You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

281

Sunday, April 24th 2016, 6:52am

Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam ?

Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên bước đường lưu vong.
Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel ( Thụy sĩ ) vào năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine. Thế Chiến thứ 2 và với
sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần 2,000 năm lưu vong.

Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau này.

Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm "lá bùa hộ mạng". Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết ( veto ) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết ( phản bội ! ) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan... , nhưng luôn luôn "sống chết" hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích (mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo ( 1,3 tỷ ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.

Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một.

Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.

Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên 1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ quá mức của ông Averell Harriman ( đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại Giao Mỹ ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891 - 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng miền Bắc kiểm soát được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam vào 30.4.1975.

Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson ( dân Texas ! ) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.

Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ... bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan ! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác. Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày ( từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966 ) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ.

Sau chuyến "hành quân" chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được ( rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy ! ) . Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau này vẫn còn có những ký giả và bình luận gia Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này, mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần "khai tử" miền Nam !

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 24th 2016, 7:01am)


282

Sunday, April 24th 2016, 7:02am

Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968 phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller ( Thống đốc New York ) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng thắng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh.

Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann ( 1925 – 1999 )... Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam. Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Cộng tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.

Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo miền Nam, thành công trong việc ép buộc ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam. Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichman của T.T Nixon như sau:

"Tôi nghĩ rằng nếu họ ( chánh phủ miền Nam ) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất".

Tương tự , Kissinger đã trấn an T.T Nixon là:


“ Huê Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”.

Bởi vậy biến cố 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.

Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.

Kết luận

Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam. Bởi vậy mới xảy ra biến cố 30.4.1975 . Từ thời điểm đó đến nay Do Thái ung dung tồn tại được, vì không những " độc quyền " hưởng trọn vẹn sự yểm trợ hữu hiệu của Hoa Kỳ, mà còn khôn khéo tạo được mâu thuẩn chia rẻ để xô đẩy siêu cường số 1 này phải ra tay đối phó với kẻ thù Hồi Giáo của mình.

Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miền Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang tiếng bài Do Thái ( Anti-Semitism ) . Cho nên đến nay dư luận vẫn còn bị lường gạt . Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả ( thí dụ : Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 ) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm 1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi miền Nam (chịu thua ! ) vì đang câu con cá to hơn ( “has bigger fish to fry” ) . Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi Kssinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến Tranh . Về phía miền Bắc, họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình trạng " Đồng Minh tháo chạy " ( từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng !) bỏ rơi miền Nam . Thực tế, nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì miền Bắc sớm thắng trận. Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ ( đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản ! ) để không thể dể dàng sụp đỗ như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975.

Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do Thái ( một phần ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh " Về miền đất hứa / Exodus " của tác giả Leon Uris ) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của Khối Ả Rập khổng lồ . Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm " Bài học Israel ( Do Thái ) " .

Nhưng thực tế chính trị cho thấy thủ đoạn & tham vọng xâm chiếm đất đai láng giềng của Do Thái sau khi tái lập quốc, nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu độc của thế lực Do Thái khiến xảy ra biến cố 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam mà nay đang dẩn tới đại họa mất nước vào tay Trung Cộng.

Chúng ta hy vọng rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận đã đi bước tiên phong tiết lộ những bí ẩn về biến cố 30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm nghiên cứu khai triển tích cực để dư luận Việt Nam và thế giới mai sau không còn bị lường gạt nữa .
Mong thay !

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 24th 2016, 7:15am)


283

Monday, April 25th 2016, 7:08am

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái
Posted on 20/10/2015 by The Observer
Tác giả: Đặng Hoàng Xa

“Mọi sự đều sẽ hết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các thế lực khác sẽ qua đi, nhưng Họ vẫn còn. Bí mật trong sự bất tử của Họ là gì ?” – Văn hào Mark Twain

Cộng đồng người Do Thái lưu vong

Có thể nói cuộc xâm lăng Vương quốc Israel phương Bắc của người Assyria vào năm 720 TCN đã khởi đầu phong trào lưu vong (Diaspora) của người Do Thái sang các vùng đất khác trên thế giới, hình thành nên các Cộng đồng Do Thái lưu vong. Phong trào lưu vong càng phát triển mạnh vào cuối thế kỷ thứ nhất sau công lịch sau cuộc nổi dậy của người Do Thái chống lại người La Mã bị thất bại và quân La Mã phá hủy và san bằng Jerusalem vào năm 70. Có người bị ép buộc di cư. Có người tự ý. Dân tộc Do Thái bắt đầu cuộc đời trôi nổi, lang thang khắp Trung Đông, Địa Trung Hải và châu Âu qua nhiều thế kỷ.

Sự kiện Ngôi Đền Jerusalem bị phá hủy lần thứ hai vào năm 70 là một cú sốc lớn đối với người Do Thái lưu vong đến tận xương tủy. Giữa năm 115-117, người Do Thái một lần nữa tiếp tục nổi dậy chống lại kẻ cai trị La Mã và người láng giềng Hy Lạp ở một vài trung tâm lớn bên ngoài vùng đất Palestine: Alexandria, Cyprus, Mesopotamia, và Bắc Phi. Tất cả các cuộc nổi dậy này đều bị dập tắt, riêng ở Alexandria thì bị đàn áp dã man. Người Do Thái lưu vong hiểu một điều là họ cần có một cái đầu lạnh nếu dân tộc và đức tin Do Thái muốn được sống còn.

Bị lấy đi mất Ngôi Đền và không còn nơi thờ cúng, Sách Talmud được các Rabbis thời lưu vong thu thập và soạn thảo trong khoảng thời gian thế kỷ 3-5 đã trở thành ‘hiến pháp bỏ túi’ cho người Do Thái trong cuộc sống lưu đày. Sách Talmud đã khích lệ những tranh luận bác học, nghiên cứu và trở thành một kho tàng độc đáo về phong tục tập quán, nhân chủng, lề luật, lịch sử và văn chương của người Do Thái. Dần dà theo thời gian, Babylon đã thay thế Galilee để trở thành tâm điểm văn hóa và tôn giáo của người Do Thái.

Một điểm đặc biệt trong hành trình của người Do Thái lưu vong là, ở bất cứ nơi nào họ lưu lạc đến, trong bất cứ hoàn cảnh nào, vật quý nhất mà họ mang theo mình không gì khác là cuốn Kinh Thánh cùng những lời Thánh Vịnh của Vua David:

Thiên Chúa khôi phục linh hồn tôi
Thiên Chúa dẫn tôi đi trên đường công chính vì danh Ngài
Dù có bước qua thung lũng bóng tối của cái chết
Tôi cũng không sợ cái ác vì Thiên Chúa đang ở với tôi…

Kinh Thánh Hebrew đối với người Do Thái là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, giúp họ giữ được bản sắc trong giấc mơ trở về Đất Thánh.

Trong năm thế kỷ đầu tiên sau công lịch, trung tâm sinh hoạt của người Do Thái chuyển từ Vùng đất Israel sang Mesopotamia, đặc biệt ở thủ phủ Babylon. Trong những thế kỷ tiếp theo, họ di chuyển xa hơn tới các quốc gia Trung Đông, rồi tới vùng vành đai Địa Trung Hải, châu Âu, Bắc Phi, Mỹ. Trung tâm sinh hoạt của người Do Thái tiếp tục di chuyển từ Babylon sang Tây Ban Nha, rồi Ba Lan. Ở bất cứ đâu, người Do Thái cũng hình thành nên những cộng đồng nhỏ rải rác. Trong khi họ tồn tại là một tôn giáo và một dân tộc, họ không thiết lập bất kỳ một thể chế chính trị nào.

Từ thế kỷ 13 về sau, người Do Thái giáo chịu sự tẩy chay, bài trừ ở hầu hết ở mọi quốc gia châu Âu. Đến thế kỷ 18, ở mọi nơi người Do Thái giáo bị dồn vào những khu ổ chuột rất tù túng và không ánh sáng gọi là ghetto. Nhiều cuộc thảm sát người Do Thái giáo tiếp tục xảy ra.
Tất cả những yếu tố này đã định hình lịch sử Do Thái trong gần hai ngàn năm tiếp theo. Trong khoảng thời gian dài đó, người Do Thái đã cho thấy khả năng phục hồi và kỷ cương đầy ấn tượng. Do Thái giáo được củng cố mạnh trong các cộng đồng Do Thái lưu vong.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 25th 2016, 7:19am)


284

Monday, April 25th 2016, 7:26am

Cộng đồng Do thái lưu vong sau năm 70CN

Trước Công nguyên, do kết quả những cuộc xâm lăng, người Do Thái bị lưu đầy sang vùng đất Mesopotamia, đặc biệt là thủ phủ Babylon, rồi Ai Cập. Năm 70 CN, Ngôi Đền Jerusalem bị san bằng, hàng ngàn người Do Thái bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ và bị lưu đầy phân tán đi khắp các miền của Đế quốc La Mã. Vào thời gian này có khoảng bảy triệu người Do Thái cư ngụ bên trong biên giới của Đế quốc La Mã, chiếm 10% dân số, và một triệu người sống bên ngoài biên giới chủ yếu ở Babylon.

Từ thời điểm này hành trình lưu vong của người Do Thái bắt đầu đẩy mạnh và lan rộng tới mọi vùng đất xa xôi khác trên trái đất, khởi đầu từ Trung Đông, sang vành đai Địa Trung Hải, rồi sau đó tiếp tục lan sang châu Âu, Bắc Phi, Đông Âu, Trung Hoa,… cuối cùng tới Bắc Mỹ.

Sự ra đời của Ki-tô giáo

Vào cuối thế kỷ 1, Ki-tô giáo ra đời và khởi đầu như là một chi nhánh của Do Thái giáo, với Chúa Jesus và các tông đồ của Ngài là những người thực hành Do Thái giáo. Chúa Jesus là người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất. Ki-tô giáo lấy Kinh Thánh, các hình thức thờ phụng, và học thuyết tận thế của mình trực tiếp từ Do Thái giáo.

Vào thời gian này, Hoàng đế La Mã Constantine I có xu hướng thiên về Ki-tô giáo và từng bước làm cho Ki-tô giáo trở thành quốc giáo. Ông đã hợp pháp hóa Ki-tô giáo với Sắc lệnh Milan năm 313.
Năm 315 Constantine lên án người Do Thái là tội đồ trong cái chết của Chúa Jesus, xóa bỏ tội đóng đinh Chúa Jesus lên thánh giá khỏi những người tiền nhiệm của ông. Năm 323 Ki-tô giáo chính thức trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã.

Năm 337 Hoàng đế La Mã Constantius II – con thứ hai của Constantine I và Fausta – ra sắc lệnh đặt Do Thái giáo ra ngoải vòng pháp luật, cấm người Do Thái làm chủ nô lệ đối với người không phải Do Thái, cấm hôn nhân giữa người Do Thái và người Ki-tô giáo, cấm các Rabbis hội họp.

Trong khi một số các Hoàng Đế La Mã khác vẫn ủng hộ quyền thực hành tôn giáo của người Do Thái, các giáo sĩ Ki-tô giáo luôn tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng của Do Thái giáo bằng cách đòi tất cả người Do Thái giáo cải đạo sang Ki-tô giáo. Họ có cảm xúc mạnh về Palestine, nơi mà Chúa Jesus đã ra đời và bị đóng đinh trên thánh giá.

