Trung Quốc lại tuyên bố [với Mỹ]:

“Nếu người không đụng đến ta thì ta cũng không đụng đến người. Muốn mang bao nhiêu quân vào Việt Nam, điều đó tùy theo các anh”.

Trung Quốc, theo ý của họ, đã làm như vậy và ép ta làm theo. Họ đã tích cực đổi chác với Mỹ và dùng ta làm con bài để mặc cả như thế đấy. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua, ngay lập tức họ sử dụng Trung Quốc để xúc tiến việc rút quân ở miền Nam sao cho thuận lợi. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận việc này.

Trước khi Nixon đến Trung Quốc, [mục tiêu chuyến đi này của ông ta] nhằm giải quyết vấn đề Việt Nam theo chiều hướng có lợi cho Mỹ và giảm thiểu đến tối đa sự thất bại của họ, đồng thời cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc gần hơn về phía Mỹ, Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu nói với tôi:

“Vào lúc này, Nixon sắp đến gặp tôi, chủ yếu là để thảo luận vấn đề Việt Nam, do đó tôi nhất định phải đến gặp đồng chí để bàn bạc.”

Tôi trả lời:

“Thưa đồng chí, đồng chí có thể nói bất kỳ điều gì đồng chí muốn, nhưng tôi vẫn không hiểu. Đồng chí là người Trung Quốc; tôi là người Việt Nam. Việt Nam là đất nước của [chúng] tôi, hoàn toàn không phải là của các đồng chí. Đồng chí không có quyền phát biểu [về công việc của Việt Nam], và đồng chí không có quyền thảo luận [những chuyện đó với Mỹ] (30). Hôm nay, thưa đồng chí, tôi nói riêng với đồng chí một điều, mà thậm chí tôi chưa từng nói với Bộ Chính trị của chúng tôi, rằng các đồng chí đã đặt ra một vấn đề nghiêm trọng và vì vậy tôi cần phải nói: Năm 1954, khi Việt Nam chiến thắng ở Điện Biên Phủ, tôi đang ở Hậu Nghĩa. Bác Hồ
đánh điện cho tôi, nói rằng tôi cần phải đi Nam để tổ chức lại [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về việc này] (31). Tôi đi xe thổ mộ xuôi Nam. Dọc đường đồng bào đổ ra chào đón tôi vì họ nghĩ chúng tôi đã chiến thắng. Thật đau lòng xiết bao! Nhìn đồng bào miền Nam tôi đã khóc. Bởi vì sau đó Mỹ sẽ nhảy vào miền Nam và tàn sát đồng bào tôi một cách dã man.
Vào tới nơi, tôi lập tức đánh điện cho bác Hồ yêu cầu được ở lại và không tập kết ra Bắc, để có thể tiếp tục chiến đấu mười năm nữa hoặc lâu hơn. [Tôi nói với
Chu Ân Lai]:
“Thưa đồng chí, đồng chí đã gây ra những khó khăn cho chúng tôi như vậy đấy [muốn nói đến vai trò của ông ta trong việc chia cắt Việt Nam tại hội nghị Giơ ne vơ năm 1954]. Đồng chí có biết thế không?”

Chu Ân Lai đáp:

“Tôi xin lỗi các đồng chí. Tôi đã sai. Tôi đã sai trong chuyện này" [ám chỉ việc chia cắt Việt Nam tại Giơ ne vơ] (32).

Sau khi Nixon đã đi thăm Trung Quốc, ông ta [Chu] lại sang Việt Nam một lần nữa để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến đấu trong Nam.

Tuy nhiên tôi cũng nói ngay với Chu Ân Lai:

“Nixon đã gặp các đồng chí. Chẳng bao lâu nữa họ [Mỹ] sẽ tấn công chúng tôi mạnh hơn”.

Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai bên [Mỹ và Trung Quốc] đã thỏa thuận với nhau nhằm đánh ta mạnh hơn. Ông ấy [Chu] đã không phản đối quan điểm này là không có cơ sở, và chỉ nói rằng:

“Tôi sẽ gửi thêm súng ống đạn dược cho các đồng chí”.

Rồi ông ta nói [về sự e ngại một âm mưu bí mật giữa Mỹ và Trung Quốc]:

“Không có chuyện đó đâu”.

Dẫu sao họ cũng đã thảo luận đánh ta mạnh hơn như thế nào, kể cả ném bom bằng B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Vấn đề rõ ràng là như vậy.

Nếu Liên Xô và Trung Quốc không bất đồng với nhau thì Mỹ không thể đánh chúng ta một
cách tàn bạo như chúng đã làm. Chừng nào hai nước [Trung Quốc và Liên Xô] còn xung đột thì người Mỹ sẽ không bị ngăn trở [vì sự phản đối của khối Xã hội chủ nghĩa thống nhất]. Mặc dầu Việt Nam đã có thể đoàn kết với cả hai nước Trung Quốc và Liên Xô, nhưng để làm việc này là hết sức khó khăn vì lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc rất nhiều. Thời gian đó Trung Quốc hàng năm viện trợ cho ta nửa triệu tấn lương thực, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa nói đến cả đô la nữa. Liên Xô cũng giúp ta tương tự như vậy. Nếu chúng ta không làm được điều đó [giữ gìn sự thống nhất và đoàn kết với họ] thì mọi chuyện có thể hết sức nguy hiểm. Hàng năm tôi phải sang Trung Quốc hai lần để trình bày với họ [ban lãnh đạo Trung Quốc] về các diễn biến ở trong Nam. Còn với Liên Xô, tôi không cần phải nói gì cả [về tình hình miền Nam]. Tôi chỉ nói chung chung. Khi làm việc với phía Trung Quốc, tôi phải nói rằng cả hai chúng ta đang cùng đánh Mỹ. Tôi đã đi (sang đấy) một mình. Tôi phải tham dự vào những chuyện đó. Tôi phải sang Trung Quốc và bàn bạc với họ nhiều lần như vậy với mục đích chính là thắt chặt quan hệ song phương [Trung Quốc và Việt Nam]. Chính vào lúc đó Trung Quốc ép chúng ta phải tách xa khỏi Liên Xô, cấm ta không được đi cùng với Liên Xô nữa (33).


