You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

321

Monday, May 30th 2016, 5:52pm

Ngày lễ Memorial Day ( lễ Chiến Sĩ Trận Vong ) là ngày mà tòan dân Mỹ ( kể cả người tị nạn VN ) tưởng nhớ đến những người lính đã hy sinh để bảo vệ cho đất nước và tự do.
Nhân dịp nầy NP cũng kính cẩn cúi đầu tưởng nhớ đến những chiến sĩ đã vị quốc vong thân để bảo vệ cho bờ cỏi VN và tự do hạnh phúc của người dân VN ở cả hai miền Nam Bắc, từ khi tổ tiên dựng nước đến nay.

Nhờ có chút thì giờ thỏai mái nầy NP muốn bàn thêm về Kinh Dịch.
Có 3 nguyên lý vận hành trong Kinh Dịch:
- Nguyên lý tuần hòan ( âm trưởng dương tiêu, dương trưởng âm tiêu ).
- Nguyên lý phản phục ( nghịch đảo, quẻ bị lộn ngược hay thời thế đảo điên).
- Nguyên lý nghịch biến ( âm biến thành dương, dương biến thành âm ).
và một động cơ:
- Hào động ( hào âm động hoặc hào dượng động, kèm theo ảnh hưởng dây chuyền ).

Dễ nhận biết nhứt là thời tiết có 4 mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông rồi lại Xuân ở các vùng ôn đới ( nguyên lý tuần hòan ). Nhưng ở các vùng nhiệt đới như VN chỉ có 2 mùa Khô-Ướt ( mưa /nắng ), còn ở các vùng hàn đới như bắc cực hay nam cực chỉ có 2 mùa Nóng-Lạnh ( sáng / tối ) ( nguyên lý phản phục ). Thật ra nguyên lý phản phục chỉ là nguyên lý tuần hòan ở dạng tiềm ẩn ( không nhận ra ) mà thôi. Thế rồi ta lại có những hiện tượng bất thường như El nino, hay đang nắng gắt bổng chuyễn sang mưa lũ ( nguyên lý nghịch biến ). Nhờ nắm chắc được nguyên lý nầy mà Khổng Minh đã đại thắng Tào Tháo trận Xích Bích đấy ( đột nhiên gió đông nổi lên ).
Tất cả những nguyên lý nầy được vận hành bằng một yếu tố khởi động và có ảnh hưởng dây chuyền ( chain reaction ) như trong một vụ nổ hạch nhân vậy. Yếu tố nầy gọi là Hào Động.

Trong thiên kinh vạn quyển viết về Kinh Dịch từ xưa tới nay, chưa có ai nói được một cách thuyết phục rằng thứ tự sắp đặt các cặp quẻ phản phục trong Chu Dịch là căn cứ vào đâu.
Cũng như chua có ai đã chỉ rõ hào động trong từng quẻ của Kinh Dịch.

Nếu không cắt nghĩa được một cách hợp lý ( thuần lý một cách khoa học ) tại sao tiếp theo cặp Càn / Khôn là cặp Truân / Mông và tiếp theo là cặp Nhu / Tụng thì làm sao ta có thể dự đóan thời cuộc ?

Nếu không chỉ rỏ được hào động trong từng quẻ thì làm sao ta biết được nguyên nhân và hậu quả để tính việc trăm năm ?

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (May 31st 2016, 3:33am)


322

Tuesday, May 31st 2016, 4:45am

Trở lại chuyện thời tiết ( thuận theo nguyên lý tuần hòan ) của trời đất ( Càn - Khôn ):
Nếu khởi đi từ quẻ Càn ( trời ) theo nữa chu kỳ "âm trưởng dương tiêu" thì ta sẽ đến quẻ Khôn ( đất ), tiếp theo nữa chu kỳ còn lại "dương trưởng âm tiêu" thì ta lại trở về quẻ Càn.
Vị chi ta có 12 quẻ tượng trưng bằng chu kỳ12 tháng cho một năm:
Càn (tháng 4), Cấu ( tháng 5), Độn (tháng 6), Bĩ ( tháng 7), Quan (tháng 8 ), Bác (tháng 9), Khôn (tháng 10), Phục (tháng 11), Lâm (tháng12), Thái (tháng 1), ĐạiTráng (tháng 2), Quải (tháng 3), trở lại Càn (tháng 4), ....
Nhìn vào hình thể các quẻ, ta thấy sau quẻ Càn ( 6 vạch liền chồng lên nhau ) là quẻ Cấu ( 5 vạch liền chồng lên 1 vạch đứt). Nói theo ngôn từ của Dịch, quẻ Càn có 6 hào dương. 3 hào: sơ cửu, cửu nhị, cửu tam họp thành nội quái là Càn. 3 hào: cửu tứ, cửu ngũ, thượng cửu họp thành ngọai quái cũng là Càn. Cho nên quẻ nầy được đặt tên là Bát Thuần Càn.
Còn quẻ Cấu thì hào dưới cùng là một hào âm gọi là sơ lục, khởi đầu cho nữa chu kỳ âm trưởng dương tiêu ( phản ứng dây chuyền làm số lượng hào âm ngày càng tăng ).Do đó, lần lượt quẻ Độn có 2 hào âm, quẻ có 3 hào âm, quẻ Quan có 4 hào âm, quẻ Bác có 5 hào âm và cuối cùng là quẻ Khôn có 6 hào âm.

Sau quẻ Khôn là quẻ Phục mà hào dưới cùng là dương, bên trên vẫn còn 5 hào âm. Quẻ Phục bắt đầu cho nữa chu kỳ dương trưởng âm tiêu. Cho nên, lần lượt quẻ Lâm có 2 hào dương, quẻ Thái có 3 hào dương, quẻ Đại Tráng có 4 hào dương, quẻ Quải có 5 hào dương và cuối cùng là trở lại quẻ Càn có 6 hào dương.
Thế rồi chu kỳ tuần hòan của trời đất cứ tiếp nối nhau không ngừng nghĩ. Ai cũng biết chu kỳ Xuân-Hạ-Thu-Đông tiếp nối liên tục là do trái đất ( Khôn ) quay quanh mặt trời ( Càn ) không ngừng nghĩ trên một quỷ đạo được định hình bởi sức hút của mặt trời và trái đất. Cũng vì lẽ đó nên Chu Dịch mới chọn Càn - Khôn là cặp đôi đầu tiên.

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 1st 2016, 5:09am)


323

Wednesday, June 1st 2016, 5:49am

Vậy thì khi trời đất điều hòa và thuận theo nguyên lý tuần hòan, thì thời tiết có đủ bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông (ôn đới). Nếu trời xa đất (âm thịnh dương suy) thì thời tiết chỉ còn hai mùa Sáng-Tối (hàn đới). Nếu trời gần đất (dương thịnh âm suy) thì thời tiết chỉ có hai mùa Mưa-Nắng (nhiệt đới).