Trong những thế kỷ đầu sau công nguyên, cuộc sống của người Do Thái tại Palestine chịu nhiều khó khăn và dần dần suy tàn. Vào cuối thế kỷ 6, tại Palestine chỉ còn có 43 cộng đồng người Do Thái, chủ yếu là ở vùng Galilee và thung lũng Jordan. Người Do Thái bắt buộc phải di chuyển trung tâm sinh hoạt sang các vùng khác bên ngoài Palestine.

Mặc dù sống lưu lạc, ở những nơi này, các hoạt động của người Do Thái giáo trong việc nghiên cứu, thảo luận, bổ xung các điều luật, giới răn, và biên soạn Talmud được diễn ra rất mạnh mẽ. Cuốn Sách Talmud đồ sộ của cộng đồng Do Thái Babylon được hoàn thành vào thời gian này – khoảng năm 500 CN, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tâm linh, đạo đức và nề nếp sinh hoạt của người Do Thái trên toàn thế giới cho đến tận ngày nay.

Năm 622, Muhamad sáng lập ra Hồi giáo (Islam) ở bán đảo Ả Rập. Năm 636, người Ả Rập chinh phục Palestine và các khu vực khác ở Tây Á, lập ra Đế quốc Ả Rập. Dưới sự thống trị của người Ả Rập, người Do Thái phải nộp thuế thân và thuế đất để bảo vệ tính mạng, của cải và sự tôn giáo của mình. Cuộc sống người Do Thái rất khó khăn. Từ thế kỷ 8 cho đến 12, nhiều người Do Thái ở Mesopotamia và Ba Tư di chuyển bên trong lãnh thổ các vương quốc Hồi giáo, nhất là Yemen, Syria, Lebanon, Ai Cập, Maghreb. Những người khác di chuyển đến định cư ở bán đảo Iberia[1] rồi Sicily.
Những làn sóng di cư Do Thái này tạo ra các cộng đồng Do Thái thành thị nhỏ khắp thế giới. Nếu lấy bản đồ thế giới, gắn đinh ghim đỏ lên những nơi có người Do Thái sinh sống năm 1170 thì tấm bản đồ đó sẽ rực một màu đỏ từ Anh, bán đảo Iberia cho tới Ấn Độ.

Đây là khoảng thời gian được gọi là ‘Thời kỳ Hoàng Kim’ (Golden Age) của lịch sử Do Thái trong đời sống lưu vong. Việc làm ăn buôn bán của người Do Thái được phát triển mở mang, tất cả đều có mức sống cao, giáo dục cho tầng lớp trẻ rất được quan tâm và để lại một di sản trí tuệ bền vững và xuyên suốt qua nhiều thế kỷ sau này cho Do Thái giáo. Về sau, với sự sa sút của những khu vực này do cuộc chinh phạt Trung Đông của người Mông Cổ từ những năm 1220 tới những năm 1250, người Do Thái chuyển hướng mở rộng di cư sang Bắc Phi và các nước khác của châu Âu. Việc này kéo dài cho đến tận thế kỷ 13-15.

Do ảnh hưởng của chính sách bài Do Thái tại châu Âu cùng các cuộc Thập Tự Chinh [1099-1291], rồi bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492… người Do Thái lại tiếp tục hành trình lưu vong của mình sang các vùng đất thuộc Đế chế Ottoman và các quốc gia thuộc Đông Âu.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 25th 2016, 7:34am)


285

Monday, April 25th 2016, 7:36am

Các cộng đồng Do Thái ở Địa Trung Hải

Bên ngoài Trung Đông và Ai Cập, các cộng đồng Do Thái đã đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt của vùng lưu vực Địa Trung Hải, một vị thế mà họ vẫn còn duy trì được ngay cả sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ cuối thế kỷ 5. Đó là những khu vực xa xôi ở Marốc và Tunisia – đặc biệt những thành phố của Kairouan; và đảo Djerba. Các nơi khác bao gồm các vùng đất bao quanh Địa Trung Hải thuộc Đế chế Ottoman như Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Anatoia, miền Nam nước Pháp, và Cyrenaica – vùng bờ biển phía Đông của Libya. Không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm của các đế chế, người Do Thái tại Libya, Syria, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo nên một mạng lưới buôn bán hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng dọc khắp Địa Trung Hải.

Người Do Thái ở Hy Lạp

Tại Hy Lạp, các bằng chứng cho thấy rằng người Do Thái đã có mặt ở đây khoảng năm 300 TCN; một vài nhóm có thể đã đến đây sớm hơn trong thời kỳ lưu đầy Babylon. Theo thời gian, họ đã hình thành nên một cộng đồng gọi là Romaniotes hoàn toàn khác với người Do Thái Sephardi[2] và Ashkenazi[3]. Họ có phong tục địa phương riêng và nói một ngôn ngữ riêng gọi là Yevanic, một thứ thổ ngữ Hy Lạp viết bằng chữ Hebrew. Một khách du lịch Do Thái thời tiền trung cổ tên là Benjamin viết rằng cộng đồng Romaniotes lớn nhất là ở Thebes, ở đó người Do Thái nổi tiếng với nghề nhuộm vải và sản xuất quần áo lụa thủ công. Họ cũng sống ở các đảo Corfu và Aegina, và ở Corinth, Athens và Thessaloniki là nơi sau này trở thành thành phố Do Thái Hy Lạp lớn nhất khi người Do Thái Sephardi tràn đến từ Tây Ban Nha sau khi bị trục xuất vào năm 1492.

Người Do Thái ở Tây Ban Nha – Thời kỳ Hoàng kim [thế kỷ 8-12]

Khi người La Mã xâm lăng Bán đảo Iberia vào năm 218 TCN và bắt đầu định cư vào năm 171 TCN, họ đã chạm trán với quần thể đa sắc tộc ở đây gồm người Celt, Phoenicia, Carthaginia, và cả các gia đình Do Thái – những người nói rằng họ là hậu duệ của người tị nạn Do Thái đến đây từ thời kỳ Ngôi Đền thứ Nhất. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 1 sau CN, sau khi Ngôi Đền Jerusalem bị Đế quốc La Mã phá hủy lần thứ hai, thì người Do Thái mới bắt đầu thực sự rời bỏ Palestine, mở rộng lưu vong đến những vùng lãnh thổ khác thuộc Đế quốc La Mã, đặc biệt là các quốc gia trong vành đai Địa Trung Hải trong đó có Tây Ban Nha.

Một điểm đặc biệt ở Tây Ban Nha là, qua nhiều thế kỷ chuyển đổi từ giai đoạn La Mã, sang Hồi giáo, rồi Ki-tô giáo, người Do Thái luôn giữ vai trỏ đứng đầu trong đời sống văn hóa, xã hội và kinh tế của Tây Ban Nha. Người Do Thái Tây Ban Nha gọi họ là Sephardim phỏng theo tên Sepharad – tên gọi của một địa danh trong Kinh Thánh. Họ nói một thứ thổ ngữ Ả Rập trong các vùng của người Hồi giáo, và nói tiếng Judeo-Spanish gọi là Judezmo hoặc Ladino trong các vùng của người Ki-tô giáo. Cả hai thứ tiếng này được viết bằng chữ cái Hebrew.

Cuộc xâm lăng Bán đảo Iberia vào những năm đầu thế kỷ 8 của người Ả Rập và Berber, dưới ngọn cờ Hồi giáo, chính là chìa khóa đã mở bung sự sáng tạo của người Do Thái ở Tây Ban Nha. Nhà cầm quyền Hồi giáo đã mang đến sự kích thích tìm hiểu tri thức, sức sống kinh tế và sự nhạy cảm thẩm mỹ – những thứ ảnh hưởng mạnh mẽ đến người Ki-tô giáo và người Do Thái, mở đầu cho ‘Thời kỳ Hoàng kim’ của người Do Thái Sephardi trong đời sống lưu lạc. Thời kỳ này đã sản sinh ra biết bao nhiêu nhà thông thái, ngôn ngữ học, khoa học, vật lý, các nhà ngoại giao, thiên văn học và các nhà huyền môn Do Thái.

Người Ả Rập thống trị Bán đảo Tây Ban Nha cho đến thế kỷ 11 khi người Ki-tô giáo giành lại được bán đảo này, và vào năm 1096 Tòa thánh Vatican khởi động các cuộc Thập Tự Chinh kéo dài từ châu Âu sang đến tận Jerusalem. Giáo Hoàng thúc giục các nhà cầm quyền Ki-tô giáo tấn công người Do Thái giáo và người Hồi giáo ở châu Âu và thu hồi các vùng thánh địa ở Palestine đang nằm dưới quyền kiểm soát của người Hồi giáo. Các cộng đồng Do Thái giáo và Hồi giáo ở khắp châu Âu bị Thập Tự Quân càn quét dữ dội đến nỗi nhiều người Do Thái giáo phải đào thoát sang các quốc gia khoan dung hơn như Ba Lan hoặc các quốc gia Hồi giáo.

Đầu thế kỷ 14, ở Tây Ban Nha lại dấy lên phong trào bài Do Thái. Những bách hại và cưỡng bức cải đạo tiếp tục tăng lên. Người Do Thái nếu không cải đạo sang Ki-tô giáo sẽ bị tử hình hoặc bị tước đoạt quyền công dân. Một bộ phận những người Do Thái giàu có đã tự nguyện chuyển sang Ki-tô giáo; một số người bị ép phải cải đạo nhưng vẫn bí mật duy trì Do Thái giáo – những người này gọi là Marranos. Để thanh trừ các Marranos, giáo hội Ki-tô Tây Ban Nha lập ra tòa án phán xét dị đoan nhằm tiến hành phán xử các Marrano bằng những biện pháp nghiệt ngã từ roi vọt đến thiêu sống. Trong thời gian này có khoảng 40 vạn người Do Thái bị phán xét trong đó ba vạn người bị tử hình. Áp lực tiếp tục tăng lên cho đến năm 1492 khi Vua Ferdinand của Tây Ban Nha ra sắc lệnh trục xuất người Do Thái giáo và Hồi giáo khỏi Tây Ban Nha. Vào giữa thế kỷ 15, sự bức hại của Tây Ban Nha đối với người Do Thái tăng đến đỉnh điểm và tàn khốc, dẫn tới phong trào bài Do Thái khắp châu Âu. Hàng ngàn người Do Thái một lần nữa lại phải bỏ Tây Ban Nha trốn sang Ý, Marốc (Bắc Phi), Bán đảo Balkan[4], Thổ Nhĩ Kỳ của Đế chế Ottoman, và Ba Lan…

Xâm nhập sâu vào lục địa châu Âu và Đông Âu

Người Do Thái đã sớm xâm nhập vào lục địa châu Âu từ thế kỷ 1 theo chân những trại lính của Đế quốc La Mã. Cùng với mạng lưới buôn bán dọc khắp vành đai Địa Trung Hải, người Do Thái đã sớm thiết lập nên những điểm buôn bán ở những thành phố tiền đồn của Đức như Bonn, Triers, và Cologne. Những người Do Thái này được cho là những người Ashkenazi đầu tiên đã đóng góp tới 90% dân số Do Thái ngày nay.
Tên gọi Ashkenazi lấy từ một địa danh trong Kinh Thánh và được sử dụng trong thời kỳ Trung cổ ám chỉ những vùng đất của Đức và miền Bắc nước Pháp.
Từ đây người Do Thái bắt đầu chuyển dần di cư đến các quốc gia khác của châu Âu.
[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 25th 2016, 7:47am)


286

Tuesday, April 26th 2016, 3:51am

Người Do Thái ở Ba Lan

Người Do Thái đến Đông Âu khá muộn, mãi đến tận thế kỷ 8. Một trong những điểm dừng khá đặc sắc là Ba Lan. Trong thời gian này, các nhà cầm quyền Slavơ đang muốn bắt kịp người láng giềng Đức bên cạnh và họ đã tìm thấy câu trả lời ở người Do Thái. Vì thế ngay từ ngày đầu khai sinh của nhà nước Ba Lan vào năm 966, người Do Thái đã đóng một phần sống còn trong câu chuyện Ba Lan, mặc dù sự hiện diện của họ ban đầu chỉ là nhất thời.