Họ làm rất căng thẳng chuyện này. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh (34), đến nói với tôi:

“Đồng chí, chúng tôi sẽ giúp các anh vài tỷ (Nhân dân tệ) một năm. Các anh không được nhận gì từ Liên Xô nữa.”

Tôi không chấp nhận như vậy. Tôi nói:

“Không, chúng tôi nhất định phải đoàn kết và thống nhất với toàn phe Xã hội chủ nghĩa.” (35)

Năm 1963, khi Nikita Khơrútxốp có sai lầm, Trung Quốc lập tức ra Cương lĩnh 25 điểm và mời Đảng ta đến và góp ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi cùng đi với một số anh em khác. Trong khi bàn bạc, họ [Trung Quốc] lắng nghe ta chừng mười điểm gì đó, nhưng khi tới ý kiến “không xa rời phe Xã hội chủ nghĩa” (37) thì họ không nghe nữa… Đặng Tiểu Bình nói:

“Tôi chịu trách nhiệm về văn bản của chính tôi. Tôi xin ý kiến các đồng chí nhưng tôi không chấp nhận điểm này của các đồng chí.”

Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố:

“Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.” ( 38 ) Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và
nói thêm:


“Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn!”

Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh:

“Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch.”

Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt Nam!

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 19th 2016, 11:33pm)


275

Wednesday, April 20th 2016, 5:41am

Tôi sẽ nói thêm để các đồng chí có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng quân sự của việc này.
Mao hỏi tôi:
– Lào có bao nhiêu cây số vuông?

Tôi trả lời:
– Khoảng 200 nghìn [cây số vuông].

– Dân số của họ là bao nhiêu? [Mao hỏi]

– [Tôi đáp:] Gần ba triệu.

– [Mao nói:] Thế thì cũng không nhiều lắm! Tôi sẽ mang người của chúng tôi xuống đấy!

– [Mao hỏi:] Thái Lan thì có bao nhiêu cây số vuông?

– [Tôi trả lời:] Khoảng 500 nghìn.

– Và có bao nhiêu người? [Mao hỏi]

– Gần 40 triệu! [Tôi đáp]

– Trời ơi! [Mao nói], tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500 nghìn cây số vuông mà có tới 90 triệu dân. Tôi sẽ lấy thêm một ít người của chúng tôi đi xuống đấy nữa [Thái Lan]!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói thẳng về việc di dân như vậy. Tuy nhiên, ông ta [Mao] nói với tôi:

“Các đồng chí, có thật người Việt Nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên không?”
Tôi nói: “Đúng.”

“Thế có thật là các anh cũng đánh bại cả quân Thanh nữa phải không?”
Tôi đáp: “Đúng.” Ông ta lại hỏi:

“Và cả quân Minh nữa, đúng không?”
Tôi trả lời:
“Đúng, và cả các ông nữa. Tôi sẽ đánh bại cả các ông. (39) Ông có biết thế không?” Tôi đã nói với Mao như vậy đó.
Ông ấy nói:
“Đúng! Đúng!”

Mao muốn chiếm Lào, cả nước Thái Lan… cũng như muốn chiếm toàn vùng Đông
Nam Á. Mang người đến ở đó. Thật là phức tạp.


Trong những năm trước [về các vấn đề có thể nảy sinh từ mối đe dọa của Trung Quốc trong những thời kỳ đó], chúng ta đã có sự chuẩn bị tích cực chứ không phải chúng ta không chuẩn bị gì. Nếu chúng ta không chuẩn bị thì tình hình vừa qua đã có thể rất nguy. Đó không phải là chuyện đơn giản. Mười năm trước tôi đã có mời anh em bên quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ đang có mâu thuẫn với nhau. Còn Trung Quốc, họ lại bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng như vậy các anh phải lập tức nghiên cứu vấn đề này. Tôi sợ bên quân đội anh em chưa hiểu nên tôi nói thêm rằng không có cách nào khác để hiểu
vấn đề này. Nhưng họ phát biểu rằng chuyện này rất khó hiểu. Đúng là không dễ dàng chút nào. Nhưng tôi không thể nói cách khác được. Và tôi cũng không cho phép ai căn vặn mình(40)


Khi tôi đi Liên Xô, họ cũng rất cứng rắn với tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một hội nghị 80 đảng [Cộng sản] để ủng hộ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [hội nghị] không chỉ nhằm giúp đỡ Việt Nam mà còn dự định lên án Trung Quốc. Do đó Việt Nam đã không đi. Phía Liên Xô hỏi:

“Các anh đã từ bỏ chủ nghĩa quốc tế rồi hay sao? Tại sao các anh lại làm như vậy?”
Tôi đáp:
“Tôi hoàn toàn không từ bỏ chủ nghĩa quốc tế. Tôi chưa hề làm như vậy. Tuy nhiên, muốn là người theo chủ nghĩa quốc tế thì trước hết phải đánh bại đế quốc Mỹ. Và nếu người ta muốn đánh Mỹ thì phải thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đi dự hội nghị này thì Trung Quốc sẽ gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho chúng tôi. Xin các đồng chí hiểu cho.”

Ở Trung Quốc có rất nhiều ý kiến khác nhau và đang tranh cãi. Chu Ân Lai đồng ý xây dựng cùng Liên Xô một mặt trận chống Mỹ. Một lần tôi đến Liên Xô dự lễ Quốc khánh, tôi có được đọc một bức điện của Trung Quốc gửi Liên Xô nói rằng “nếu Liên Xô bị tấn công thì Trung Quốc sẽ kề vai sát cánh cùng Liên bang Xô viết.”(41) Đó là nhờ Hiệp ước hữu nghị Xô – Trung được ký kết trước đây [tháng 2-1950]. Ngồi cạnh Chu Ân Lai tôi hỏi ông ấy:

“Trong bức điện mới đây gửi Liên Xô, các đồng chí đã đồng ý cùng với Liên Xô thành lập một mặt trận, nhưng tại sao các đồng chí lại không thành lập một mặt trận chống Mỹ?”
Chu Ân Lai đáp:
“Chúng tôi có thể. Tôi đồng tình với quan điểm của đồng chí. Tôi sẽ thành lập một mặt trận với
các đồng chí [về Việt Nam]".