Trong chu kỳ tuần hòan của 12 quẻ:
Cấu ( tháng 5), Độn (tháng 6), Bĩ ( tháng 7), Quan (tháng 8 ), Bác (tháng 9), Khôn (tháng 10), Phục (tháng 11), Lâm (tháng12), Thái (tháng 1), ĐạiTráng (tháng 2), Quải (tháng 3), Càn (tháng 4),

Ta có 2 móc nối của 2 nữa chu kỳ đó là:
- Khôn-Phục là móc nối để chuyễn từ nữa chu kỳ "âm trưởng dương tiêu" sang nữa chu kỳ còn lại "dương trưởng âm tiêu" ( quẻ Bát Thuần Khôn đang có 6 hào âm khi chuyễn sang quẻ Địa Lôi Phục thì chỉ còn 5 hào âm cộng thêm 1 hào dương ).
- và Càn-Cấu là móc nối để chuyễn từ nữa chu kỳ "dương trưởng âm tiêu" sang nữa chu kỳ tiếp theo "âm trưởng dương tiêu" ( quẻ Bát Thuần Càn đang có 6 hào dương khi chuyễn sang quẻ Thiên Phong Cấu thì chỉ còn 5 hào dương cộng thêm 1 hào âm).


Thế nhưng cũng chính tại 2 nơi nầy mà nguyên lý tuần hòan có thể bị thay đổi:
- Từ Khôn (6 âm) qua Phục (5 âm + 1 dương) khi thời thế biến chuyễn mà nếu như cơ cấu vẫn chỉ là 1 hào dương giửa 5 hào âm ( 1 mạnh 5 yếu) thì hào dương nầy sẽ nổi lên làm chủ ( tình trạng "độc tôn" đó mà) theo nguyên tắcchúng dĩ quả vi chủ”.
Vậy nên tiếp theo Phục sẽ là quẻ (thay vì là quẻ Lâm). Tức là tình trạng sẽ trở nên tồi tệ (quẻ Địa Thủy Sư là tượng quốc gia bất hòa sẽ sinh chinh chiến) thay vì tốt đẹp (quẻ Địa Trạch Lâm báo trước một thời kỳ thịnh đạt).
Cái tệ nhứt là nếu tình trạng "độc quyền" ( 1 cứng 5 mềm) nầy vẫn kéo dài thì ta sẽ vuớng vào một vòng lẩn quẩn không lối thóat: Khôn - Phục - Sư - Khiêm - Dự - Tỉ - Bác - rồi lại Khôn
- Phục - Sư .... ( giống như: vì nghèo đói nên có chiến tranh và vì chiến tranh nên nghèo đói ).

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 1st 2016, 6:43pm)


324

Saturday, June 4th 2016, 5:35am

Điều nầy một lần nữa "giải độc" định kiến nhị nguyên được gán cho Kinh Dịch.
Đó là ý nghĩ cho rằng âm /dương là hai yếu tố đối nghịch nhau một cách quyết liệt như trắng với đen và dương bao giờ cũng tốt còn âm bao giờ cũng xấu.
Rồi dương được đem gán cho đàn ông còn âm thì gán cho đàn bà để "dương cao ngọn cờ áp chế" (hồi xưa chưa phát minh ra cụm từ chuyên chính vô sản).
Nếu tất cả đàn bà Trung Hoa thũa xưa đều là âm nhu thâm độc thì tìm đâu ra một bà mẹ phải dời nhà 3 lần để giáo dục cho thầy Mạnh Tử nên người ?
Nếu tất cả đàn bà đều là thấp kém dại khờ hơn đàn ông thì làm gì có giai thọai nầy:
Đoàn sứ thần Trung Hoa khi sang nước ta lúc nghĩ chân quán nhỏ bên đường thấy cô chủ quán xinh đẹp nên trêu rằng:
Nam bang nhất thốn thổ, bất tri kỉ nhân canh
(xứ Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày).

Cô nàng liền đáp lại:
Bắc quốc đại trượng phu, giai do thử đồ xuất
(Nước Bắc (Tàu ) thì các bậc đại phu đều bởi chổ ấy mà chui ra).


Nghĩ sâu hơn là cái bọn quan lại của chúng bây đều là con hoang của không biết bao nhiêu gả đàn ông VN. Thiệt là đau, thiệt là đáng đời cho cái lũ có học ngạo mạn mà "mất dậy" hết chổ nói!!
Nghe đồn cô chủ quán ấy là nữ sĩ Đòan Thị Điểm đấy !

Vậy thì không cứ gặp Dương là tốt và tất cả những phẩm chất mà
Dương có thì Âm cũng có nhưng với một dạng khác hoặc còn tiềm ẩn. Nếu cho Âm có được đầy đủ cơ hội như Dương có thì Âm cũng sẽ tỏa sáng như Dương thôi. Các bậc cha mẹ VN nên để ý điều nầy để đừng bao giờ bất công với con gái. Ở đây, các bậc cha mẹ VN đều hiểu và thấy rõ điều nầy.
Trung Hoa vì qúa trọng nam khinh nữ mà bây giờ xã hội bị mất cân bằng trầm trọng. Đàn ông của họ phải chạy sang tận Phi Châu để kiếm vợ đó.
Còn các phụ nữ VN phải lột bỏ mặc cảm đối với đàn ông, cố gắng hết sức mình để vươn lên, để không bị lệ thuộc vào ai, nhất là phải lệ thuộc vào đồng tiền nhơ bẩn của những gả đàn ông không ra gì.

Bởi vậy trong Kinh Dịch quẻ Bát Thuần Càn và quẻ Bát Thuần Khôn cũng đều tốt đẹp như nhau. Hơn nữa, hai quẻ nầy đã sánh đôi và đứng đầu để tạo nên thế giới của muôn lòai.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 4th 2016, 5:57am)


325

Sunday, June 5th 2016, 6:24am

NP nếu nói về Kinh Dịch mà không chỉ rỏ được tinh thần của GS Kim Định thì quả là đã phụ công giảng dạy của thầy mình. Tinh thần đó là gì ?
Đó chính là tìm về ý chỉ nguyên thủy của Dịch lý bằng cách gạn đục lóng trong, vứt bỏ đi những định kiến mơ hồ và vô lý đến độ mê muội thần bí. Đã là chân lý thì phải luôn luôn sáng tỏ và có thể truyền đạt một cách rõ ràng giống như người nói chỉ nhắc lại những gì mà người nghe đã quên đi.