Đến thế kỷ 16-17, sau khi bị sắc lệnh trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492, rồi cùng với phong trào bài Do Thái ngày càng gia tăng trên khắp châu Âu, nhiều người Do Thái ở Tây Âu đã chạy sang Đông Âu, Trung Âu và Ba Lan, ở đó họ đã được hấp thu vào cộng đồng Do Thái Ashkenazi.

Vào cuối thế kỷ 16, người Do Thái Ashkenazi Ba Lan trở thành cộng đồng Do Thái lớn nhất thế giới, ước tính với hơn nửa triệu người. Họ thường xuyên cầu nguyện ở các Hội đường Do Thái giáo, tự do nghiên cứu Torah và Talmud, và nói tiếng Yiddish, một thứ tiếng Đức cổ địa phương trộn lẫn tiếng Hebrew. Người Do Thái tại Ba Lan có được những may mắn này là nhờ vào chính sách khoan dung tôn giáo và quyền tự chủ theo luật định xã hội của Ba Lan trong một thời gian dài. Điều này đã kết thúc với sự chia cắt của Ba Lan bắt đầu vào năm 1772, và đặc biệt, với sự kỳ thị và đàn áp người Do Thái dưới thời Đế chế Nga Hoàng.

Người Do Thái ở Nga

Các vùng lãnh thổ rộng lớn của Đế quốc Nga có một thời là nơi cư ngụ của một quần thể người Do Thái lớn nhất trên thế giới. Trong những vùng lãnh thổ này các cộng đồng Do Thái đã hưng thịnh và phát triển nhiều truyền thống thần học và văn hóa khác biệt nhất của Do Thái giáo hiện đại, trong khi cũng phải đối mặt với những thời kỳ mang nặng chính sách bài Do Thái và khủng bố tàn bạo. Do Thái Nga bao gồm một số sắc dân khác nhau, chủ yếu là Ashkenazi, ngoài ra là Do Thái Mountain, Crimean Karaites, Krymchaks, người Do Thái Bukharan, và Do Thái Gruzia.

Sự có mặt của những người Do Thái ở phần châu Âu của Nga có thể được truy ngược trở lại thế kỷ 7-14. Trong thế kỷ 11 và 12, dân Do Thái bị giới hạn trong một khu riêng biệt ở Kiev. Bằng chứng về sự có mặt của người Do Thái ở Moskva lần đầu tiên được tìm thấy trong các biên niên sử của năm 1471. Trong suốt triều đại của Catherine II, người Do Thái bị giới hạn ở những nơi họ có thể sống hoặc phải di cư đến các vùng khác của Nga. Đầu thế kỷ 19 có sự di chuyển của người Do Thái đến Novorossiya[5]. Alexander III tiếp tục tăng cường chính sách bài Do Thái. Một làn sóng tàn sát người Do Thái với quy mô lớn quét qua Ukraine trong năm 1881. Năm 1886, một sắc lệnh trục xuất được ban hành tại Kiev. Hầu hết người Do Thái bị đuổi ra khỏi Moskva vào năm 1891. Một làn sóng tàn sát lớn lại một lần nữa bùng nổ trong những năm 1903-1906. Hơn hai triệu người Do Thái trốn khỏi Nga trong giai đoạn giữa 1880-1920, chủ yếu là sang Mỹ, sau là Bắc Phi.

Làn gió mới từ Bắc Mỹ

Cuối thế kỷ 18, một làn gió mới đến từ Bắc Mỹ đã đem lại hy vọng hồi sinh cho người Do Thái. Ở Bắc Mỹ, quốc gia Hoa Kỳ được thành lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 đã cho ra đời một bản hiến pháp tiến bộ nhất của nhân loại qui định rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một quốc gia ngoại giáo tuyên bố rằng người Do Thái được quyền sống và mưu cầu hạnh phúc như những người khác. Ở nước Pháp, cuộc cách mạng 1789 và tiếp theo là tuyên ngôn nhân quyền được áp dụng gồm cho cả người Do Thái. Người Do Thái được nhận vào các trường đại học Tây Âu và được tham gia vào xã hội Tây Âu ở mọi tầng lớp.

Tuy thế, ở Đông Âu, cuộc sống người Do Thái vẫn không có gì cải thiện. Ở Nga, người Do Thái bị o ép và bị dồn vào các khu định cư Do Thái tối tăm. Những cuộc tàn sát người Do Thái ở Nga năm 1881 đã làm thay đổi sâu sắc lịch sử người Do Thái, dẫn đến sự ra đời của Zionism (Phong trào Phục quốc Do Thái) – một chiến dịch nhằm vận động thành lập một nhà nước Do Thái trên mảnh đất Palestine – và sự phát triển của quần thể Do Thái Hoa Kỳ. Nó cũng gián tiếp dẫn đến Cách mạng Nga. Một cuộc xuất hành lớn từ Đông Âu và đặc biệt là từ Nga diễn ra suốt từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20.

Sự dịch chuyển văn hóa từ Sephardi sang Ashkenazi

Đối với người Do Thái, việc bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492 dường như đã dập tắt một nguồn sáng tưởng như không bao giờ có thể thắp lại được. Tuy nhiên, trong thực tế, đôi khi sự bất hạnh dồn người ta đến những góc chết và chính tại đó cây đời đã lại nảy mầm xanh tươi. Cùng năm này, Columbus khởi hành chuyến thám hiểm đầu tiên vượt Đại Tây Dương đi tìm ‘Tân Thế giới’, mở ra những triển vọng không ai có thể tưởng tưởng trước đó cho các thương nhân. Công nghệ in ấn giúp truyền bá kiến thức dễ dàng hơn trước kia rất nhiều. Và Đế quốc Ottoman cho phép người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha được định cư dọc theo đế chế của họ, kể cả ở Palestine.

Nhìn chung, thời kỳ từ sau 1492 đã chứng kiến những thay đổi lớn trong lịch sử Do Thái: ngọn đuốc văn hóa được chuyển tay từ Sephardi sang Ashkenazi, Ba Lan thay đổi tầm vóc và trở thành trung tâm sinh hoạt lớn nhất của người Do Thái. Rabbi Loew dẫn đầu phong trào phục hưng Do Thái ở Praha (thủ đô Cộng hòa Czech) và tiếng Yiddish phát triển thành một ngôn ngữ. Yiddish, ngôn ngữ của các cộng đồng Do Thái Ashkenazi, trở thành lực đẩy chính cho việc truyền bá thông tin trong khu vực Do Thái Đông Âu. Nó là chất keo đã gắn kết ý nghĩa thế tục của cái gọi là ‘bản sắc Do Thái’.

Những vùng đất mới và cơ hội mới

Cuối thế kỷ 15 đã chứng kiến người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Naples và Nuremberg. Tuy nhiên những cộng đồng Do Thái trẻ đã đâm trồi nảy lộc trên những vùng đất mới. Họ xây dựng trường học, hội đường, khai thác những công nghệ mới và tiếp tục bảo tồn những truyền thống dân tộc. Người Do Thái phát đạt trở lại nhờ tạo ra những mạng lưới buôn bán rối rắm nối các miền đất mới – Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi, Hà Lan, Ba Lan và Litva.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 26th 2016, 4:01am)


287

Tuesday, April 26th 2016, 4:02am

Một điều nghịch lý là những cuộc trục xuất cuối thế kỷ 15 đã dẫn đến sự tiếp xúc giữa người Do Thái Sephardi và Ashkenazi do quyền lợi của cả hai phía. Kết quả là người Do Thái tái định cư lại dọc bờ biển Đại Tây Dương sau nhiều năm vắng bóng, trong khi Đại Tây Dương thay thế Địa Trung Hải là tâm điểm thương mại của châu Âu.

Người Do Thái Sephardi Iberia (Tây Ban Nha) tràn đến các vùng đất có chính sách khá cởi mở và khoan dung với người Do Thái như Ý, Bắc Phi, Bán đảo Balkan, Đông Địa Trung Hải, Thổ Nhĩ Kỳ của Đế chế Ottoman, và Ba Lan, trong khi phần lớn người Do Thái Ashkenazi tại Đức di cư từng nhóm lớn đến Ba Lan. Hợp tác Sephardi-Ashkenazi phát triển ngoạn mục khi Ba Lan trở thành điểm quá cảnh chính cho buôn bán bằng đường bộ mở rộng giữa các vùng đất thuộc Đế quốc Ottoman với Trung và Tây Âu.

Tại lục địa châu Mỹ, năm 1502, trong chuyến thăm đầu tiên tới Tân Thế giới, Columbus đã để lại 52 gia đình gốc Do Thái tại Costa Rica. Năm 1640, người Do Thái đã có mặt và sinh sống yên ổn dọc bờ biển Brazil còn đang dưới quyền Hà Lan. Thành phố Bahia của Brazil thậm chí còn được gọi với biệt danh là ‘The Rock of Israel’ (Tảng Đá của Israel).
Sau khi người Bồ Đào Nha chinh phục Brazil năm 1654, cư dân Do Thái ở đây bỏ chạy đến vùng Surinam và Cayenne gần đó và tới Caribbe.
23 người Do Thái Sephardi của Brazil chạy tới thành phố tên là New Amsterdam lúc đó còn đang dưới quyền của Hà Lan. Ở đó họ thành lập She’arit Israel (Remnant of Israel- Dấu vết của Israel) là hội đoàn Do Thái đầu tiên ở Bắc Mỹ. Thành phố New Amsterdam về sau đổi tên thành New York năm 1665 và được nhượng lại cho Anh quốc vào năm 1674.
Khi người Anh ở Bắc Mỹ tuyên bố độc lập khỏi Anh quốc vào năm 1776, cộng đồng Do Thái ở Bắc Mỹ có khoảng 2000 người.
Một thế kỷ sau đó, trong giai đoạn giữa 1880-1920, bị tàn sát và trục xuất khỏi những thành phố lớn, hơn hai triệu người Do Thái đã trốn khỏi Nga, chủ yếu là sang Mỹ. Tính tổng cộng có ba làn sóng người Do Thái di cư sang Mỹ:
- làn sóng thứ nhất là người Do Thái Sephardi từ Brazil và Hà Lan;
- làn sóng thứ hai là những người Do Thái có học hành từ Đức;
- và làn sóng thứ ba, lớn nhất, là người Do Thái Đông Âu nói tiếng Yiddish, chạy trốn các cuộc tàn sát 1881 của Nga.
Ngày nay, nước Mỹ là ngôi nhà của bảy triệu dân Do Thái, một cộng đồng Do Thái lớn nhất thế giới.