Bành Chân (42) cũng đang ngồi đó, nói thêm:
“Ý kiến này cực kỳ đúng đắn!”
Nhưng khi vấn đề được đưa ra thảo luận ở Thượng Hải, Mao nói rằng không thể được và gạt bỏ ý kiến này. Các đồng chí đã thấy vấn đề phức tạp ra sao.

Mặc dầu Chu Ân Lai có bảo lưu một số ý kiến, dẫu sao ông cũng đã đồng ý thành lập một mặt trận và đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều. Chính nhờ ông mà tôi hiểu [nhiều chuyện đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì có thể rất nguy hiểm. Có lần ông ấy nói với tôi:

“Tôi phải làm hết sức mình để sống sót ở đây, dùng Lý Cường(43) để tích lũy và cung cấp viện trợ cho các đồng chí.”
Và thế đấy [ám chỉ Chu đã có thể dùng Lý Cường vào việc giúp đỡ Việt Nam].
Tôi hiểu rằng nếu không có Chu Ân Lai thì không thể có được sự viện trợ như vậy. Tôi thật biết ơn ông ta.

Tuy nhiên cũng không đúng, nếu nói rằng những người khác trong ban lãnh đạo Trung Quốc có cùng quan điểm với Chu Ân Lai. Họ khác nhau trên nhiều phương diện. Nhưng có thể nói rằng người kiên trì nhất, người có đầu óc đại Hán và người muốn chiếm cả vùng Đông Nam Á, chính là Mao. Tất cả mọi chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay Mao.

Cũng có thể nói như vậy về các nhà lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc. Chúng ta không biết trong tương lai mọi chuyện sẽ ra sao, nhưng dẫu sao [sự thực là] họ đã tấn công ta. Trước đây Đặng Tiểu Bình đã từng làm hai việc mà giờ đây lại lật ngược hẳn lại. Đó là, khi ta thắng lợi ở miền Nam, nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên Đặng Tiểu Bình cũng vẫn cứ chúc mừng ta. Kết quả là ông ta lập tức bị những người khác coi là phần tử xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối cùng (44), tôi là trưởng đoàn, và tôi đã gặp đoàn đại biểu Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình dẫn đầu. Khi nói tới vấn đề lãnh thổ, gồm cả thảo luận về một số hòn đảo, tôi có nói:

“Hai nước chúng ta nằm cạnh nhau. Có một số khu vực trên lãnh thổ chúng tôi chưa được phân định rõ ràng. Cả hai phía chúng ta cần phải thành lập một ủy ban để xem xét vấn đề này. Thưa các đồng chí, xin hãy nhất trí với tôi [về chuyện này]." Ông ấy [Đặng] đã đồng ý, nhưng vì vậy mà sau đó ông ta lại bị các nhóm lãnh đạo khác chụp mũ xét lại tức thời.

Nhưng bây giờ thì ông ấy [Đặng] điên thật rồi. Bởi vì ông ta muốn tỏ ra mình không phải là xét lại nên ông ta đã đánh Việt Nam mạnh hơn. Ông ta đã bật đèn xanh cho họ tấn công Việt Nam.

Sau khi đánh bại đế quốc Mỹ, chúng ta vẫn giữ một đạo quân hơn một triệu người. Một số lãnh đạo Liên Xô đã hỏi ta:
“Các đồng chí còn định đánh nhau với ai nữa mà lại vẫn duy trì một đội quân [thường trực] lớn như vậy?”
Tôi đáp:
“Sau này các đồng chí sẽ hiểu.”
Lý do duy nhất khiến chúng ta giữ một đạo quân thường trực như vậy chính là vì Trung Quốc [mối đe dọa của họ đối với Việt Nam]. Nếu như không có [sự đe dọa đó] thì đội quân [thường trực lớn] này sẽ không còn cần thiết nữa.
Đã bị tấn công gần đây trên cả hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rõ rằng] sẽ rất nguy hiểm nếu chúng ta không duy trì một đội quân lớn.


(B) [Ý nghĩa của chữ B này trong bản gốc không được rõ] – Từ cuối Đại chiến thế giới thứ hai, tất cả đều cho rằng đế quốc Mỹ chính là tên sen đầm quốc tế. Chúng có thể xâm chiếm và đe dọa các nước khác trên thế giới. Mọi người, kể cả các cường quốc, đều sợ Mỹ. Duy chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ mà thôi.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 20th 2016, 6:05am)


276

Wednesday, April 20th 2016, 4:54pm

Tôi hiểu được điều này nhờ cuộc đời hoạt động của mình đã dạy tôi như vậy. Người đầu tiên sợ [Mỹ] chính là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, cả Việt Nam và Lào, rằng:

“Các anh phải lập tức chuyển giao ngay hai tỉnh giải phóng của Lào cho chính quyền Viên
Chăn. Nếu không thì Mỹ sẽ lấy cớ để tấn công. Thế thì hết sức nguy hiểm.”
Về phía Việt Nam, chúng ta nói:

“Chúng tôi sẽ đánh Mỹ để giải phóng miền Nam.”
Ông ta [Mao] nói:

“Các anh không được làm như vậy. Miền Nam Việt Nam cần phải trường kỳ mai phục, có thể một đời người, năm đến mười đời, thậm chí hai mươi đời nữa. Các anh không thể đánh Mỹ. Đánh nhau với Mỹ là một việc nguy hiểm.”
Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến như vậy…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiến lên và chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ
thì miền Nam sẽ không được giải phóng. Một nước chưa được giải phóng thì vẫn cứ là một nước phụ thuộc. Không có nước nào được độc lập nếu chỉ có một nửa nước được tự do. Đó là tình hình cho đến năm 1975, khi đất nước ta cuối cùng đã giành được hoàn toàn độc lập. Có độc lập thì sẽ có tự do. Tự do phải là thứ tự do cho cả nước Việt Nam…


Ăng ghen đã từng nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó Liên Xô, rồi Trung Quốc và cả ta nữa cũng nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước khác nhau rất nhiều về nội dung [của chiến tranh nhân dân]. Sẽ là không đúng nếu chỉ vì anh có hàng triệu người mà anh muốn làm gì thì làm. Trung Quốc cũng nói về chiến tranh nhân dân nhưng [họ chủ trương] “địch tiến ta lùi”. Nói cách khác, phòng ngự là chủ yếu, và chiến tranh chia làm ba giai đoạn, lấy nông thôn bao vây thành thị, trong khi [chủ lực] vẫn lẩn trốn trong vùng rừng núi… Trung Quốc đã thiên về phòng ngự và rất yếu [trong Đại chiến Thế giới thứ hai]. Thậm chí, với 400 triệu dân chống lại quân đội Nhật chỉ có khoảng 300 đến 400 ngàn người, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại Nhật. (45)