Chẳng hạn như định kiến "số ít" trong Kinh Dịch, nghĩa là nhiều người khi nghe nói " Thái cực sinh lưỡng nghi" thì cứ nghĩ rằng trong thái cực chỉ có 1 cặp âm /dương mà thôi ( vì thế cố nhồi nhét càng nhiều ý nghĩa vào hai thành tố nầy càng tốt). Suy luận tiếp theo là chỉ một mình cặp nầy đã làm nên thế giới.
Với một lập luận nhồi nhét và vơ vào như thế thì quả là miễn cưởng vô cùng. Giống như bảo rằng tất cả các sinh vật trên trái đất nầy đều phát xuất từ một đơn bào duy nhất. Vậy thì người cũng là khỉ và khỉ cũng là người. Thậm chí người cũng là cá và cá cũng là người.
Xin hỏi, phải mất bao nhiêu năm nửa thì các lòai khỉ đột hiện nay mới biến thành người ?
Cái gì đã làm chậm đi tiến trình văn minh của chúng ?
Qúa trình lao động chưa đủ tiêu chuẩn chăng ?
Thế thì trâu bò lao động thay người vất vả biết bao nhiêu mà sao lại vẫn còn chịu kiếp trâu bò ?

Nếu chỉ cần một cặp âm / dương làm giống là đủ thì ông Nô-ê không phải vất vả và tốn nhiều thời gian đến như thế vì kích thước của chiếc tầu ông đóng sẽ nhỏ đi rất nhiều.
Vậy Thái Cực ( vô cùng to lớn ) phải chứa vô vàn cặp Âm / Dương để dựng nên thế giới nầy. Có những cặp Âm / Dương có thể nhận biết được và hữu hình, cũng có những cặp Âm / dương chưa thể nhận biết được và vô hình. Do đó Dịch lý không chỉ nói về thế giới vật chất hữu hình mà còn bao gồm cả thế giới tâm linh và vô hình. Để tạo thành một bức tranh không phải chỉ có giấy, vải , sơn, cọ và bằng chuyễn động của cánh tay rô-bô vì sẽ vô nghĩa và không sinh động. Thế giới tạo nên bằng cách nầy chỉ là một thế giới vô tri, một thế giới chết. Một thế giới không có sự sống !!!
Có thể nào vật chất tạo ra tinh thần không ?
Bộ óc của một người chết có thể nào sáng tạo không ?
Vật chất sẽ quyết định tinh thần chăng ?
Nếu vậy thì bất cứ ai bần cùng và bị áp chế là sẽ tự bật dậy mà làm cách mạng chăng ?
Thế thì đâu cần phải kêu gào: " Vùng lên hởi khắp nô lệ ở thế gian, vùng lên hởi những ai cơ cực bần hàn ". Nếu vật chất quyết định tinh thần thì mọi sự sẽ đâm ra dễ dàng cho giai cấp cầm quyền: chỉ cần thưởng phạt bằng thực phẩm như các người huấn luyện thú. Và bọn khủng bố sẽ thất nghiệp vì không cần phải làm cho người ta sợ.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 6th 2016, 5:14am)


326

Sunday, June 5th 2016, 3:19pm

Trở lại chuyện thời tiết một lần nữa, Nếu khởi đi từ quẻ Càn ( trời ) theo nữa chu kỳ "âm trưởng dương tiêu" thì ta sẽ đến quẻ Khôn ( đất ), tiếp theo nữa chu kỳ còn lại "dương trưởng âm tiêu" thì ta lại trở về quẻ Càn. Vậy là gì ?
Càn sẽ biến thành Khôn Khôn sẽ biến thành Càn theo một chu trình tuần hòan, nhanh hay chậm, thấy được hay không, là tùy huệ nhãn của mỗi người. Đối với người thường thì đó là một sự đột biến không thể hiểu được, cũng khó hiểu như khi bảo rằng Âm cùng cực thì biến thành Dương và ngược lại.


Thế nhưng cái Càn-Khôn mới có đó là Trời mới-Đất mới vì cái củ đã qua đi, đã biến dịch ( như lời trong một bài thánh ca: "Chúa cho con trời mới, đất mới, đường đời con sẽ đổi mới !" ). Cái gì đã làm mới lại cả trời đất mà ta không nhận thấy được nếu không phải là những yếu tố tâm linh ? Thánh linh Chúa hay là tinh thần cách mạng ?

NP không biết là tinh thần cách mạng có thánh linh Chúa hay không. Nhưng NP tin chắc thánh linh Chúa là tinh thần cách mạng vì "Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đi ! " ( kt Mat-thê-ô ch.24 c. 35 ).

Nếu Càn-Khôn là Càn-Khôn mới thì 64 quẻ Dịch ( tượng trưng cho những thời đại ) sẽ luôn luôn đổi mới. Sáu mươi tư quẻ Dịch luôn luôn đổi mới thì các cặp Âm / Dương cũng luôn luôn đổi mới. Điển hình là thanh niên thiếu nữ thời bây giờ với thanh niên thiếu nữ thời NP hay thời 1954 ở VN khác nhau rất xa, dù cho họ cũng chỉ là con trai / con gái ở tuổi thanh xuân ( biến dịch mà bất dịch ).

Khi bàn về quẻ Bát Thuần Càn thì:
- "Sơ cửu,tiềm long vật dụng" (hào sơ cửu là rồng còn ẩn mình, đừng dùng, hay chưa nên dùng).
- "Cửu nhị, hiện long tại điền. Lợi kiến đại nhân" (hào cửu nhị là rồng hiện ra ở nơi đồng trống, nơi mọi người đang ngước mắt nhìn lên, nếu gặp được người có uy quyền thì có lợi lắm, được trọng dụng).
- "Cửu tam, quân tử chung nhật kiền kiền. Tịch dịch nhược. Lệ vô cữu" (hào cửu tam là người quân tử lo lắng áy náy cả ngày. Chiều đến lòng mình chưa yên, nhưng nếu giử trọn đạo hạnh trước sau như một thì đâu có lỗi chi ?).