Cũng từ thế kỷ 15, việc phát minh công nghệ in ấn giúp truyền bá kiến thức dễ dàng hơn.
Một sự kiện ấn tượng là Daniel Bomberg, một ki-tô hữu từ Bỉ, đã in toàn bộ Talmud trong khoảng từ 1520-1523 tại Venice và đặt tiêu chuẩn đánh số trang cho Talmud cho mọi thời gian. Tiến bộ kỹ thuật in ấn đã giúp kiến thức Do Thái được lan truyền giống như một ngọn lửa lớn trên thảo nguyên.


Người Do Thái lưu vong ở bốn góc của thế giới

Người Do Thái Ethiopia

Có khoảng 127.000 người Do Thái Ethiopia ngày nay. Từ sau Chiến dịch Moses (1984) và Chiến dịch Solomon (1991) do Nhà nước Israel khởi động đưa người Do Thái Ethiopia về Israel, họ phần lớn hiện đang sống ở Israel. Họ tự gọi họ là Beta Israel (Ngôi nhà của Israel) trong ý nghĩa gần gũi gia đình nhưng vẫn là ‘người lạ’.

Người Beta Israel cho biết họ là con cháu của bộ tộc Dan, một trong 10 bộ tộc thất lạc của Vương quốc Israel phương Bắc vào thế kỷ 10. Một điều không bình thường so với người Do Thái Diaspora khác là người Beta Israel không sử dụng tiếng Hebrew mà lại dùng tiếng Ge’ez của Ethiopia. Sách Thánh của họ, Orit, cơ bản là đồng nhất với những phần đầu của Torah. Họ không biết gì về Talmud, cũng không thực hành các ngày lễ Do Thái giáo như Purim hay Hanukkah.

Người Do Thái của miền Nam Ấn Độ

Người Do Thái Cochin, còn gọi là người Do Thái Malabar, là hậu duệ của người Do Thái Mizrahi[6] và Sephardi. Họ là nhóm người Do Thái cổ nhất ở Ấn Độ, với nguồn gốc có thể là từ thời Vua Solomon. Những người Do Thái Cochin định cư tại Vương quốc Cochin ở Nam Ấn Độ, nay là một phần của bang Kerala. Ngay từ thế kỷ thứ 12, người ta đã đề cập đến người Do Thái Đen (Black Jews) ở miền nam Ấn Độ. Một khách du lịch Do Thái, Benjamin xứ Tudela, khi nói về Kollam (hoặc Quilon – một thành phố cảng ở Ấn Độ) trên bờ biển Malabar, đã viết trong hành trình của ông:


“… khắp hòn đảo, bao gồm tất cả các thị trấn, có vài ngàn người Do Thái. Những cư dân ở đây đều là da đen, và cả người Do Thái cũng vậy. Người Do Thái tốt bụng. Họ biết lề luật của Moses và các đấng tiên tri, cũng hiểu biết đôi chút về Talmud và Halakha”.


Những người này sau đó đã được biết đến như những người Do Thái Malabari. Họ đã xây dựng giáo đường Do Thái ở Kerala vào thế kỷ 12 và 13. Họ được biết đã phát triển Judeo Malayalam, một thổ ngữ của ngôn ngữ Malayalam.

Sau khi bị trục xuất khỏi Bán đảo Iberia vào năm 1492, một vài trong số các gia đình Do Thái Sephardi cuối cùng đã tìm được đường đến Cochin trong thế kỷ 16. Họ được biết đến như người Do Thái Paradesi (hoặc ‘người Do Thái nước ngoài’). Người Do Thái châu Âu vẫn duy trì các kết nối thương mại với châu Âu, và các kỹ năng ngôn ngữ của họ trở nên rất hữu ích. Mặc dù người Sephardi nói tiếng Ladino (hoặc Judeo-Spanish), ở Ấn Độ họ đã học Judeo Malayalam từ những người Do Thái Malabar. Hai cộng đồng này giữ lại sự khác biệt về nhân chủng và văn hóa của họ. Vào cuối thế kỷ 19, một vài người Do Thái Ả Rập, được gọi là Baghdadi, cũng di cư đến miền nam Ấn Độ và tham gia cộng đồng Paradesi.

Sau khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947 và Israel tuyên bố độc lập năm 1948, phần lớn người Do Thái Cochin ở Kerala di cư về lại Israel vào giữa những năm 1950[font='&quot'].[/font]

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 26th 2016, 4:14am)


288

Tuesday, April 26th 2016, 4:16am

Người Do Thái phủ Khai Phong (thuộc tỉnh Hồ Nam – Trung Hoa)

Một du khách Do Thái, Ibn Battuta, khi cập bến cảng Hàng Châu của Trung Hoa vào thế kỷ 13, mô tả là đã chạm trán với một cộng đồng người Do Thái sôi động ở đó. Marco Polo trước đó cũng nói là đã gặp người Do Thái Trung Hoa ở Bắc Kinh vào khoảng năm 1286. Người Do Thái được biết là thường xuyên buôn bán xuôi ngược trên con đường tơ lụa và một vài người trong số đó đã định cư và lấy người Trung Hoa bản địa ở phủ Khai Phong thuộc tỉnh Hồ Nam.

Hầu hết các học giả đều đồng ý rằng một cộng đồng Do Thái đã có mặt ở Khai Phong kể từ triều đại Bắc Tống (960-1127), mặc dù người Do Thái có thể đã đến Trung Hoa từ thời nhà Đường (618-907) hoặc sớm hơn. Khai Phong, khi đó là thủ đô của triều đại Bắc Tống, là một thành phố lớn nằm trên một nhánh của con đường tơ lụa. Người ta dự đoán một cộng đồng nhỏ người Do Thái, rất có thể từ Ba Tư hay Ấn Độ, đã đến theo đường bộ hoặc đường biển, định cư ở thành phố và xây dựng một giáo đường Do Thái gọi là libai si vào năm 1163.

Một số người Do Thái Trung Hoa cho biết họ là hậu duệ của người Do Thái lưu vong tại Babylon vào thế kỷ 6 TCN. Sau này người Do Thái từ Yemen, Ba Tư, và Bukhara ở Trung Á cũng đã đến định cư tại bờ nam của sông Hoàng Hà.

Người Do Thái Mountain (Mountain Jews)

Với một dân số khoảng 101.000 vào năm 2004, người Do Thái Mountain hay người Do Thái Caucasus, còn được gọi là Juhuro, Juvuro, Do Thái Kavkazi hay Do Thái Gorsky là người Do Thái đã từng định cư tại các sườn núi phía đông và phía bắc Caucasus, chủ yếu thuộc Dagestan và Azerbaijan, cũng như Chechnya, Kabardino-Balkaria, Krasnodar Krai – hầu hết là các khu vực người Hồi giáo của Liên Xô cũ.

Cộng đồng người Do Thái Mountain có nguồn gốc Ba Tư thời cổ đại, đến từ Tây Nam Iran và được cho là đã định cư tại Caucasus từ thế kỷ 5. Người ta tin rằng họ đã đến Ba Tư từ thời Israel cổ đại sớm nhất là vào thế kỷ thứ 8 TCN. Giả thiết này khá phù hợp với một truyền thuyết truyền miệng của người Do Thái Mountain, truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, rằng họ có nguồn gốc từ một trong 10 bộ tộc thất lạc vào thế kỷ 8 TCN. Ngôn ngữ của họ, Juhuri, là một ngôn ngữ Tây Nam Iran cổ đại trộn với một thổ ngữ Ba Tư được tích hợp nhiều yếu tố của tiếng Hebrew cổ.

Hầu hết người Do Thái Mountain quay trở về Israel trong quãng thời gian 1970-90. Một số nhỏ định cư ở Moskva và Mỹ.

Người Do Thái ở Marốc

Người Do Thái Berber của Bắc Phi có thể là hậu duệ của các bộ lạc địa phương đã cải đạo sang Do Thái giáo hoặc có hôn nhân với người Do Thái đi theo các đoàn quân La Mã. Khoảng thế kỷ 5 một cộng đồng Do Thái xuất hiện khá phát đạt ở Mauretania thuộc miền Nam của Marốc. Hai thế kỷ sau, những người Do Thái trốn thoát cuộc đàn áp tại Tây Ban Nha đã di cư về đây và gia nhập với họ. Năm 1391, Marốc một lần nữa lại trở thành nơi trú ẩn cho người tỵ nạn Do Thái sau khi các Ki-tô hữu Tây Ban Nha tàn phá khu vực người Do Thái ở Seville. Trong vòng 50 năm sau đó, người Do Thái đã xây dựng được một khu vực riêng có tường bao quanh gọi là mellah, ở Fez. Mellah cũng có ý nghĩa tương tự như ghetto của châu Âu.

Giữa những năm 1950-1970 đa số người Do Thái Berber ở Marốc di cư về Pháp, Mỹ, hoặc Israel.

Người Do Thái ở Nam Phi

Người
Do Thái đến Nam Phi vào những năm 1820 sau khi nước Anh chiếm thuộc địa Cape, và ào ạt hơn với cơn sốt khai thác vàng và kim cương cuối thế kỷ 18. Nhiều người Do Thái Ashkenazi đến từ Litva và Latvia sau năm 1881, và người Do Thái chiếm một con số không nhỏ 23% trong tổng số di dân của Cape trong quãng thời gian 1885-1915.


Người Do Thái ở Úc

Lịch sử của người Do Thái ở Úc bắt đầu với việc chiếm đất làm thuộc địa của Anh ở Úc vào năm 1788. Những người Do Thái đầu tiên đến Úc là tám người tù bị kết án được chuyển đến Vịnh Botany vào năm 1788 tại địa điểm ngày nay là Sydney. Trong điều tra dân số Úc năm 2011 có 97.335 người Úc được xác định là người Do Thái, chiếm 0,3 phần trăm dân số Úc. Phần lớn là người Do Thái Ashkenazi, nhiều người trong số họ là những người tị nạn và những người sống sót Holocaust đến trong và sau Thế chiến II. Do Thái giáo là một tôn giáo thiểu số tại Úc.

Người Do Thái ở Nam Mỹ

Những thương nhân và dân buôn lậu Bồ Đào Nha tại Rio de la Plata chắc chắn bao gồm một vài chàng Do Thái Sephardi, nhưng người Do Thái Pháp mới chính là những người đã thành lập nên cộng đồng Do Thái đầu tiên của Argentina sau khi quốc gia này giành được độc lập năm 1810. Làn sóng di cư sau 1881 từ ‘Rusos’ (Nga) đã nâng tỷ lệ người Ashkenazi của quần thể Do Thái ở đây lên 80%, phần còn lại là từ Marốc.