Tôi phải nhắc lại như vậy vì trước kia Trung Quốc đã gửi cố vấn sang ta nên một số anh em [ta] không hiểu. Họ nghĩ rằng Trung Quốc rất là tài giỏi. Nhưng họ cũng không tài giỏi lắm đâu, và vì thế ta cũng không làm theo [sự cố vấn của Trung Quốc]. (46)

Năm 1952 tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc chữa bệnh. Đấy là lần đầu tiên tôi ra nước ngoài. (47) Tôi đã đánh dấu hỏi về họ [Trung Quốc] và thấy rất nhiều chuyện lạ. Những vùng [đã từng] bị quân Nhật chiếm đóng có dân cư là 50 triệu người, nhưng không có thậm chí một người du kích…
Khi tôi từ Trung Quốc về, tôi gặp bác [Hồ]. Bác hỏi:

– Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài có phải không?

– Vâng, tôi ra nước ngoài lần đầu tiên.

– Chú thấy những gì?

– Tôi thấy hai chuyện: Việt Nam rất dũng cảm và họ [Trung Quốc] hoàn toàn không.

Tôi hiểu điều đó từ bấy giờ. Chúng ta [người Việt Nam] khác hẳn họ. Lòng dũng cảm là đặc tính cố hữu trong từng con người Việt Nam, và do vậy chúng ta chưa từng có chiến lược thiên về phòng ngự. Mỗi người dân là một chiến sĩ.

Gần đây, họ [Trung Quốc] đem vài trăm ngàn quân xâm lấn nước ta. Trên phần lớn mặt trận, ta mới sử dụng dân quân du kích và bộ đội địa phương để đánh trả. Chúng ta không thiên về phòng ngự, và do vậy họ đã thất bại. Họ không thể tiêu diệt gọn một trung đội nào của Việt Nam, còn ta diệt gọn vài trung đoàn và vài chục tiểu đoàn của họ. Đạt được điều đó vì ta có chiến lược nghiêng về tấn công.

Đế quốc Mỹ đã đánh nhau với ta trong một cuộc chiến dài lâu. Họ hết sức mạnh mà vẫn thua. Nhưng ở đây có một yếu tố đặc biệt, đó là sự mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì thế], họ đã đánh ta ác liệt như vậy.

Việt Nam chống Mỹ và đánh chúng quyết liệt, nhưng chúng ta cũng biết rằng Mỹ là một nước rất lớn, có khả năng huy động một đội quân mười triệu người và dùng tất cả những vũ khí tối tân nhất để đánh ta. Vì vậy chúng ta phải chiến đấu một thời gian dài để kéo chúng xuống thang. Chúng ta là người có thể làm được như vậy; Trung Quốc thì không. Khi quân Mỹ tấn công Quảng Trị, Bộ Chính trị đã ra lệnh đưa bộ đội vào ứng chiến ngay lập tức. Chúng ta không sợ. Sau đó tôi có sang Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi:

“Nó [cuộc chiến đấu ở Quảng Trị] có lẽ là độc nhất vô nhị, chưa từng có. Đời người chỉ có một [cơ hội], không hai. Không ai dám làm việc mà các đồng chí đã làm”.

Chu Ân Lai đã từng là Tổng Tham mưu trưởng. Ông dám nói và ông cũng thẳng thắn hơn. Ông nói với tôi:


“Nếu tôi được biết trước cách đánh mà các đồng chí đã sử dụng thì có lẽ chúng tôi không cần đến cuộc Trường chinh.” Vạn lý Trường chinh để làm gì? Vào lúc bắt đầu cuộc Trường chinh họ có một đội quân 300 nghìn người; và khi kết thúc họ chỉ còn lại có 30 nghìn. 270 nghìn đã bị tiêu hao. Đó quả thật là ngu ngốc nếu làm theo cách ấy… [Tôi] nói như vậy để các đồng chí hiểu, chúng ta đã tiến xa hơn bao nhiêu. Sắp tới, nếu ta lại phải chiến đấu chống Trung Quốc, chúng ta nhất định thắng lợi… Dẫu sao, một sự thực là nếu như một nước khác [không phải Việt Nam] phải đánh nhau với Trung Quốc, thì chưa chắc họ có thể thắng như vậy [giống Việt Nam] được.

Nếu Trung Quốc và Liên Xô nhất trí với nhau, thì cũng chưa chắc là Mỹ sẽ dám đánh ta. Nếu như hai nước đoàn kết và cùng giúp ta, thì cũng chưa chắc rằng Mỹ sẽ dám đánh ta theo cách như chúng đã làm. Họ có thể chùn bước ngay từ đầu. Họ có thể bỏ cuộc như trong thời Tổng thống Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô tất cả cùng giúp Lào và Mỹ tức thời ký hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân sang Lào, họ chấp nhận cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia vào chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.


Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] có mâu thuẫn với nhau, phía Mỹ lại được [Trung Quốc] thông báo rằng họ có thể tiếp tục đánh Việt Nam mà không sợ gì cả. Đừng sợ [Trung Quốc trả đũa]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông nói với Mỹ:

“Nếu người không đụng đến ta thì ta sẽ không đụng đến người. Các anh có thể đưa bao nhiêu quân vào miền Nam Việt Nam cũng được. Điều đó tùy theo các anh.” ( 48 )

Chúng ta [hiện nay] tiếp giáp với một quốc gia lớn, một nước có những ý đồ bành trướng, mà nếu được thực hiện thì sẽ bắt đầu với cuộc xâm lăng Việt Nam. Như vậy, ta phải gánh vác một vai trò lịch sử nữa, khác trước. Dẫu sao, chúng ta không bao giờ thoái thác nhiệm vụ lịch sử của mình. Trước đây, Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình và lần này Việt Nam quyết tâm không cho chúng bành trướng. Việt Nam bảo vệ nền độc lập của chính mình và đồng thời cũng là bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam quyết không để cho Trung Quốc thực hiện mưu đồ bành trướng của họ. Cuộc chiến gần đây [với Trung Quốc] mới chỉ là một hiệp. Hiện nay họ vẫn đang ráo riết chuẩn bị trên nhiều chiến trường. Dù sao đi nữa, mặc họ chuẩn bị đến mức nào, Việt Nam cũng vẫn sẽ thắng…