Ba hào nầy đều là Dương, gọi là cửu ( số 9, số tượng trưng cho hào dương ), nhưng ở 3 địa vị khác nhau là: ( khởi đầu, thấp kém), nhị ( thứ hai tức tâm điểm của nội quái ), tam ( thứ ba tức là ở vị thế cao không ra cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, mà lại không nằm trong tâm điểm để mọi người chú ý noi theo).
Do vậy tuy cùng là hào Dương nhưng hòan tòan khác biệt nhau. Đó là 3 cá thể riêng biệt, độc đáo, chứ không phải là một. Ba hào nầy tượng trưng cho 3 người công chính ở vào 3 địa vị khác nhau. Vậy họ phải hành xử ra sao cho một chung cuộc tốt đẹp nhất ?
Suy ra mỗi một hào trong sáu mươi tư quẻ là mỗi một cá thể độc đáo dù cùng là hào Dương hay cùng là hào Âm. Chứ không phải chỉ tóm gọn 1 hào không Dương thì Âm, không Âm thì Dương. Mỗi một hào Dương hoặc Âm nầy có thể đi đến những biến chuyễn cá biệt, tùy theo cơ duyên nhân qủa, sẽ ảnh hưởng
lên chính nó và tác động đến tòan quẻ.
Thế giới nầy dù có đến 5 hay 6 tỉ người thì một con người nhỏ bé trong số đó vẫn có tính duy nhất (không có một bản sao tòan hảo bất chấp kỷ thuật Cloning) và có thể ảnh hưởng đến tòan thể nhân lọai.
Hảy lấy trường hợp của bà Rosa Louise McCauley Parks (February 4, 1913 – October 24, 2005). Người phụ nữ da đen được Quốc Hội Mỹ tặng danh hiệu "the first lady of civil rights" và "the mother of the freedom movement". Bà chỉ làm một việc rất là nhỏ nhoi, đơn giản bất bạo động nhưng vô cùng quyết liệt. Dó là bà đã từ chối nhường chổ ngồi cho một hành khách da trắng đến sau với lý do bà là người da đen thì phải làm như thế. Cũng may đó là nước Mỹ vào năm 1955, nên bà chỉ bị bắt giam vì "bất tuân dân sự" và bị truy tố về tội vi phạm điều luật "Cách ly chủng tộc đen - trắng". Mặc dù sau đó bà được thả ra, nhưng phải bị đuổi khỏi sở làm và bị đe dọa đến tính mạng. Thế nhưng hành động phản kháng của bà và cuộc "tẩy chay công ty xe búyt Montgomery ( Alabama)" trở thành một biểu tượng quan trọng cho phong trào nhân quyền trên thế giới hiện nay.
Cũng nhờ vậy mà điều luật "Cách ly chủng tộc đen - trắng" đã hòan tòan bị xóa bỏ ở Mỹ ( dĩ nhiên là cùng với cái giá phải trả là sinh mạng của Mục Sư Martin Luther King, Jr. đã bị cướp đi).

This post has been edited 12 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 6th 2016, 6:45am)


327

Friday, July 1st 2016, 7:02am

Vâng, Thái Cực ( vô cùng to lớn ) phải chứa vô vàn cặp Âm / Dương để dựng nên thế giới nầy.
Có những cặp Âm / Dương có thể nhận biết được và hữu hình, cũng có những cặp Âm / dương chưa thể nhận biết được và vô hình.

Do đó Dịch lý không chỉ nói về thế giới vật chất hữu hình mà còn bao gồm cả thế giới tâm linh và vô hình.
Dịch lý mô phỏng lại qúa trình tương tác của vật chấttâm linh (matter and spirit), mà tâm linh (mind and soul) là cảnh giới của siêu nhiên và tư tưởng.
Điều nầy đã được người xưa thể hiện bằng cặp 3 tạo thành bát quái ( 3 hào cho nội quái và 3 hào cho ngọai quái ).
Ba hào tức là tam tài: Thiên-Địa-Nhân, là 3 thành tố Siêu nhiên-Vật chất-Tư tưởng, là Thời gian-Không gian-Con người. Chính tư tưởng đã định hướng hành động của con người khi tương tác với môi trường thiên nhiên trong từng thời đại.
Ba hào nội quái ứng với ba hào của ngọai quái cho nên có 3 cặp đôi âm /dương tương ứng đối đãi với nhau, thí dụ điển hình là:
- Thiên: trong thời đại của Chủ Nghĩa Xã Hội / hay của Chủ Nghĩa Tư Bản.
- Địa: trên bình diện của Quốc Gia / hay của Quốc tế.
- Nhân: với tư duy vì Cá Nhân / hay vì Tập Thể ( vị kỷ hay vị tha, vì mình hay vì người ).
Suy ra:
- Nội quái ( từ dưới lên trên ): Cá Nhân ( hào 1), Quốc Gia ( hào 2 ), Tư Bản ( hào 3 ).
- Ngọai quái ( từ dưới lên trên ): Tập Thể ( hào 4 ), Quốc Tế ( hào 5 ), Xã Hội ( hào 6 ).
Tinh thần của nội quái là vì mình ( vị kỷ ).
Tinh thần của ngọai quái là vì người ( vị tha ).

Nếu như tinh thần vì mình của nội quái bị đè nén nên mềm yếu, thiếu ý chí vươn lên ( âm nhu ) thì ta có 3 hào âm là tượng của quẻ Khôn.
Nếu như tinh thần vì người của ngọai quái là áp đặt, duy ý chí, cực đoan ( dương cương ) thì ta có 3 hào dương là tượng của quẻ Càn.
Càn trên Khôn là quẻ Thiên Địa Bĩ.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 3rd 2016, 4:59am)


328

Saturday, July 2nd 2016, 6:31am

Quẻ Thiên Địa Bĩ ( 天 地 否 ).
Thoán viết.
Bĩ chi phỉ nhân. Bất lợi quân tử trinh. Đại vãng tiểu lai. Tắc thiên địa bất giao nhi vạn vật bất thông dã. Thượng hạ bất giao nhi thiên hạ vô bang dã. Nội Âm nhi ngoại Dương. Nội nhu nhi ngoại cương. Nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử. Tiểu nhân đạo trưởng. Quân tử đạo tiêu dã.
( 否 之 匪 人 . 不 利 君 子 貞 . 大 往 小 來 . 則 是 天 地 不 交 . 而 萬 物 不 通 也 . 上 下 不 交 . 而 天 下 無 邦 也 . 內 陰 而 外 陽 . 內 柔 而 外 剛 . 內 小 人 而 外 君 子 . 小 人 道 長 . 君 子 道 消 也 . )


Dịch:


Thóan rằng ( lời bàn tổng quát):
Bĩ là lúc con người chia rẽ. Chẳng có lợi cho quân tử kiên trì. Điều to lớn sẽ đi mất, điều nhỏ nhen sẽ trở lại. Bởi vì trời đất bế tắc nên mọi vật không thông suốt. Bởi vì trên dưới không cảm thông nên mọi người chịu cảnh nước mất nhà tan. Bên trong thì tối ám, bên ngòai thì sáng lòa. Bên trong thì yếu hèn, bên ngòai thì cứng nhắc. Bên trong thì bọn tiểu nhân cấu kết, bên ngòai thì quân tử bị cách ly. Thế lực của tiểu nhân ngày càng lớn, đạo lý của quân tử ngày càng hao mòn.

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 3rd 2016, 3:44am)


329

Sunday, July 3rd 2016, 4:03am

Quẻ Thiên Địa Bĩ ( 天 地 否 ) có nghĩa là trời đất bế tắc.
Tại sao bế tắc và bế tắc như thế nào ?

Để minh thị cho tình huống nầy ta hảy tạm dùng một mô thức giả định có tính năng hình học giải tích.