Tiếp theo đó, Hiến pháp tự do 1824 và tình trạng buôn bán cao su rất sôi động đã khiến Brazil trở thành điểm đến lớn thứ hai tại châu Mỹ Latinh cho người Do Thái. Vua Mexico Maximilian I khuyến khích người Do Thái Đức đến với Mexico, và người Do Thái Sephardi đã rời bỏ Đế chế Ottoman ốm yếu để đến làm lại cuộc đời của họ ở lục địa này.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 26th 2016, 4:23am)


289

Tuesday, April 26th 2016, 4:26am

Chú Thích:
[1] Bán đảo Iberia (Iberia) nằm ở cực Tây Nam châu Âu, được bao quanh bởi Địa Trung Hải về hướng Đông và Nam, và bởi Đại Tây Dương về hướng Tây và Bắc. Dãy núi Pyrenees làm thành biên giới Đông Bắc của bán đảo. Gibraltar, điểm cực Nam của bán đảo, được ngăn cách với châu Phi bởi eo biển cùng tên. Đây là bán đảo lớn nhất châu Âu với 582 860 km². Bán đảo Iberia gồm có các quốc gia và vùng lãnh thổ như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Andorra và Gibraltar.

[2] Sephardi Jews hay Sephardic jews hay Sephardim: nhóm người Do Thái có tổ tiên sống ở Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha.

[3] Ashkenazi Jews hay Ashkenazic Jews hay Ashkenazim: nhóm người Do Thái gốc Đức sống trong các cộng đồng ở Trung và Đông Âu mà hiện nay là miền Bắc nước Pháp, Đức và Thụy Sĩ.

[4] Bán đảo Balkan là một khu vực địa lý của khu vực Đông Nam châu Âu. bao gồm toàn bộ hoặc một phần của Albania, Bosnia và Herzegovina, Bulgaria, Croatia, Hy Lạp, Kosovo, Cộng hòa Macedonia, Montenegro, Serbia, Slovenia, và phần châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ.

[5] Novorossiya là một thuật ngữ lịch sử của Đế chế Nga biểu thị một khu vực phía bắc của Biển Đen (nay là một phần của Ukraine).

[6] Mizrahi là những người Do Thái đến từ Trung Đông và Bắc Phi.

290

Tuesday, April 26th 2016, 5:39am

Những gương mặt Do Thái nổi bật trong giới lãnh đạo đảng cộng sản Tàu
Nguyễn Trọng Dân (Danlambao)

Khó có thể ngờ được Sidney Shapiro, một người gốc Do Thái sanh vào ngày 23 tháng 12 năm 1915 tại Brooklyn, New York của Hoa Kỳ lại có thể là đại biểu của Quốc Vụ Viện Trung Cộng, và là một đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản Trung Quốc!

Từng là một người lính bộ binh Mỹ chiến đấu tại Trung Quốc thời đệ nhị, Sidney Shapiro trở lại Trung Quốc năm 1947 và sau đó phụ trách báo chí tuyên truyền một chiều cho Trung Cộng in bằng tiếng nhiều ngôn ngữ. Ông trở thành một đảng viên Cộng Sản cao cấp tại Trung Quốc bất chấp những căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng từ chiến tranh Triều Tiên lẫn chiến tranh Việt Nam xảy ra từ năm 1951 đến năm 1975.

Ngạc nhiên hơn nữa, Sidney Shapiro không phải là người gốc Do Thái duy nhất có thể trèo cao trong đảng Cộng sản Trung Quốc, bên cạnh ông còn có nhiều người gốc Do Thái khác như Israel Epstein. Sanh tại Warsaw, Ba Lan năm 1915, gia đình Israel Epstein dời sang Trung Quốc sinh sống năm 1917. Israel Epstein trở thành một người viết báo và sau đó, gia nhập đoàn quân của Mao ngay từ những ngày đầu.

Epstein có trở về Hoa Kỳ sanh sống khoảng vài năm sau khi đệ nhị thế chiến kết thúc nhưng sang năm 1951 thì ông trở lại Trung Cộng và làm việc tại tòa báo tuyên truyền của Trung Cộng mang tên "China Today” cho đến ngày ông về hưu khi đã 70 tuổi. Ông cũng là chủ bút hay tổng biên tập của tạp chí này cho đến ngày về hưu. Epstein là một thành viên trong nội bộ lãnh đạo Trung Cộng cho đến ngày ông mất.

Kinh hoàng hơn hết, chương trình kinh tế "Thời Kỳ Đại Nhảy Vọt " do Mao chủ xướng đem đến đói kém cùng cực và chết chóc cho gần sáu mươi triệu người Trung Quốc lại do chính Virginius Frank Coe (1907 1980), một cựu viên chức quản lý bộ Ngân Khố Hoa Kỳ gốc Do Thái cố vấn. Mao cực kỳ tin tưởng nơi ông và khen ngợi khả năng vạch định chiến lược của ông.

Khi còn làm việc ở bộ Ngân Khố Hoa Kỳ, Frank Coe đã vận động và thuyết phục Tổng Thống Franklin Roosevelt từ bỏ ý định cho chính phủ Tưởng Giới Thạch mượn một khoản tiền tính trên vàng trị giá khoản 200 triệu Mỹ kim thời giá 1943 khiến họ Tưởng bị đuối sức không thể vừa chống Nhật, vừa diệt Mao mà phải hợp tác với Mao sau đó để chống Nhật.

Hành động này của Frank Coe cũng khiến kinh tế của Trung Hoa Dân Quốc không đủ khả năng bình ổn lạm phát, gây bất ổn xã hội và tạo cơ hội cho phe Cộng sản hoạt động mạnh trở lại.

Frank Coe rời Hoa Kỳ trở lại Trung Quốc vào năm 1958 sau khi bị FBI tình nghi những quan hệ ngầm của ông với thế giới Cộng Sản. Ông cũng bị trục xuất khỏi Quỹ Tiền Tệ Quốc-tế IMF trước đó do những tình nghi này.

Sự thật bên trong có phải như vậy hay không hay chỉ là cái cớ để ông trở lại Trung Quốc nhằm đưa mối liên hệ giữa giới tài phiệt Do Thái với Cộng đảng Trung Quốc mỗi lúc mổi gần hơn vẫn còn là một nghi vấn cho giới điều tra.

Giống như Sidney Shapiro và Israel Epstein, Coe là một thành viên quan trọng trong nội bộ lãnh đạo Trung Cộng cho đến ngày ông mất. Không những Mao mà cả Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân rất kính nể lắng nghe ý kiến của ông.

Đề cập đến Frank Coe mà không đề cập đến Solomon Adler, một người Do Thái khác cũng làm ở bộ Ngân Khố Hoa Kỳ hổ trợ Trung Cộng là một sự thiếu sót. Adler từng làm việc tại Trung Hoa trong thời đệ nhị thế chiến, đại diện cho bộ Ngân Khố Hoa Kỳ. Ông sanh ở Anh Quốc năm 1909, tốt nghiệp ngành quản trị kinh tế tại đại học Oxford nhưng sang Hoa Kỳ, làm việc và trở thành công dân Mỹ năm 1940.
Ông được điều sang Trung Quốc làm việc và sau đó, ông bị điều tra vì hoạt động cho Cộng sản. Ông trở về Anh và rồi sang Trung Quốc năm 1960, giúp Mao Trạch Đông trong việc dịch thuật cũng như cố vấn cho Mao và các lãnh đạo kế vị Mao về cách thức điều hành tiền tệ và các vấn đề kinh tế khác cùng với Frank Coe. Ông mất tại Bắc Kinh vào tháng Tám năm 1994.


Kỳ thú nhất là Trần Độc Tú (Chen Duxiu- 陳獨秀), người sáng lập đảng Cộng Sản Trung Quốc và là Tổng bí thư (TBT) đầu tiên từ năm 1921 đến năm 1927 lại là một người Trung Hoa lai Do Thái. Ông sanh ngày 8 tháng 10 năm 1879 tại tỉnh An Huy, triều Mãn Thanh. Ông xuất thân từ gia đình rất giàu có và tốt nghiệp đại học Đông Kinh, Nhật bản.

Trần Độc Tú tham gia Cách mạng Tân Hợi của Tôn Nhật Tiên lật đổ nhà Mãn Thanh năm 1911 và bắt đầu phổ biến chủ nghĩa Cộng Sản khi đi dạy học tại đại học Bắc Kinh

Trần Độc Tú bị khai trừ ra khỏi Cộng Đảng Trung Quốc vào những năm 1930 do phe bảo thủ dân tộc trong nội bộ Cộng Đảng Trung Quốc không thích thú đường lối Cách Mạng Vô Sản Quốc-tế của Trosky mà ông đang đeo đuổi, vốn đã bị thất thế tại Liên Xô.

Ông mất vào khoảng năm 1942 sau khi ra khỏi tù do chính phủ Tưởng bắt giam. Dù ít được đề cập đến, nhưng đến cuối đời Mao vẫn thừa nhận Trần Độc Tú là người thầy của mình.

Ngoại trưởng Henry Kissinger có thể bắt được liên lạc, đàm đạo với giới lãnh đạo chóp bu của Trung Cộng hoàn toàn nhờ đội ngũ đảng viên gốc Do Thái nằm sẳn bên trong nội bộ lãnh đạo của Trung Cộng.

Người Do Thái, để có thể leo cao trong nội bộ lãnh đạo Trung Cộng, họ phải có một sức mạnh- một thứ sức mạnh mà Cộng đảng Trung Quốc bị lệ thuộc. Đó là sức mạnh về tài chánh.

Mối liên hệ tài chánh giữa giới tài phiệt gốc Do Thái hay thân Do Thái tại Hoa Kỳ đối với Cộng đảng Trung Quốc từ ngày đầu thành lập cho đến nay ra làm sao, không biết là vì vô tình hay cố ý, vẫn không được các sử gia nghiên cứu bàn đến một cách chi tiết cũng như giới truyền thông không bao giờ đề cập rõ ràng minh bạch.

Và đương nhiên, những gương mặt Do Thái liệt kê ở trên trên chỉ là tiêu biểu cho một đội ngủ đông đảo các đảng viên Cộng sản gốc Do Thái trong nội bộ lãnh đạo Trung Cộng mà một bài viết không thể nào liệt kê cho hết được.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 26th 2016, 5:54am)


291

Wednesday, April 27th 2016, 3:55am

Nhận định:

Thôi chết rồi các ông ơi ! Cả làng cháy túi, bán vợ đợ con, cửa nhà cầm cố, đem thân đi ăn mày rồi thì mới được mách đó chỉ là một canh bạc bịp !!! có uất hận không chứ, có đau thương không chứ ! Vậy mà có những thằng đầu đất vẫn cứ khản cổ tự nhận mình là "bên thắng cuộc" để tiếp tục đối xử nghiệt ngã với những người bị gọi là "bên thua cuộc".

Thắng với thua cái đếch gì ?!