Tiến hành chiến tranh không phải là một cuộc dạo chơi trong rừng. Dùng một triệu quân để tiến hành chiến tranh chống nước khác kéo theo vô vàn khó khăn. Chỉ mới đây thôi, họ đem 500 đến 600 ngàn quân đánh chúng ta, mà họ không có đủ phương tiện vận tải để chuyên chở lương thực cho quân đội họ.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 20th 2016, 5:28pm)


277

Wednesday, April 20th 2016, 5:46pm

Trung Quốc hiện nay có một đội quân ba triệu rưỡi người, nhưng họ phải để lại một nửa trên biên giới [Trung-Xô] nhằm phòng ngừa Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ có mang một hoặc hai triệu quân sang đánh ta, chúng ta cũng không hề sợ hãi gì cả. Chúng ta chỉ có 600 ngàn quân ứng chiến và nếu sắp tới chúng ta phải đánh với hai triệu quân, thì cũng không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.

Chúng ta không sợ vì chúng ta đã biết cách chiến đấu. Nếu họ mang vào một triệu quân thì họ cũng chỉ đặt được chân ở phía Bắc. Càng đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng châu thổ, và vào Hà Nội hoặc thậm chí vào sâu hơn nữa thì sẽ càng khó khăn. Các đồng chí, các đồng chí đã biết, bè lũ Hitler đã tấn công ác liệt như thế nào, mà khi tiến đến Leningrad chúng cũng không thể nào vào nổi. (Phải đối mặt) với những (làng mạc,) thành phố, nhân dân và công tác phòng ngự, không ai có thể thực hiện một cuộc tấn công hiệu quả chống lại từng người cư dân. Thậm chí có đánh nhau hai, ba hoặc bốn năm chúng cũng không thể nào tiến vào được. Mỗi làng xóm của chúng ta [trên biên giới phía Bắc] là như vậy. Chủ trương của ta là: Mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và chúng sẽ không thể nào xâm nhập được.

Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chỉ nói đến đánh giặc ngoài tiền tuyến. Ngưới ta cũng cần phải có một đội quân hậu tập trực tiếp, hùng mạnh. Sau khi cuộc chiến vừa qua chấm dứt, chúng ta đã nhận định rằng, sắp tới, ta cần đưa thêm vài triệu người lên (các tỉnh) mặt trận phía Bắc. Nếu giặc đến từ phương Bắc, hậu phương trực tiếp của cả nước sẽ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… Hậu phương trực tiếp để bảo vệ Thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Ta sẽ đánh bằng nhiều cách… Ta có thể dùng hai hoặc ba quân đoàn giáng cho địch một đòn quyết liệt khiến chúng choáng váng, trong khi tiếp tục bảo vệ lãnh thổ của ta.
Để làm được như vậy, mỗi người lính phải là một người lính thực sự, mỗi tiểu đội phải là một tiểu đội thực sự.


Vừa trải qua một trận chiến, chúng ta không được chủ quan. Chủ quan khinh địch là không đúng, nhưng thiếu tự tin thì cũng sai. Ta không chủ quan khinh địch nhưng ta cũng đồng thời tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của chúng ta. Ta cần phải có cả hai yếu tố đó.

Trung Quốc hiện đang có âm mưu tấn công ta nhằm bành trướng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay người ta không thể làm gì mà che đậy giấu giếm được. Trung Quốc vừa mới gây hấn với Việt Nam có vài ngày, cả thế giới đã đồng thanh hô lớn:

“Không được đụng đến Việt Nam!”

Thời nay không còn giống như thời xưa nữa. Ngày xưa chỉ có ta (đối mặt) với họ [Trung Quốc]. Ngày nay cả thế giới sát cánh chặt chẽ bên nhau. Nhân loại hoàn toàn chưa bước vào giai đoạn Xã hội chủ nghĩa; thay vì thế bây giờ lại là thời mà mọi người đều mong muốn độc lập và tự do. [Thậm chí] trên những hòn đảo nhỏ, nhân dân ở đó cũng mong muốn độc lập tự do. Cả loài người hiện nay là như vậy. Điều đó rất khác với thời xưa. Khi ấy mọi người còn chưa biết rõ về những khái niệm này. Lời bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” là tư tưởng của thời đại ngày nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm đến độc lập tự do… Việt Nam là quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

Khi bàn đánh Mỹ, anh em ta trong Bộ Chính trị đã cùng thảo luận chuyện này để cân nhắc xem ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã biểu thị quyết tâm của mình: Để đánh Mỹ chúng ta nhất định phải không sợ Mỹ. Tất cả đã đồng lòng. Trong khi tất cả đều nhất trí đánh Mỹ, để không sợ Mỹ chúng ta cũng phải không sợ Liên Xô. Mọi người đều đồng ý. Chúng ta cũng cần không sợ Trung Quốc. Mọi người đều tán thành. Nếu chúng ta không sợ ba cái (nước lớn) đó, ta có thể đánh Mỹ. Đấy là chúng tôi đã làm việc như thế nào ở Bộ Chính trị trong thời gian đó.

Mặc dầu Bộ Chính trị đã họp và thảo luận như vậy và mọi người đều nhất trí đồng lòng, sau đó lại có người đã nói lại với một đồng chí những điều tôi nói. Người đồng chí đó lại chất vấn Bộ Chính trị, hỏi rằng tại sao anh Ba (49) lại nói rằng nếu chúng ta muốn đánh Mỹ thì chúng ta phải không sợ cả Trung Quốc? Tại sao anh ấy lại đặt vấn đề như vậy? (50)

Lúc đó anh Nguyễn Chí Thanh, một người thường được cho rằng là có cảm tình với Trung Quốc, đứng dậy nói:

“Thưa các đồng chí trong Bộ Chính trị và bác Hồ kính mến, lời phát biểu của anh Ba là đúng. Cần phải nói như vậy [về việc cần phải không sợ Trung Quốc], bởi vì họ [Trung Quốc] đã gây khó khăn cho chúng ta trong nhiều vấn đề. Họ ngăn cản chúng ta ở đây, rồi trói tay ta ở kia. Họ không cho ta đánh…” (51)

Trong khi ta đang chiến đấu trong Nam, Đặng Tiểu Bình đã quy định rằng tôi chỉ nên đánh từ mức trung đội trở xuống, và không được đánh ở mức độ lớn hơn. Ông ta [Đặng] nói:

“Ở miền Nam, do các anh đã phạm sai lầm là đã phát động cuộc chiến, các anh chỉ được đánh từ cấp trung đội trở xuống, chứ không được đánh lớn hơn”.
Đó là họ đã ép ta như thế nào.