Đó là đồ thị, với 2 trục tọa độ là Lợi ích ( trục y ) và Sức ép ( trục x ), của hai hàm số:

- Lợi ích của cá nhân: y = -ax
- Lợi ích của tập thể: y = ax
Với một Sức ép từ bên ngòai là không ( S = 0 ) của nền kinh tế chỉ huy, thì cả hai lợi ích của tập thể và lợi ích của cá nhân đều là không ( Lt = 0 & Lc = 0 ). Đó là tình trạng mà cá nhân thì động cơ trục lợi bị triệt tiêu nên không còn muốn tạo ra lợi ích gì. Còn tập thể thì chì gồm tòan những con người thụ động nên chẳng làm nên cơm cháo gì !
Khi có một sức ép từ bên ngòai ( S > 0 ) của nền kinh tế chỉ huy thì lợi ích của tập thể được tạo ra ( Lt > 0 ), nhưng lợi ích của cá nhân bị lấy đi ( Lc < 0 ) để hy sinh cho tập thể.

Với một Sức ép tối đa ( +Smax ) thì lợi ích của tập thể, trên lý thuyết, sẽ là tối đa ( +Ltmax ), còn lợi ích của cá nhân sẽ là mất mát tối đa ( -Lcmax ).
Kết quả:
- Đường biểu diển của Lợi ích tập thể ( y = ax ) rõ ràng là đi lên.
- Đường biểu diển của Lợi ích cá nhân ( y = -ax ) rõ ràng là đi xuống.
( Ngọai quái là Càn, khí dương nên đi lên. Nội quái là Khôn, khí âm nên đi xuống ).
Và thế là Thiên Địa bất giao ( một đằng ở trên mà đi lên, còn một đằng
ở dưới mà đi xuống thì làm sao gặp nhau, làm sao có chung một quan điểm ??? ).

This post has been edited 9 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 10th 2016, 6:18am)


330

Sunday, July 10th 2016, 6:29am

Thiên Địa bất giao thì Thiên Địa Bĩ.
Bởi vì trời đất bế tắc nên mọi vật không thông suốt. Bởi vì trên dưới không cảm thông nên mọi người chịu cảnh nước mất nhà tan.
Hảy lấy trường hợp của nước Vajjì (Bạc-kỳ) khi Đức Phật còn tại thế làm ví dụ:

Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya)
Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn (Mahàparinibbàna sutta)
Tụng phẩm I
( Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ).
Vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân Vajjì (Bạc-kỳ) này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì (Bạc-kỳ); ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì (Bạc-kỳ); ta sẽ làm cho dân Vajjì (Bạc-kỳ) bị hoại vong".

2. Rồi Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha (Ma-kiệt-đà):

- Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an:
"Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú. Bạch Thế Tôn, vua tự nói ta quyết chinh phạt dân Vajjì (Bạc-kỳ) này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì (Bạc-kỳ); ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì (Bạc-kỳ); ta sẽ làm cho dân Vajjì (Bạc-kỳ) bị hoại vong".
Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.

3. Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Ràjagaha (Vương Xá), đến tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu), đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta(A-xà-thế), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà) cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú.
Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta(A-xà-thế), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà) muốn chinh phục dân xứ Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: ta quyết chinh phạt dân Vajjì (Bạc-kỳ) này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì (Bạc-kỳ), ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì (Bạc-kỳ), ta sẽ làm cho dân Vajjì (Bạc-kỳ) bị hoại vọng.

4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì (Bạc-kỳ) thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.

- Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ananda dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì (Bạc-kỳ) như đã ban hành thời xưa không?

- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì (Bạc-kỳ) như đã ban hành thuở xưa.

- Này Ananda khi nào dân Vajjì (Bạc-kỳ), không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì (Bạc-kỳ) như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì (Bạc-kỳ) và nghe theo lời dạy của những vị này không?

331

Sunday, July 10th 2016, 6:36am

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì (Bạc-kỳ) và nghe theo lời dạy của những vị này.
- Này Ananda, khi nào dân Vajjì (Bạc-kỳ) tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì (Bạc-kỳ) phải sống với mình không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì (Bạc-kỳ) phải sống với mình.

- Này Ananda, khi nào Vajjì (Bạc-kỳ) không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì (Bạc-kỳ) phải sống với mình thời, này Ananda, dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì (Bạc-kỳ) ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì (Bạc-kỳ) ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì (Bạc-kỳ) tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì (Bạc-kỳ) ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì (Bạc-kỳ) khiến các vị A la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?

- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì (Bạc-kỳ) bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì (Bạc-kỳ) khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.

- Này Ananda, khi nào dân Vajjì (Bạc-kỳ) bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì (Bạc-kỳ) khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

5. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha (Ma-kiệt-đà):

- Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesàli tại tự miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì (Bạc-kỳ) bảy pháp bất thối này.
Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì (Bạc-kỳ), khi nào dân Vajjì (Bạc-kỳ) được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì (Bạc-kỳ) sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha (Ma-kiệt-đà), bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì (Bạc-kỳ) chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì (Bạc-kỳ) nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối.
Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà) không thể đánh bại dân Vajjì (Bạc-kỳ) ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.

- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.
Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha (Ma-kiệt-đà), hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 10th 2016, 6:48am)


332

Sunday, July 10th 2016, 6:51am

-----------------------------------
Chú thích:

Cuộc đời Thánh tăng Ananda - Hellmuth Hecker - Nguyễn Ðiều soạn dịch (1991):

Thuở bấy giờ, vua A Xà Thế (Ajatasattu) đang trị vì xứ Ma Kiệt Ðà (Magadha). Còn vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) thì mới bị lật đổ, đồng thời vương tộc Thích Ca cũng vừa trải qua một thảm kịch ghê gớm, cả dòng họ bị tàn sát. Hoàng tử Mahanama (anh em duy nhất còn tại gia của A Nan Ða) đã bị giết.

Lúc ấy ba sứ quân đầy thế lực cai trị ba lãnh địa nằm ở phía bắc sông Hằng (Ganga) gần núi Hy Mã Lạp Sơn là Koliyas, Mallas và Bạc-kỳ (Vajjì) đang tuyên bố độc lập, không thần phục đại vương A Xa Thế nữa.

Nhằm lúc vị vua này cũng có tham vọng đánh chiếm rồi sát nhập ba lãnh địa ấy vào ba lãnh thổ của mình, Ðặc biệt là vua A Xà Thế dự định sẽ chinh phục vùng Bạc-kỳ (Vajjì) trước tiên.

Trong xã hội Ấn Ðộ thuở bấy giờ, sự tin tưởng vào sức mạnh tinh thần của một sân tộc rất quan trọng. Chỉ cần làm cho một thế lực xâm lăng hiểu rõ điều đó, cũng đủ giúp cho đức Phật ngăn ngừa một cuộc chiến tranh.