Khi mà máu xương của cả hai miền Nam Bắc chỉ là một trò chơi nhằm mang đến lợi lộc cho chúng nó thôi !!??
Ồ, đừng có vội cười ngạo nghễ mà bảo rằng: " Chúng mày ngu nên mới bị cái bọn Do Thái ấy bán đứng nhé. Còn bọn tao thì khôn hơn nhiều, các con ạ ! "

Không, các anh không khôn hơn chúng nó đâu. Cả hai dân tộc vĩ đại là Nga và Tàu vẫn còn đang câm hận chúng nó đấy. Có khi bọn họ còn ghi xương khắc cốt hơn chúng ta đấy. Từ từ rồi NP sẽ hầu chuyện với mọi ngưới.
Tạm thời, cả nhà chịu khó đọc một bài viết bằng tiếng Anh nhé. Sau nầy nếu quởn thì NP sẽ dịch lại tiếng Việt.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 28th 2016, 6:26am)


292

Wednesday, April 27th 2016, 4:11am

The Jewish Role InThe Bolshevik Revolution And Russia's Early Soviet Regime
Assessing the Grim Legacy of Soviet Communism
Mark Weber
10-31-3
http://www.rense.com
Reprinted from The Journal of Historical Review, PO Box 2739, Newport Beach, CA 92659, USA.

A solid understanding of history has long been the best guide to comprehending the present and anticipating the future. Accordingly, people are most interested in historical questions during times of crisis, when the future seems most uncertain. With the collapse of Communist rule in the Soviet Union, 1989-1991, and as Russians struggle to build a new order on the ruins of the old, historical issues have become very topical. For example, many ask: How did the Bolsheviks, a small movement guided by the teachings of German-Jewish social philosopher Karl Marx, succeed in taking control of Russia and imposing a cruel and despotic regime on its people?

In recent years, Jews around the world have been voicing anxious concern over the specter of anti-Semitism in the lands of the former Soviet Union. In this new and uncertain era, we are told, suppressed feelings of hatred and rage against Jews are once again being expressed. According to one public opinion survey conducted in 1991, for example, most Russians wanted all Jews to leave the country. But precisely why is anti-Jewish sentiment so widespread among the peoples of the former Soviet Union? Why do so many Russians, Ukrainians, Lithuanians and others blame "the Jews" for so much misfortune?

A Taboo Subject

Although officially Jews have never made up more than five percent of the country's total population, they played a highly disproportionate and probably decisive role in the infant Bolshevik regime, effectively dominating the Soviet government during its early years. Soviet historians, along with most of their colleagues in the West, for decades preferred to ignore this subject. The facts, though, cannot be denied.

With the notable exception of Lenin (Vladimir Ulyanov), most of the leading Communists who took control of Russia in 1917-20 were Jews. Leon Trotsky (Lev Bronstein) headed the Red Army and, for a time, was chief of Soviet foreign affairs. Yakov Sverdlov (Solomon) was both the Bolshevik party's executive secretary and -- as chairman of the Central Executive Committee -- head of the Soviet government. Grigori Zinoviev (Radomyslsky) headed the Communist International (Comintern), the central agency for spreading revolution in foreign countries. Other prominent Jews included press commissar Karl Radek (Sobelsohn), foreign affairs commissar Maxim Litvinov (Wallach), Lev Kamenev (Rosenfeld) and Moisei Uritsky.

Lenin himself was of mostly Russian and Kalmuck ancestry, but he was also one-quarter Jewish. His maternal grandfather, Israel (Alexander) Blank, was a Ukrainian Jew who was later baptized into the Russian Orthodox Church.

A thorough-going internationalist, Lenin viewed ethnic or cultural loyalties with contempt. He had little regard for his own countrymen. "An intelligent Russian," he once remarked, "is almost always a Jew or someone with Jewish blood in his veins."

Critical Meetings

In the Communist seizure of power in Russia, the Jewish role was probably critical.

Two weeks prior to the Bolshevik "October Revolution" of 1917, Lenin convened a top secret meeting in St. Petersburg (Petrograd) at which the key leaders of the Bolshevik party's Central Committee made the fateful decision to seize power in a violent takeover. Of the twelve persons who took part in this decisive gathering, there were four Russians (including Lenin), one Georgian (Stalin), one Pole (Dzerzhinsky), and six Jews.

To direct the takeover, a seven-man "Political Bureau" was chosen. It consisted of two Russians (Lenin and Bubnov), one Georgian (Stalin), and four Jews (Trotsky, Sokolnikov, Zinoviev, and Kamenev). Meanwhile, the Petersburg (Petrograd) Soviet -- whose chairman was Trotsky -- established an 18-member "Military Revolutionary Committee" to actually carry out the seizure of power. It included eight (or nine) Russians, one Ukrainian, one Pole, one Caucasian, and six Jews. Finally, to supervise the organization of the uprising, the Bolshevik Central Committee established a five-man "Revolutionary Military Center" as the Party's operations command. It consisted of one Russian (Bubnov), one Georgian (Stalin), one Pole (Dzerzhinsky), and two Jews (Sverdlov and Uritsky).

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 27th 2016, 4:21am)


293

Wednesday, April 27th 2016, 4:23am

Contemporary Voices of Warning

Well-informed observers, both inside and outside of Russia, took note at the time of the crucial Jewish role in Bolshevism. Winston Churchill, for one, warned in an article published in the February 8, 1920, issue of the London Illustrated Sunday Herald that Bolshevism is a "worldwide conspiracy for the overthrow of civilization and for the reconstitution of society on the basis of arrested development, of envious malevolence, and impossible equality." The eminent British political leader and historian went on to write:

There is no need to exaggerate the part played in the creation of Bolshevism and in the actual bringing about of the Russian Revolution by these international and for the most part atheistical Jews. It is certainly a very great one; it probably outweighs all others. With the notable exception of Lenin, the majority of the leading figures are Jews. Moreover, the principal inspiration and driving power comes from the Jewish leaders. Thus Tchitcherin, a pure Russian, is eclipsed by his nominal subordinate, Litvinoff, and the influence of Russians like Bukharin or Lunacharski cannot be compared with the power of Trotsky, or of Zinovieff, the Dictator of the Red Citadel (Petrograd), or of Krassin or Radek -- all Jews. In the Soviet institutions the predominance of Jews is even more astonishing. And the prominent, if not indeed the principal, part in the system of terrorism applied by the Extraordinary Commissions for Combatting Counter-Revolution [the Cheka] has been taken by Jews, and in some notable cases by Jewesses

Needless to say, the most intense passions of revenge have been excited in the breasts of the Russian people.

David R. Francis, United States ambassador in Russia, warned in a January 1918 dispatch to Washington: "The Bolshevik leaders here, most of whom are Jews and 90 percent of whom are returned exiles, care little for Russia or any other country but are internationalists and they are trying to start a worldwide social revolution."

The Netherlands' ambassador in Russia, Oudendyke, made much the same point a few months later: "Unless Bolshevism is nipped in the bud immediately, it is bound to spread in one form or another over Europe and the whole world as it is organized and worked by Jews who have no nationality, and whose one object is to destroy for their own ends the existing order of things."

"The Bolshevik Revolution," declared a leading American Jewish community paper in 1920, "was largely the product of Jewish thinking, Jewish discontent, Jewish effort to reconstruct."

As an expression of its radically anti-nationalist character, the fledgling Soviet government issued a decree a few months after taking power that made anti-Semitism a crime in Russia. The new Communist regime thus became the first in the world to severely punish all expressions of anti-Jewish sentiment. Soviet officials apparently regarded such measures as indispensable. Based on careful observation during a lengthy stay in Russia, American-Jewish scholar Frank Golder reported in 1925 that "because so many of the Soviet leaders are Jews anti-Semitism is gaining [in Russia], particularly in the army [and] among the old and new intelligentsia who are being crowded for positions by the sons of Israel."

294

Wednesday, April 27th 2016, 5:35am

Historians' Views

Summing up the situation at that time, Israeli historian Louis Rapoport writes:
Immediately after the [Bolshevik] Revolution, many Jews were euphoric over their high representation in the new government. Lenin's first Politburo was dominated by men of Jewish origins

Under Lenin, Jews became involved in all aspects of the Revolution, including its dirtiest work. Despite the Communists' vows to eradicate anti-Semitism, it spread rapidly after the Revolution -- partly because of the prominence of so many Jews in the Soviet administration, as well as in the traumatic, inhuman Sovietization drives that followed. Historian Salo Baron has noted that an immensely disproportionate number of Jews joined the new Bolshevik secret police, the Cheka And many of those who fell afoul of the Cheka would be shot by Jewish investigators.

The collective leadership that emerged in Lenin's dying days was headed by the Jew Zinoviev, a loquacious, mean-spirited, curly-haired Adonis whose vanity knew no bounds.

"Anyone who had the misfortune to fall into the hands of the Cheka," wrote Jewish historian Leonard Schapiro, "stood a very good chance of finding himself confronted with, and possibly shot by, a Jewish investigator." In Ukraine, "Jews made up nearly 80 percent of the rank-and-file Cheka agents," reports W. Bruce Lincoln, an American professor of Russian history. (Beginning as the Cheka, or Vecheka) the Soviet secret police was later known as the GPU, OGPU, NKVD, MVD and KGB.)

In light of all this, it should not be surprising that Yakov M. Yurovksy, the leader of the Bolshevik squad that carried out the murder of the Tsar and his family, was Jewish, as was Sverdlov, the Soviet chief who co-signed Lenin's execution order.

Igor Shafarevich, a Russian mathematician of world stature, has sharply criticized the Jewish role in bringing down the Romanov monarchy and establishing Communist rule in his country. Shafarevich was a leading dissident during the final decades of Soviet rule. A prominent human rights activist, he was a founding member of the Committee on the Defense of Human Rights in the USSR.
In Russophobia, a book written ten years before the collapse of Communist rule, he noted that Jews were "amazingly" numerous among the personnel of the Bolshevik secret police. The characteristic Jewishness of the Bolshevik executioners, Shafarevich went on, is most conspicuous in the execution of Nicholas II:

This ritual action symbolized the end of centuries of Russian history, so that it can be compared only to the execution of Charles I in England or Louis XVI in France. It would seem that representatives of an insignificant ethnic minority should keep as far as possible from this painful action, which would reverberate in all history. Yet what names do we meet? The execution was personally overseen by Yakov Yurovsky who shot the Tsar; the president of the local Soviet was Beloborodov (Vaisbart); the person responsible for the general administration in Ekaterinburg was Shaya Goloshchekin. To round out the picture, on the wall of the room where the execution took place was a distich from a poem by Heine (written in German) about King Balthazar, who offended Jehovah and was killed for the offense.

In his 1920 book, British veteran journalist Robert Wilton offered a similarly harsh assessment:

The whole record of Bolshevism in Russia is indelibly impressed with the stamp of alien invasion. The murder of the Tsar, deliberately planned by the Jew Sverdlov (who came to Russia as a paid agent of Germany) and carried out by the Jews Goloshchekin, Syromolotov, Safarov, Voikov and Yurovsky, is the act not of the Russian people, but of this hostile invader.