Chúng ta không sợ ai cả. Ta không sợ bởi vì ta có chính nghĩa. Chúng ta không sợ thậm chí các nước đàn anh. Ta cũng không sợ bạn bè ta. (52) Tất nhiên, chúng ta không sợ quân thù. Ta đã đánh chúng. Chúng ta là những con người; chúng ta không phải sợ bất kỳ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết rằng ta độc lập.

Chúng ta phải có một quân đội mạnh, bởi vì nước ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt… Không thể nào khác được. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm vì ta là một nước nghèo.

Ta có một đội quân mạnh, nhưng việc đó không làm chúng ta yếu đi chút nào. Đối với ta Trung Quốc có một số chủ trương: Xâm lược và chiếm đóng nước ta; làm ta suy yếu về kinh tế và làm cho đời sống của nhân dân ta khó khăn hơn. Vì những lý do đó, để chống Trung Quốc chúng ta phải, trước hết, không chỉ chiến đấu, mà còn phải tự làm cho mình mạnh lên. Để đạt được điều đó, theo quan điểm của tôi, quân đội ta không thể là một đội quân chỉ dựa vào nguồn cung cấp của nhà nước, mà còn phải là một đội quân sản xuất giỏi. Khi giặc đến họ sẽ cầm chắc tay súng. Khi không có giặc họ sẽ sản xuất mạnh mẽ. Họ sẽ là biểu tượng cao nhất và tốt nhất trong sản xuất, sẽ làm ra nhiều (của cải vật chất) hơn bất cứ ai. Tất nhiên, đấy không phải là chuyện mới lạ. (53)

Hiện nay, quân đội ta đang gánh vác một sứ mệnh lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của đất nước, đồng thời bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản cách mạng Trung Quốc không thể thực hiện được thì đó chính là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm được. Việt Nam đã có năm chục triệu người. Việt Nam có Lào và Căm bốt là bạn và có địa thế hiểm trở. Việt Nam có cả phe (Xã hội chủ nghĩa) ta và cả nhân loại đứng về phiá mình. Rõ ràng là chúng ta có thể làm được việc đó.

… Các đồng chí có thấy ai ở trong Đảng ta, trong nhân dân ta mà hoài nghi rằng ta sẽ thua Trung Quốc không? Không có ai, tất nhiên rồi. Nhưng chúng ta phải duy trì những quan hệ thân hữu của mình. Chúng ta không muốn sự hằn thù dân tộc. Tôi nhắc lại: Tôi nói như vậy vì không bao giờ tôi mang lòng hận thù đối với Trung Quốc. Tôi không có thứ tình cảm như vậy, dù chính họ là người đã đánh ta. Hôm nay tôi muốn các đồng chí biết rằng trên đời này người đã từng bảo vệ Trung Quốc lại chính là tôi! Đúng như vậy đó. Tại sao thế? Bởi vì trong hội nghị ở Bucharest tháng 6 năm 1960, sáu mươi đảng đã phản đối Trung Quốc nhưng chỉ có mình tôi là người đã bênh vực Trung Quốc. (54)

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 20th 2016, 6:09pm)


278

Thursday, April 21st 2016, 6:02am

Nhân dân Việt Nam ta là như vậy. Tôi sẽ tiếp tục nhắc lại rằng: Dù họ có đối xử tồi tệ đến đâu chăng nữa, chúng ta biết rằng nhân dân Trung Quốc là bạn ta. Về phía chúng ta, ta không mang những mặc cảm xấu xa đối với Trung Quốc. Còn về ý đồ của một số lãnh đạo [Trung Quốc] thì là chuyện khác. Chúng ta nhắc tới họ chỉ như một bè lũ mà thôi. Chúng ta không ám chỉ cả nước họ. Ta không nói nhân dân Trung Quốc xấu với ta. Ta nói rằng chỉ có bè lũ phản cách mạng Bắc Kinh là như thế. Tôi nhắc lại lần nữa ta phải tuân thủ nghiêm nhặt như vậy.

Tóm lại, hãy giữ cho tình hình trong vòng kiểm soát chặt chẽ, sẵn sàng chiến đấu và không bao giờ lơi là cảnh giác. Đối với Trung Quốc ta cũng làm như vậy. Tôi tin chắc rằng trong vòng năm mươi năm nữa, hoặc thậm chí có thể một trăm năm, chủ nghĩa xã hội sẽ thành công; và khi đó thì ta sẽ không còn vấn đề gì nữa. Nhưng nó đòi hỏi thời gian. Bởi vậy chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Bây giờ không ai còn hoài nghi gì nữa. Nhưng 5 năm trước tôi biết chắc rằng không có đồng chí nào lại nghĩ là Trung Quốc có thể đánh ta. Vậy mà có đấy. Đó là trường hợp vì các đồng chí ấy không có hiểu biết đầy đủ về vấn đề này. (55) Nhưng đó không phải là trường hợp xảy ra với chúng ta [Lê Duẩn và ban lãnh đạo]. (56) Chúng ta biết rằng họ sẽ đánh ta trong khoảng mười năm hoặc hơn. Do đó chúng ta không bị bất ngờ [vì cuộc tấn công tháng giêng 1979 của Trung Quốc].