Mãi về sau, khi đức Phật đã nhập Niết Bàn, xứ Vajjì (Bạc-kỳ) mới bị thôn tính, bởi vì dân tộc xứ này đã dần dần bỏ rơi và xa lìa những đức tính cũ, trở thành chia rẽ, không còn sức mạnh tinh thần, nên đã chẳng giữ được biên cương lãnh thổ của họ.

333

Sunday, July 10th 2016, 8:36am

Nhận định:

Thật đúng với câu: "Nước nào tự chia rẽ thì sẽ diệt vong, và thành nào hay nhà nào tự chia rẽ thì sẽ không đứng vững."( Mathew 12.25:
Every kingdom divided against itself will be ruined, and every city or household divided against itself will not stand.)
Trong thí dụ trên Đức Phật đã dạy cho dân xứ Vajjì (Bạc-kỳ) 7 phép bất thối ( 7 điều không lụn bại ):


1. thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau (practicing freedom of association )

2. làm việc trong niệm đoàn kết ( having the teamwork ).

3. không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì (Bạc-kỳ) như đã ban hành thuở xưa (observing the legality of enacted rules).

4. kính trọng các bậc trưởng lão và nghe theo lời dạy của những vị này ( making informed decisions ).

5. không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì (Bạc-kỳ) phải sống với mình ( respecting the human rights ).

6. tôn sùng, cúng dường các tự miếu của Vajjì (Bạc-kỳ) , không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đúng với quy pháp ( practicing freedom of religion ).

7. che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì (Bạc-kỳ) khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc ( supporting spiritual and religious leaders ).

Trong xã hội Ấn Ðộ thuở bấy giờ, sự tin tưởng vào sức mạnh tinh thần của một sân tộc rất quan trọng. Chỉ cần làm cho một thế lực xâm lăng hiểu rõ điều đó, cũng đủ giúp cho đức Phật ngăn ngừa một cuộc chiến tranh.
Mãi về sau, khi đức Phật đã nhập Niết Bàn, xứ Vajjì (Bạc-kỳ) mới bị thôn tính, bởi vì dân tộc xứ này đã dần dần bỏ rơi và xa lìa những đức tính cũ, trở thành chia rẽ, không còn sức mạnh tinh thần, nên đã chẳng giữ được biên cương lãnh thổ của họ.

Như vậy tinh thần và lối sống của một dân tộc mới là điều quan trọng nhất, chứ không phải là vũ khí hay là tài sản. Khi những giá trị tinh thần tốt đẹp bị phá bỏ, hoặc không được duy trì thì cộng đồng dân tộc đã đi vào một tiến trình tự hủy diệt rất lâu trước khi đất nước bị xâm chiếm. Cá nhân hay nhóm người nào làm việc nầy thì chính là thiên thu tội đồ của quốc gia. Tội nầy còn nặng hơn tội bán nước vì đã làm cho cả dân tộc bị diệt vong.

This post has been edited 9 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 10th 2016, 9:07pm)


334

Monday, July 11th 2016, 7:02pm

Tàu ngầm TQ đóng vai trò gì ở Biển Đông?
BBC Tiếng Việt

Một tòa án chuẩn bị ra phán quyết về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông hiện đang có tranh chấp. Nhưng phân tích gia Alexander Neill lập luận rằng mong muốn của Bắc Kinh là để kiểm soát nhiều hơn cả các đảo và bãi cạn. Nhà phân tích này cho rằng đây là tâm điểm của các kế hoạch của Trung Quốc cho một lực lượng tàu ngầm hạt nhân có thể hoạt động tại Thái Bình Dương.

Trong lịch sử, các dự án cơ sở hạ tầng quốc gia của Trung Quốc có xu hướng quy mô hoành tráng - Vạn lý Trường thành và Đập Tam Hiệp là những ví dụ từ cổ xưa tới hiện đại. Trung Quốc hiện đã chứng minh được năng lực trên biển với việc sắp khai trương một chuỗi các căn cứ quân sự tiên tiến trên Biển Đông, nơi chỉ cách đây hai năm chỉ là các mỏm đá, bãi cạn trong khu vực.

Sự chú ý của quốc tế tập trung vào lý do tại sao Bắc Kinh xây dựng các đảo nhân tạo nhanh đến thế. Có suy đoán rằng với việc Tòa án Trọng tài Thường trực ở The Hague sắp ra phán quyết của về tranh chấp lãnh thổ của Philippines với Trung Quốc, Bắc Kinh triển khai nhanh các dự án để tạo ra "chuyện đã rồi".

Đối với Trung Quốc, chủ quyền quốc gia và uy tín của Đảng Cộng sản đang bị đe dọa. Thế nhưng biện pháp răn đe hạt nhân của họ trên biển cũng có rủi ro.

Việc xây dựng và cải tạo đảo phục vụ cho mục đích kép, vừa củng cố tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và vừa tạo ra một sự hiện diện liên tục của Trung Quốc, cả quân sự và dân sự tại Biển Đông.

Trung Quốc đã lập luận rằng, việc cải tạo đảo không chỉ là biện pháp bảo vệ cần thiết cho các đảo của họ mà cũng sẽ phục vụ cho lợi ích công cộng. Trung Quốc đã xây dựng hải đăng và một bệnh viện trên Bãi Chữ thập (Fiery Cross) và nhiều khả năng cũng sẽ xây các
cơ quan hành chính của chính phủ trên các đảo đó.


Nhưng một yếu tố hết sức quan trọng đối với các động cơ của Trung Quốc cho việc cải tạo đảo, đó là chiến lược dưới mặt biển.

Những quan ngại ngày càng tăng của Quân Giải phóng Trung Quốc (PLA) về điểm yếu đối với khả năng răn đe bằng hệ thống vũ khí hạt nhân trên đất liền của mình cũng như khả năng thực hiện một đòn tấn công thứ hai nhằm trả đũa khiến Trung Quốc đặt một số đầu đạn hạt nhân trên tàu ngầm tàu của họ.

Hai năm trước, lần đầu tiên Trung Quốc đã triển khai tàu ngầm lớp Jin có tên lửa đạn đạo, và trang bị mỗi tàu có 12 tên lửa hạt nhân JL-2.

Hoạt động từ căn cứ hiện đại gần Tam Á, ở mũi cực nam đảo Hải Nam, tàu ngầm lớp Jin hiện đang tuần tra ở các độ sâu khác nhau tại Biển Đông. Nhưng để ra được phạm vi có tầm bắn với tới Hoa Kỳ, họ phải có khả năng ra đưa được tàu ra Thái Bình Dương.

Trước khi các tàu ngầm thực hiện được điều này, họ phải rời khỏi căn cứ ở Hải Nam và băng qua Biển Đông để đến Thái Bình Dương mà không bị phát hiện. Lầu Năm Góc tin rằng chuyến đi đầu tiên như vậy tại Thái Bình Dương sẽ xảy ra trong năm nay.