In the struggle for power that followed Lenin's death in 1924, Stalin emerged victorious over his rivals, eventually succeeding in putting to death nearly every one of the most prominent early Bolsheviks leaders - including Trotsky, Zinoviev, Radek, and Kamenev. With the passage of time, and particularly after 1928, the Jewish role in the top leadership of the Soviet state and its Communist party diminished markedly.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 27th 2016, 5:42am)


295

Thursday, April 28th 2016, 5:59am

NP tạm dịch:

Vai trò của người Do Thái trong cuộc cách mạng Bôn-sê-vít và trong thời sơ khai của chế độ Nga Sô-viết.
Đánh giá lại di sản đen tối của chủ nghĩa CS Sô-viết

Một sự hiểu biết vững chãi về lịch sử từ lâu vẫn được coi như là hướng dẫn tốt nhứt để nắm bắt được hiện tại và dự trù cho tương lai. Theo đó, người ta chú trọng nhất đến các vấn đề lịch sử trong những thời gian khủng hỏang, khi mà tương lai dường như vô định. Cùng với sự sụp đổ của Liên bang Sô-viết cai trị bởi ĐCS, 1989-1991, và khi mà người dân Nga đang vật vã để xây dựng một trật tự mới trên các mảnh vụn của đống củ nát, thì các lỗi phạm của lịch sử lại nổi bật lên. Chẳng hạn, có rất nhiều người thắc mắc:

Làm sao một phong trào nhỏ nhoi được hướng dẫn bởi những lời dạy bảo của Karl Marx, một triết gia xã hội học Đức-lai-Do Thái, như Bôn-sê-vít mà lại thành công trong việc chiếm được quyền cai tri nước Nga và áp đặt một chế độ tàn bạo độc đóan trên dân chúng Nga ?

Trong những năm gần đây, Người Do Thái khắp thế giới đã xôn xao lên tiếng lo ngại vì nỗi ám ảnh của phong trào bài Do Thái ở những vùng đất củ của Liêng Bang Sô-viết.Trong thời đại mới và bất ổn nầy, chúng ta được nghe rằng, cảm xúc bị đè nén về lòng căm ghét và cơn phẩn nộ hướng về người Do Thái một lần nữa đã được biểu lộ. Thí dụ như căn cứ theo một cuộc thăm dò tâm lý quần chúng vào năm 1991 thì hầu hết người Nga đều muốn tất cả người Do Thái đi ra khỏi nước Nga. Nhưng mà, chính xác tại sao mối ác cảm đối với người Do thái lại lang rộng đến thế trong các dân tộc của Liên Bang Sô-viết cũ.?

Tại sao rất nhiều người Nga, người Ukrain, người Lithuan và những người khác óan trách người Do Thái về đủ thứ tai vạ mà họ đã phải chịu đựng ?

Một chủ đề cấm kỵ

Mặc dù trong chính thức người Do Thái chưa bao giờ chiếm hơn năm phần trăm của tổng dân số trong nước, nhưng họ đã đóng một vai trò vượt trội hơn và có thể là quyết định trong thể chế non trẻ Bôn-sê-vít, và áp đảo một cách hiệu qủa trong chính quyền Sô-viết ở những năm đầu tiên. Các sử gia Sô-viết, song song với các đồng nghiệp của họ ờ phương tây, thà làm ngơ chủ đề nầy. Tuy nhiên thực tế không thể bị chối bỏ.

Với một ngọai lệ đáng chú ý là Lê-nin (Vladimir Ulyanov), hầu hết những lãnh đạo CS cai tri nước Nga trong thời gian 1917- 1920 đều là người Do Thái:

- Leon Trotsky (Lev Bronstein) cầm đầu Hồng Quân ( the Red Army ) và có lúc đã làm Ngọai Trưởng bộ Ngọai Giao Sô-viết ( chief of Soviet foreign affairs ).
- Yakov Sverdlov (Solomon) kiêm nhiệm Bí thư đảng CS ( the Bolshevik party's executive secretary ) và Chủ tịch Trung Ương Đảng ( chairman of the Central Executive Committee ) –Nguyên thủ của chính phủ Sô-viết.
- Grigori Zinoviev (Radomyslsky) cầm đầu CS Quốc Tế Viện ( the Communist International / Comintern), cơ quan đầu não chuyên lo xuất khẩu cách mạng ra ngọai quốc.
- Các cán bộ cấp cao Do Thái khác gồm có Karl Radek (Sobelsohn) Ủy Viên Tuyên Giáo ( press commissar ), Maxim Litvinov (Wallach) Ủy Viên Ngọai Giao ( foreign affairs commissar), Lev Kamenev (Rosenfeld)Moisei Uritsky.
- Bản thân Lê-nin có nguồn gốc từ các tổ tiên hầu hết là người Nga và người Kalmuck, nhưng hắn ta cũng có một phần tư giòng máu Do Thái. Ông ngọai của hắn, Israel (Alexander) Blank, là một người Ukrain gốc Do Thái sau cãi đạo theo Chính Thống Giáo Nga (the Russian Orthodox Church ).

Lê-nin hòan tòan là một người của chủ nghĩa quốc tế, rất khinh thị bản sắc dân tộc và truyền thống văn hóa. Tuy vậy hắn vẫn có một chút nể nang đồng hương của mình. Hắn đã từng nhận xét:

“ Một trí thức Nga thì hầu như luôn luôn là một người Do Thái hay có giòng máu Do Thái trong huyết quản “.

Các buổi họp hệ trọng

Trong thời điểm cướp chính quyền ở Nga vai trò của người DoThái có thể rất là hệ trọng.

Hai tuần trước cuộc “ cách mạng tháng mười “ Bôn-sê-vít năm 1917, Lê-nin chủ trì một cuộc họp tối mật ở St. Petersburg (Petrograd), ở nơi đó những lãnh đạo chủ chốt của Trung Ương Đãng Bôn-sê-vít đã lấy một quyết định lịch sử là cướp chính quyền bằng bạo lực. Trong 12 người tham dự cuộc họp quyết định nầy, thì có 4 người Nga ( kể cả Lê-nin ), 1 người Georgia ( Stalin ), 1 người Ba Lan (Pole ) (Dzerzhinsky) và 6 người Do Thái.

Chỉ đạo cướp chính quyền là 7 Ủy Viên của Bộ Chính Trị ( Political Bureau ), gồm có: 2 người Nga ( LeninBubnov ), 1 người Georgia ( Stalin ) và 4 người Do Thái (Trotsky Sokolnikov, ZinovievKamenev ).

Trong khi đó, Thành Ủy Sô-viết Petersburg ( the Petersburg / Petrograd Soviet ), chủ tịch là Trotsky, thành lập một Quân Ủy Cách Mạng gồm 18 Ủy Viên để thi hành công cuộc cướp chính quyền. thành phần nầy gồm có: 8 hay 9 người Nga, 1 người Ukrain, 1 người Ba Lan, 1 người Caucase và 6 người Do Thái.

Sau rốt, để giám sát cuộc nổi dậy, Trung Ương Đãng Bôn-sê-vít thành lập một Quân Ủy Trung Ương Cách Mạng 5 người gồm: 1 người Nga (Bubnov), 1 người Georgia (Stalin), 1 người Ba Lan (Dzerzhinsky), 2 người Do Thái (Sverdlov Uritsky ).

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 29th 2016, 1:05am)


296

Friday, April 29th 2016, 3:19am

Những lời cảnh báo đương thời

Các nhà quan sát am hiểu tình hình, ở cả trong và ngòai nước Nga, đã ghi nhận sự việc ngay vào thời kỳ mà vai trò của người Do Thái trong đảng Bôn-sê-vít là trọng đại. Winston Churchill,đã từng cảnh báo trong một bài viết xuất bản ngày 8 tháng 2, 1920, ấn bản của tờ London Illustrated Sunday Herald, cho rằng:

“ Chủ nghĩa Bôn-sê-vít là một âm mưu quốc tế nhằm mục đích đạp đổ nền văn minh hiện nay và đồng thời nhằm thiết kế lại xã hội dựa trên căn bản chận đứng sự phát triển, chúc dữ vì ghen ty và một quan niệm công bằng bất khả thi .“

Chính khách lỗi lạc và sử gia người Anh nầy viết tiếp:

Không cần phải phóng đại phần can dự của các người Do Thái quốc tế ( vô tổ quốc ) và phần lớn là vô thần ( vô tôn giáo ) trong việc tạo dưng nên chủ nghĩa Bôn-sê-vít và thúc đẩy cuộc cách mạng Nga. Chắc chắn đó là một sự can dự rất lớn, có thể là nặng ký hơn tất cả các người khác. Ngọai trừ Lê-nin, đa phần các khuôn mặt lãnh đạo là người Do Thái. Hơn thế nữa, hứng khởi và lực đẩy chính đến từ những lãnh đạo người Do Thái. Thế nên Tchitcherin, một người Nga thuần túy, bị che mờ bởi thuộc cấp của mình là Litvinoff. Còn những người Nga có tầm ảnh hưởng như Bukharin hoặc Lunacharski thì không thể so sánh với quyền lực của Trotsky, hay của Zinovieff, nhà độc tài của Công Trường Đỏ ( Red Citadel / Petrograd), hoặc của Krassin or Radek- tất cả đều là người Do Thái.

Trong các cơ quan của Sô-viết sự áp đảo của người Do Thái càng bất ngờ hơn. Và thành phần danh gía , nếu không muốn nói là chủ chốt, thànhn phần của hệ thống khủng bố thực thi bởi những Ủy Ban Đặc Biệt Đấu Tranh Chống Phản Cách Mạng [the Cheka] đươc chiếm lĩnh bởi đàn ông Do Thái, trong vài trường hợp đáng chú ý lại là đàn bà Do Thái.
Không cần phải nói, ý muốn trả thù căng thẳng nhứt đang nôn nao trong lòng của dân chúng Nga.

David R. Francis, Đại Sứ Mỹ ở Nga, đã cảnh báo trong công điện gởi về Washington vào tháng giêng năm 1918:

"Các lãnh đạo Bolshevik ở đây, hầu hết là người Do Thái và 90 phần trăm là những kẻ lưu vong, họ bận tâm rất ít về nước Nga hoặc bất cứ nước nào khác, nhưng họ là những người theo chủ nghĩa quốc tế và họ đang cố gắng khởi đầu một cuộc cách mạng xã hội trên tòan thế giới."

Đại Sứ của Netherlands ở Nga, Oudendyke, cũng có một cái nhìn tương tự cách vài tháng sau:

"Trừ khi chủ nghĩa Bôn-sê-vít bị triệt tiêu tức khắc từ mầm mống, nhứt định nó sẽ lây lang bằng cách nầy hay cách khác trên tòan Âu Châu và cả thế giới trong khi nó được tổ chức và thực thi bởi người Do Thái là nhưng kẻ vô quốc tịch, mà mục tiêu của họ là phá bỏ trật tự thế giới hiện thời cho cứu cánh của mình."

Văn kiện năm 1920 của một cộng đồng tiên tiến người Mỹ gốc Do Thái đã tuyên bố:

“ Cách mạng Bôn-sê-vít phần lớn là sản phẩm của tư duy Do Thái, ước vọng Do Thái và nổ lực Do Thái để tái cấu trúc“

Như là một biểu lộ cho căn tính chống lại chủ nghĩa quốc gia, nhà nước Sô-viết còn non nớt chỉ sau vài tháng cầm quyền đã ban hành một nghị quyết quy định chủ trương bài-Do Thái là một tội hình sự ở nước Nga. Thế nên thể chế CS mới thành lập trở thành kẻ tiên phong trong việc trừng phạt năng nề tất cả mọi biểu lộ của thái độ bài-Do Thái.