Ghi chú của Christopher E. Goscha ( 24-56) :

24. Tài liệu này được dịch từ bản sao một số trích đoạn trong bản gốc. Nó được chép lại từ bản gốc lưu trữ trong Thư viện Quân đội, Hà Nội. Christopher E. Goscha, người dịch tài liệu này (ra tiếng Anh) đã được phép hoàn toàn đầy đủ để làm việc đó. Văn bản là bài nói chuyện được cho là của “đồng chí B”. Nó có thể do chính đồng chí B viết, nhưng có nhiều khả năng hơn nó là bản đánh máy của một người nào đó dự buổi nói chuyện của “đồng chí B” (một cán bộ cao cấp hoặc một thư ký đánh máy). Trong văn bản, đồng chí B có đề cập rằng, trong những cuộc họp của Bộ Chính trị ông ta được gọi là anh Ba. Đó là bí danh mà chúng ta được biết là của Tổng Bí thư Lê Duẩn, đã dùng trong Đảng Lao động Việt Nam (từ 1976 là “Đảng Cộng sản Việt Nam”). Mặc dầu tài liệu không đề ngày tháng, nhưng rõ ràng văn bản được viết trong năm 1979, sau cuộc tấn công Việt Nam của Trung Quốc. Nó được củng cố thêm bằng một tài liệu khác mang tính cáo buộc mạnh mẽ, xuất bản năm 1979 theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó đã liệt kê tuần tự sự phản bội của Trung Quốc và, không hoàn toàn bất ngờ, cùng đề cập đến nhiều sự kiện mà Lê Duẩn đã kể lại trong tài liệu này. Xem: Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1979). Trong phần Ghi chú này có cho thêm số trang trong bản tiếng Pháp của cùng văn kiện: Ministère des Affaires Étrangères, La vérité sur les relations vietnamo- chinoises durant les trente dernière années. Dịch giả xin cám ơn Thomas Engelbert, Stein Tønnesson, Nguyen Hong Thach, và hơn cả là một độc giả Việt Nam ẩn danh, đã sửa chữa và đóng góp cho nhiều ý kiến quý báu. Dịch giả xin chịu trách nhiệm về những sai sót trong bản dịch này.

25. Những dấu tỉnh lược (…) như vậy là nguyên văn trong bản gốc; những dấu tỉnh lược và nhận xét của dịch giả được đặt trong dấu ngoặc vuông: […].

26. Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 đã cho Pathet Lao, đồng minh gần gũi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một khu vực tập kết tạm thời ở hai tỉnh (Bắc Lào) Phong xa lỳ và Sầm Nưa. Không có một nhượng địa tương tự cho Khơ me It xa la, đồng minh của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

27. Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm quacho biết cuộc hội đàm cấp cao về Lào diễn ra vào tháng 8 – 1961 (La vérité sur les relations vietnamo- chinoises durant les trente dernière années, trang 34).

28. Trương Văn Thiên là một trong những thành viên của Đoàn đại biểu Trung Quốc, người đã có mặt khi Lê Duẩn phát biểu những nhận xét này. Ông còn là Thứ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là Ủy viên lâu năm trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những năm 1950 ông ta là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị giữ trách nhiệm về liên lạc đối ngoại với các nước Xã hội chủ nghĩa.

29. Sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua đã miêu tả cuộc gặp gỡ như sau: “Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, Ủy viên trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền Nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân. The Truth…, trang 40. (La vérité…, trang 31.)

30. Xem Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 60. (La vérité…, trang 47.)

31. Lê Duẩn muốn nói đến nhiệm vụ giải thích việc tập kết cán bộ miền Nam ra Bắc. Lê Duẩn cũng cố tình lảng tránh không đề cập đến việc Trung Quốc đã giúp Việt Nam chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954.

32. Xem Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua trang 60, đoạn phía Việt Nam đã nói với Trung Quốc tháng 11-1972: “Việt Nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam. Các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa”. (La vérité…, trang 47.)

33. Một trong những thư ký của Lê Duẩn, Trần Quỳnh, gần đây đã cho lưu hành ở Việt Nam cuốn Hồi ức của ông ta, trong đó có nhiều chi tiết lý thú về đường lối của Lê Duẩn đối với sự phân liệt Trung Xô và sự chia rẽ trong (hàng ngũ cán bộ cao cấp của) Đảng Lao động Việt Nam về vấn đề này trong những năm 1960. Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn, không in ngày tháng, tự xuất bản, dịch giả hiện có một bản.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 21st 2016, 6:15am)


279

Thursday, April 21st 2016, 6:17am

34. Khang Sinh (1903-1975), một trong những chuyên viên hàng đầu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về an ninh quốc gia. Ông ta được Bộ Nội vụ (NKVD) Liên Xô đào tạo trong những năm 1930, và trở thành cố vấn thân cận nhất cho Mao trong việc cắt nghĩa những chính sách của Liên Xô. Khang Sinh cũng từng là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1962, và Ủy viên Bộ Chính trị từ 1969; giữa 1973 và 1975 ông ta là Ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính trị.

35. Xem Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua trang 43, trong đó Việt Nam tuyên bố là Đặng Tiểu Bình đã hứa sẽ coi Việt Nam là ưu tiên số một trong vấn đề viện trợ cho nước ngoài để đổi lấy việc Việt Nam sẽ khước từ mọi viện trợ của Liên Xô. (La vérité…, trang 33.)

36. Xem “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” trang 43. (La vérité…, trang 33) và cả Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

37. Tháng 11-1966, Liên Xô lên án Trung Quốc đã từ bỏ đường lối Cộng sản thế giới đã được thông qua tại các Hội nghị Mascơva 1957 và 1960. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

38. Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua cho biết Mao đã phát biểu như vậy với đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963. Trong sách đã trích dẫn lời Mao nói: “Tôi sẽ làm Chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á.” (La vérité…, trang 9).

39. Đoạn này có thể dịch (sang tiếng Anh) là “và tôi sẽ đánh bại cả các anh nữa” hoặc “tôi có thể đánh bại cả các anh”.

40. Đối với dịch giả (Christopher E. Goscha), chỗ này không được rõ là Lê Duẩn muốn nói tới ai khi dùng chữ “quân sự”. (Ngược lại, đối với người dịch ra tiếng Việt thì rõ ràng trong ngôn cảnh này ông nói là tôi mời một số anh em bên quân đội…, một cách nói thân mật, thường dùng thời đó nhưng tất nhiên hàm chỉ một số tướng tá cao cấp).