Có một vùng rộng lớn tại phía nam của Biển Đông là khá nông – độ sâu dưới 100m. Tuy nhiên, gần tiếp giáp với "đường chín đoạn" (đường mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của Biển Đông) thì thềm lục địa có độ sâu khoảng 4,000m, tạo điều kiện tốt hơn cho tàu ngầm hoạt động.

Đó là lý do tại sao một số chuyên gia tin rằng vùng nước sâu của Biển Đông, và những nỗ lực của Trung Quốc tăng cường chống tàu ngầm ở đó, có thể tạo địa bàn cho các tàu ngầm của Trung Quốc trong tương lai.

Trong những năm gần đây, độ sâu của Biển Đông đã trở thành tâm điểm cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Đầu năm 2009, các tàu đánh cá Trung Quốc đã cố gắng cắt các dây cáp nối vào thiết bị cảm biến thủy âm được kéo đi bởi tàu USNS Impeccable của Mỹ ở vùng biển ngoài khơi đảo Hải Nam.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 12th 2016, 4:33am)


335

Tuesday, July 12th 2016, 4:35am

Cũng trong năm đó, một tàu ngầm Trung Quốc đâm vào thiết bị cảm biến thủy âm được tàu khu trục USS John McCain của Mỹ kéo tại gần Vịnh Subic ngoài khơi bờ biển của Philippines.

Gần đây, Trung Quốc đã cho ra mắt công nghệ mới để săn tìm tàu ngầm. Ngày 08 tháng 6, Hải quân Trung quốc đã đóng một tàu khu trục mới Loại 056A, đặt tên là Qujing, và quảng bá về khả năng tác chiến chống tàu ngầm và nói đưa tàu này ra khu vực Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter cũng đã công bố rằng Lầu Năm Góc sẽ đầu tư 8 tỷ USD để đảm bảo sức mạnh cho lực lượng tàu ngầm bằng “hoạt động yên ắng" kể cả việc triển khai các tàu ngầm không người lái mới trong khu vực.

Cũng giống như cách mà Hoa Kỳ và các đồng minh của Washington đã và đang tạo ra một mạng lưới có các thiết bị dò âm trên đáy biển trên khắp châu Á để phát hiện tàu ngầm của Nga trong chiến tranh lạnh, Trung Quốc hiện có thể triển khai một mạng lưới tương tự từ các căn cứ của họ trên khắp Biển Đông.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy các đảo mới cải tạo của Trung Quốc đang được trang bị nhiều thiết bị tiên tiến bao gồm các loại radar và các trạm thông tin liên lạc vệ tinh, tất cả đều tăng cường cho khả năng phản ứng theo tình huống lực lượng của hải quân cho trên không và dưới mặt nước tại Biển Đông.

Công nghệ như vậy cũng có thể giúp về hạ tầng thông tin liên lạc về chỉ huy và kiểm soát cho lực lược tàu ngầm tên lửa đạn đạo của Trung Quốc, không chỉ giúp lực lượng này tránh bị phát hiện mà còn nhắm tới mục tiêu bất kỳ kẻ thù nào.

Alexander Neill là chuyên viên nghiên cứu lâu năm tại Viện nghiên Cứu chiến lực châu Á IISS-Asia.[font='&quot'][/font]

336

Wednesday, July 13th 2016, 6:05pm

Trở lại với câu chuyện đang dang dỡ của Kinh Dịch:

Quẻ Thiên Địa Bĩ ( 天 地 否 ) có nghĩa là trời đất bế tắc, là Thiên Địa bất giao ( một đằng đi lên, một đằng đi xuống thì làm sao gặp nhau, làm sao có chung một quan điểm ??? ).

Đã không có cùng quan điểm thì ắt phải có kiện tụng tranh giành. Cho nên sau quẻ Quẻ Thiên Địa Bĩ ( 天 地 否 ), NP e rằng phải là quẻ Thiên Thủy Tụng ( 天 水 訟 ), mà nguyên nhân đã được nói rõ trong thứ tự của các quẻ của Kinh Dịch: Quẻ Thiên Thủy Tụng ( 天 水 訟 ), tự quái nói rằng vì có nhu cầu ăn uống thì phải có kiện tụng, tranh giành. Cái mà người ta cần dùng là sự ăn uống mà đã phải mong đợi thì sẽ nảy sinh ra tranh kiện. Từ xưa tới nay vì miếng ăn thường xảy ra kiện cáo, tranh giành, mà đa số kiện cáo cũng từ miếng ăn, vật chất phân phối không đều mà ra.

Nếu đã xảy ra tranh giành mà việc phân xử kiện tụng không được thỏa mãn theo ý muốn thì ắt sẽ dùng đến bạo lực, sức mạnh quân sự. Cho nên sau quẻ Thiên Thủy Tụng ( 天 水 訟 ) là quẻ Địa Thủy Sư (地 水 師). Sư có nghĩa là quân lính, đông người, quần chúng, quẻ Địa Thủy Sư (地 水 師) thì quẻ Khảm dưới, quẻ Khôn trên, hào dương làm chủ quẻ dưới ( hào dương ngôi 2 ) nên có tượng là ông tướng chỉ huy.Vì vậy quẻ Sư nối tiếp quẻ Tụng và nó có nghĩa là ông tướng chỉ huy quân đội, là sự động binh.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 13th 2016, 6:15pm)


337

Wednesday, July 13th 2016, 6:38pm

Những điểm chính của phiên tòa về Biển Đông
BBC Tiếng Vịêt
12 tháng 7 2016

Vào lúc 11 giờ trưa ngày 12/7, Tòa Trọng tài Thường trực tại Hague (PCA) ra phán quyết chung cuộc vụ Philippines kiện Trung Quốc về 'Đường Chín Đoạn', hay còn gọi là 'Đường Lưỡi Bò' trên Biển Đông. Tòa Trọng tài Thường trực ở Hague tuyên bố không có bằng chứng lịch sử cho thấy Trung Quốc có thể kiểm soát đặc quyền các vùng biển và nguồn tài nguyên. Trung Quốc nói sẽ không công nhận phán quyết của Tòa và tiếp tục bảo vệ quyền lợi của nước này.