Các cán bộ nhà nước Sô-viết có vẻ xem quy định nầy là một điều không thể thiếu xót. Căn cứ trên những quan sát lâu dài khi ở Nga, học giả người Mỹ gốc Do Thái Frank Golder báo cáo vào năm 1925 là:

"Bởi vì có quá nhiều lãnh đạo Sô-viết là người Do Thái mà chủ trương bài-Do Thái gia tăng [ở Nga], điển hình là trong quân đội [và] giửa các nhân viên tình báo (intelligentsia ) cũ và mới, những người bị chen chút bởi các đứa con của Israel."

[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 29th 2016, 3:31am)


297

Saturday, April 30th 2016, 7:09am

Quan điểm của các sử gia

Sử gia Do Thái Louis Rapoport tổng kết tình hình lúc đó như sau:

“Ngay sau cuộc Cách Mạng [Bôn-sê-vít] rất nhiều người Do Thái đã phấn khích về mức độ tiêu biểu cao của dân họ trong chính quyền mới. Bộ chính trị đầu tiên của Lê-nin bị thống lĩnh bởi những người gốc Do Thái.

Dưới bóng Lê-nin, người Do Thái can dự vào mọi khía cạnh của cuộc cách mạng, kể cả những trò đê tiện nhất. Bất chấp lời thề của đảng CS là xóa bỏ chủ trương bài-Do Thái, tinh thần nầy đã lang truyền nhanh chóng sau cuộc Cách Mạng – một phần vì uy thế của qúa nhiều người Do Thái trong cơ quan nhà nước Sô-viết, cũng như trong những chủ trương thê thãm và vô nhân đạo tiếp theo đó.”

Sử gia Salo Baron đã nhận thấy một sự bất quân bình vĩ đại về số lượng người Do Thái gia nhập cơ quan mật vụ Bôn-sê-vít mới thành lập Cheka và nhiều người lỡ sa vào nanh vuốt Cheka có cơ bị bắn chết bởi các thẩm vấn viên Do Thái.

Tập thể lãnh đạo xuất hiện trong những ngày hấp hối của Lê-nin được cầm đầu bởi Zinoviev, một người Do Thái nhiều lời, ác tâm, tóc xoăn nhưng đẹp trai như nhân vật thần thọai Hy Lạp Adonis với lòng kiêu hảnh vô giới hạn.

Sử gia Do Thái Leonard Schapiro đã viết:

“ Người nào mà lỡ sa vào tay của bọn Cheka là có nguy cơ bị truy vấn hay bị bắn chết bởi một điều tra viên Do Thái.”

Giáo sư người Mỹ W. Bruce Lincoln dạy môn Lịch Sử Nga nói rằng:

“Người Do Thái chiếm gần 80 phần trăm của đội ngũ nhân viên Cheka ở Ukraine " (Cơ quan mật vụ Sô-Viết lúc đầu gọi là Cheka, hay Vecheka về sau được biết đến với những tên như là GPU, OGPU, NKVD, MVD và KGB.)

Trong ánh sáng phơi bày của tất cả điều nầy thì không có gì là ngạc nhiên khi biết rằng Yakov M. Yurovksy, lãnh đạo của đội xử bắn Bôn-sê-vít đã thãm sát Nga Hòang (Tsar) và gia đình của ông ấy là một người Do Thái, thủ trưởng Sô-viết Sverdlov đã đồng ký tên lệnh hành quyết cùng với Lê-nin cũng là một người Do Thái.

Igor Shafarevich, nhà tóan học Nga lừng danh thế giới, đã phê phán một cách sắc bén vai trò của người Do Thái trong việc hạ bệ Triều Đại Romanov và thiết lập quy lụât CS trên quê hương của ông ấy. Shafarevich là một người phản kháng hàng đầu trong thập kỹ cuối cùng của sư cai trị Sô-Viết. Ông là một nhà họat đông nhân quyền uy tín và là sáng lập viên của Ủy ban Bảo Vệ Nhân Quyền ở Liên bang Nga (USSR)

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Apr 30th 2016, 7:34am)


298

Sunday, May 1st 2016, 7:07am

Trong cuốn Russophobia ( Hội chứng Liên Xô ) viết vào 10 năm trước khi sự cai trị của CS sụp đổ, ông đã ghi chú rằng số người Do Thái nhiều một cách “sửng sốt” trong số nhân viên của Cơ Quan Mật Vụ Bôn-sê-vít. Cái hơi hướng Do Thái của các đao phủ là điều đáng ngờ nhất trong việc hành quyết Nga Hòang Nicholas II:

Hành vi mông muội nầy tượng trưng cho kết cục của lịch sử Nga hàng trăm năm, cho nên nó chỉ có thể so sánh với việc hành quyết Charles I ở Anh hay Louis XVI ở Pháp.

Lẽ ra các đại biểu của một sắc tộc thiểu số không đáng kể nên tránh xa hết mức hành động đau lòng nầy, mà nó có khi vang dội suốt lich sử.
Vậy mà ta đã bắt gặp những danh tính nào ?
Cuộc hành quyết được đích thân Yakov Yurovsky giám sát, người đã bắn chết Nga Hòang, Beloborodov (Vaisbart) Chủ tịch Sô-viết địa phương; Shaya Goloshchekin chịu trách nhiệm cơ quan hành chánh tổng quát tại Ekaterinburg.

Để hình dung ta hảy xem hai câu thơ bằng tiếng Đức của Heine treo trên tường căn phòng hành quyết xảy ra nói về Vua Balthazar kẻ đã xúc phạm Chúa Trời nên đã bị giết vì tội phỉ báng đó.

Phóng Viên Cựu Chiến Binh Anh Robert Wilton đả có một đánh gía cũng gay gắt như thế trong quyển sách năm 1920 của ông:

“Tòan bộ hồ sơ chủ nghĩa Bôn-sê-vít ở Nga có một ấn tượng không thể bôi xóa với dấu ấn xâm lăng của ngọai kiều. Việc ám sát Nga Hòang được cố tâm dàn dựng bởi Sverdlov người Do Thái ( một điệp viên ăn lương của Đức đã đến Nga ), và được thi hành bởi Goloshchekin, Syromolotov, Safarov, Voikov và Yurovsky là người Do Thái, là hành động không phải của người Nga mà là của những kẻ xâm nhập thù nghịch nóng nảy.”

Trong đấu tranh giành quyền lực theo sau cái chết của Lê-nin năm 1924, thì Sta-lin chiến thắng ngoi lên, lần hồi thành công trong việc giết đi hầu như tất cả các đối thủ là những lãnh đạo Bôn sê-vít danh giá nhất, kê cả Trotsky, Zinoviev, Radek, và Kamenev.

Theo giòng thời gian và điển hình sau năm 1928, vai trò của người Do Thái trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của quốc gia Sô-viết và đảng CS của nó giảm thiểu một cách đáng kể.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (May 1st 2016, 8:02pm)


299

Sunday, May 1st 2016, 8:40pm

Nhận định:

NP đăng bài viết nầy lên đây hòan tòan không có mục đích hô hào cho chủ trương bài-Do Thái, càng không phải để hướng lòng căm hận đến dân tộc Do Thái, vì làm như thế là ấu trỉ, là bịp bợm giống như những kẻ đã hô hào lòng căm thù giửa người và người trong chiêu bài " đấu tranh giai cấp".
NP chép lại và phiên dịch bài viết nầy là để chúng ta có cơ hội "sáng mắt, sáng lòng" về những nghịch lý và định mệnh cay nghiệt của nước Việt Nam và dân Việt Nam:

- Tại sao dân tộc Do Thái thông minh rất mực và chịu nhiều khổ nạn trong suốt 4000 năm lịch sử mà lại đẽ ra một chủ nghĩa gây bao đau thương tang tóc cho phần lớn các dân tộc trên thế giới ?
- Tại sao TC là một quốc gia theo chủ nghĩa Thế Giới Đại Đồng lại ôm mộng bành trướng và không bao giờ từ bỏ mưu đồ xâm lấn và tiêu diệt dân tộc VN ?

- Tại sao Henry Kissinger là ngọai trưởng của một siêu cường tư bản là Mỹ lại "đi đêm" với TC để "Tá đao sát nhân" ( mượn dao giết người ), bức tử chế độ VNCH ?
- Và quan trọng hơn hết là tại sao mãi cho đến giờ phút hiện tại, người VN vẫn cắn răng cam chịu số phận nghiệt ngã của mình vì không thể tìm ra được một lối thóat vẹn tòan khỏi mọi bẩy rập của "các thế lực thù địch và phản động" ?


Có lẽ chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn, mổ xẻ vấn đề triệt để hơn, bất chấp mọi cấm kỵ hay định kiến chính trị. Bởi vì chỉ có sự thật mới "giải phóng" chúng ta trước khi quá muộn.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (May 3rd 2016, 6:20am)


300

Sunday, May 1st 2016, 9:17pm

Tại sao dân tộc Do Thái thông minh rất mực và chịu nhiều khổ nạn trong suốt 4000 năm lịch sử mà lại đẽ ra một chủ nghĩa gây bao đau thương tang tóc cho phần lớn các dân tộc trên thế giới ?
Nghịch lý nầy bắt nguồn từ bản năng sinh tồn của lòai vật, đó là:
Để sống sót và thích nghi thì các lòai sinh vật, nhất là các lòai cầm thú, phải tìm đến nhau và sống hợp đòan để bắt chước và học hỏi lẫn nhau. Vì là những sinh vật hạ đẳng nên chúng không có khái niệm về thiện-ác hoặc đúng-sai, mà chỉ biết có lợi hay có hại cho sinh mệnh của chúng. Miễn làm sao sống còn là được.
Thế cho nên chính nạn nhân sẽ học lấy thủ đọan tàn độc của ác nhân, ít ra là để thóat hiểm hoặc sử dụng ngay cái thủ đọan tàn bạo nầy để chống lại kẻ thù hay nạn nhân của họ sau nầy. Tâm lý học đã minh chứng điều nầy. Thường khi nạn nhân còn tàn ác gấp trăm lần kẻ thù của họ khi hành hạ nạn nhân của mình.
Và trong bất cứ một tổ chức xã hội nào cũng có giai cấp cầm quyền hay là giai cấp cai trị và giai cấp bị trị hay là quần chúng. Chính giai cấp cầm quyền nầy mà đa phần là những "con buôn chính trị" sẽ áp dụng những hành vi hiểm ác mà họ đã học hỏi từ kẻ thù qua chứng nghiệm thống khổ của chính bản thân. Và nạn nhân của các "con buôn chính trị" nầy chính là quần chúng, chính là người dân của đất nước mà họ đang cai trị.
Thế cho nên các nạn nhân Do Thái ngày xưa khi có dịp trở thành "con buôn chính trị" đã trở nên tàn ác gấp bội phần Nga Hòang khi họ cai tri nước Nga.

17 users apart from you are browsing this thread:

17 guests

Similar threads