41. Đây có lẽ dựa vào lời Đại sứ Trung Quốc tại Máscơva chuyển cho phía Liên Xô nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày ký kết Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ Trung-Xô. Đại sứ Trung Quốc Phan Tự Lực đã nói với Liên Xô: “Nếu bọn đế quốc dám tấn công Liên Xô, nhân dân Trung Quốc không hề ngần ngại, sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước và cùng với nhân dân Liên Xô vĩ đại… sẽ kề vai sát cánh chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.” Trích từ Donald S. Zagoria, Mạc tư khoa, Bắc Kinh, Hà nội (New York: Pegasus, 1967), trang 139 140.

42. Bành Chân là Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc từ 1951 đến 1969.

43. Lý Cường là Phó Chủ tịch Ủy ban liên lạc kinh tế đối ngoại của Quốc vụ viện từ 1965 đến 1967. Giữa 1968 và 1973, ông là Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, và từ 1973 là Bộ trưởng Ngoại thương Trung Quốc.

44. Đây muốn nói tới chuyến đi của Lê Duẩn vào tháng 11-1977.

45. Lê Duẩn quên rằng cho đến tháng 3-1945, thậm chí chỉ với số người ít hơn, Pháp đã có thể cai trị Việt Nam mà không gặp quá nhiều khó khăn.

46. Về cố vấn Trung Quốc, xin xem Qiang Zhai, Trung Quốc và chiến tranh Việt Nam, 1950 1975 (Chapel Hill: Nhà xuất bản Viện đại học North Carolina, 2000), và Christopher E. Goscha, “Bối cảnh châu Á của cuộc chiến Pháp-Việt” luận án trình bày tại Trường Cao đẳng thực hành, thuộc Viện Đại học Sorbonne, Paris, 2000, phần Trung Quốc.

47. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp Lê Duẩn thường xuyên ra miền Bắc, nhưng ông thường được cho là vẫn ở lại miền Nam thời kỳ này trong cương vị Bí thư Xứ ủy Nam kỳ, mà sau này đổi thành Trung ương cục miền Nam vào đầu năm 1950. Dịch giả cũng hoài nghi việc Lê Duẩn đi Trung Quốc năm 1952. Hồ Chí Minh thì có, nhưng Lê Duẩn thì không.

48. Về chi tiết này, xin xem chương 6 của cuốn sách này.

49. Điều này khẳng định Đồng chí B cũng chính là “Anh Ba”. Ta biết rằng Anh Ba là bí danh của Lê Duẩn, từ đó suy ra Đồng chí B cũng là Lê Duẩn. Từ những sự kiện được nói đến trong văn bản thì điều này là chắc chắn, và cuốn Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn, cũng khẳng định điều này.

50. Ở đây có thể ám chỉ Hoàng Văn Hoan. (Để có cái nhìn toàn cảnh hơn) về một quan điểm cần tranh luận, xin tham khảo thêm cuốn Giọt nước trong biển cả (Hồi ức về một cuộc cách mạng) (Bắc Kinh: Nhà xuất bản Tin Việt Nam, 1986).

51. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

52. Đây có lẽ muốn nói bóng gió tới Liên Xô (và khối Đông Âu).

53. Hình thức chiến tranh này đã từng có ở Trung Quốc và những nơi khác trong hoàn cảnh chiến tranh du kích.

54. Điều này đã diễn ra vào tháng 6-1960. Để biết thêm về lập trường của Lê Duẩn trong vấn đề này xin xem Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn. Sau đại hội Đảng Cộng sản Ru ma ni tháng 6-1960, Liên Xô đã tổ chức một cuộc họp tại chỗ các trưởng đoàn đại biểu những nước có mặt. Trong buổi họp đó Khơ rút xốp đã phê phán Trung Quốc nặng nề, đặc biệt là Mao, người mà ông ta cho là “giáo điều” vì những quan điểm của Mao về vấn đề chung sống hòa bình. Xem Adam B. Ulam, The Communists: The Story of Power and Lost Illusions 1948-199 (New York: Macmillan, 1992), trang 211.

55. Dường như đây là một cái tát vào mặt Hoàng Văn Hoan mà không phải ai khác.

56. Đây có lẽ muốn nói tới những nhà lãnh đạo khác đang có mặt nghe Lê Duẩn nói chuyện, và có thể là một chỉ hiệu rằng người đồng chí thân Trung Quốc đã nói ở trên không có mặt trong buổi nói chuyện này. Xem thêm Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn.

See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/04/17/do…h.OrdVboyX.dpuf

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 21st 2016, 6:30am)


280

Sunday, April 24th 2016, 6:12am

Ai đã gây ra biến cố 30.04.1975 ?
Phạm Trần Hoàng Việt
tháng tư 2010 & 2013

Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ trên 35 năm qua và chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" ( “Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference” ) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 quy tụ gần 200 nhân vật với thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland, Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc Lung... cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc: Ai đã gây ra biến cố 30.04.1975?

Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo, đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam. Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy ra biến cố 30.04.1975.


Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm 1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết ( bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam! ) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH.
Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan ( Ireland ) và sắc tộc gốc Do Thái ( Israel ).

- Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều lần thắng cử chức vụ Tổng Thống.

- Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp, lập pháp cũng như tư pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger ( một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon ) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ( "đi đêm"! ) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực Do Thái.

Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow... với tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3 triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới ( World Jewish Congress - từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái ).
Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại trưởng Albright

Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao văn Luận (1908 - 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam.

Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 ( mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ! ), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn !).

Như vậy biến cố 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua bè đảng Kissinger.

Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt lâu năm tại hải ngoại và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư Huy hoàn toàn đúng.

Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ Lan mà trong đó có Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton,Reagan, Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan).
(xem website: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Irish_Americans)

Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái và 33 Dân Biểu
Liên Bang gốc Do Thái.

(xem http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Jew…oliticians#List)

Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây như:

- trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái ( so sánh trước đây chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao Quang Ánh ! ).
- trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton...
- trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT Nixon và thời TT Ford.
- trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert Rubin dưới thời TT Clinton.
- trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan.
- trong Ngân Hàng Trung Ương ( Fed ) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay.

Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình và điện ảnh... Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trọng nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg, Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford...
(xem website: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Jew…an_entertainers)

Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái. Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm. Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy ( Pháp ) & Thủ Tướng Đức Schmidt ( Đức ) trước đây đều gốc Do Thái nên không bao giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại Trung Đông. Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ .

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 24th 2016, 6:48am)


16 users apart from you are browsing this thread:

16 guests

Similar threads