Những điểm chính về công bố của phiên tòa như sau:

• Phiên tòa được mở để xem xét về chủ quyền lịch sử và chủ quyền hàng hải tại biển Đông, tư cách pháp lý của các thực thể và những hành động phi pháp của Trung Quốc khi không tuân thủ Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, theo như cáo buộc của Philippines.
• Phiên tòa không đưa phán quyết về chủ quyền lãnh thổ hoặc giới hạn về biên giới quốc gia.
• Trung Quốc đã từ chối tham gia phiên tòa xét xử vụ kiện đơn phương từ phía Philippines. Điều này cũng không làm cản trở phiên tòa diễn ra khi trước đó, Tòa Trọng tài đã phản hồi Trung Quốc rằng họ có đầy đủ thẩm quyền để xét xử và hồ sơ kiện “có cơ sở dựa trên sự thật lẫn pháp lý”

Chủ quyền mang tính lịch sử và ‘Đường Chín Đoạn’:

• Tòa kết luận rằng không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên nằm trong vùng biển trong ‘ Đường Chín Đoạn’. (Đường Chín Đoạn được Trung Quốc đưa ra để xác lập chủ quyền lãnh thổ, kéo dài hàng trăm dặm xuống phía đông và phía nam, tính từ điểm cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam).
• Mặc dù các nhà hàng hải Trung Quốc và ngư dân của họ, cũng như những người như vậy từ các Quốc gia khác, đã từng trong lịch sử sử dụng những hòn đảo này ở Biển Đông, hiện không hề có chứng cứ gì rằng Trung Quốc đã thực thi về mặt lịch sử sự kiểm soát đặc quyền trên toàn vùng nước hay tài nguyên.

Tính pháp lý của thực thể:

• Phiên tòa xem xét tư cách pháp lý đối với vùng biển xung quanhnhững thực thể như là bãi đá ngầm, bãi đá và đảo.
• Những bãi đá ngầm (phải nổi trên mặt nước khi thủy triều lên đểcó thể khẳng định là một thực thể trên biển) đã bị thay đổi hiện trạng bởi Trung Quốc, trong khi Công ước của Liên Hợp Quốc nói những thực thể này phải được xem xét dựa trên ‘nguyên trạng tự nhiên’.
• Vì vậy, phiên tòa dựa trên ‘những chứng cứ lịch sử’ khi đánh giá về những thực thể này, chứ không phải dựa trên tình trạng hiện nay.
• Phiên tòa cũng xem xét sự khác nhau giữa bãi đá và đảo, phán quyết rằng ‘sự hiện diện hiện nay của quan chức và nhân viên trên nhiều thực thể, vẫn phụ thuộc vào sự trợ giúp từ bên ngoài nên không phản ảnh được tính chất của những thực thể này’. Vì thế, những thực thể này là bãi đá, con người không thể duy trì sự cư trú một cách độc lập nên không thể xác lập chủ quyền vùng biển xung quanh, khác với những hòn đảo, là những thực thể có thể xác lập chủ quyền vùng biển quanh nó.
• Đối với lịch sử của quần đảo Trường Sa, phiên tòa nói chỉ được ngư dân và những người lấy phân chim sử dụng một trong thời gian ngắn.
• Vì thế, quần đảo Trường Sa không đủ điều kiện để mở rộng vùng biển, đối với đảo đơn lẻ và cả quần đảo gộp chung.
• Tòa cũng kết luận rằng không một thực thể nào do Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đủ điều kiện xác lập ‘vùng đặc quyền kinh tế’, ‘một số vùng biển cụ thể’ nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines vì ‘những khu vực này không chồng lấn với các vùng biển có thể thuộc quyền Trung Quốc'. Hành động của Trung Quốc xét về luật pháp
• Sau khi đưa ra phán quyết rằng một số vùng biển ở Biển Đông thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, phiên tòa kết luận Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền của Philippines qua việc cản trở đánh bắt cá và thăm dò dầu khí, xây dựng đảo nhân tạo và không ngăn cản ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá tại những khu vực này.
• Các tàu của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc đã ‘tạo nên nguy cơ va chạm khi ngăn cản các tàu cá của Philippines một cách phi pháp’.

Gây nguy hại cho môi trường biển:

• Trung Quốc ‘gây nguy hại nghiêm trọng’ cho các bãi san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ đối với hệ sinh thái.
• Nhà chức trách Trung Quốc biết rõ rằng ngư dân của họ đánh bắt những loài sinh vật biển có nguy cơ tiệt chủng như cho rùa biển, san hô và các loại trai lớn ‘với qui mô lớn’ và đã không làm tròn nghĩa vụ khi không có biện pháp ngăn cản.

Tranh chấp ngày càng căng thẳng:

• Tòa nói việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với các đảo và đảo nhân tạo là ‘không phù hợp với nghĩa vụ của một quốc gia khi tranh chấp chưa có giải pháp’, để nói về việc ‘gây hại cho môi trường một cách vĩnh viễn’, xây dựng các đảo nhân tạo lớn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và tiêu hủy những bằng chứng về hiện trạng tự nhiên của thực thể liên quan đến tranh chấp.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 13th 2016, 6:47pm)


338

Wednesday, July 13th 2016, 6:58pm

Phản ứng của TC:

TC gọi phán quyết của Tòa Trọng tài là ‘không có căn cứ’ và nói sẽ không tuân theo.

Trong thông cáo của bộ Ngoại giao, Trung Quốc nói mình là là nước đầu tiên phát hiện và khai thác các quần đảo ở Biển Đông và vùng biển xung quanh, ‘vì thế xác lập chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền vùng biển cũng như lợi ích.’
Bắc Kinh "có quyền" tuyên bố một vùng nhận dạng phòng không tại Nam Hải (Biển Đông), một thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc nói hôm thứ Tư. Ông Lưu Chấn Dân nói rằng liệu Trung Quốc có lập một vùng như vậy hay không tùy thuộc vào mức độ đe dọa mà Bắc Kinh nhận thấy:
"Đừng biến Nam Hải thành cái nôi của chiến tranh. Mục tiêu của Trung Quốc là biến Nam Hải thành biển của hòa bình, hữu nghị và hợp tác,"
Tại cuộc họp báo sau phán quyết của tòa PCA trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, ông Lưu nói thêm:
“Vấn đề cốt lõi của các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Philippines tại Nam Hải nằm ở chỗ Philippines dùng vũ lực xâm chiếm một số đảo và bãi ngầm của Trung Quốc tại Nam Sa. Tuyên bố về chủ quyền của Philippines là vô căn cứ chiểu theo cả lịch sử lẫn luật quốc tế. Trung Quốc luôn nỗ lực không ngừng nghỉ để giải quyết các tranh chấp với Philippines một cách hòa bình.”
('Trung Quốc có quyền tuyên bố vùng ADIZ' – BBC Tiếng Việt ngày 13 tháng 7 2016 )

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 13th 2016, 7:03pm)


339

Thursday, July 14th 2016, 6:35pm

Cắt bỏ Trung Cộng khỏi Trung Quốc (Phần 1)
Bài viết của Đàn Phong Trần

[MINH HUỆ 06-02-2014] Trong tài liệu giảng chân tướng của các học viên Pháp Luân Công, có hai bất đẳng thức, một là Trung Cộng ≠ Trung Quốc, hai là Yêu đảng ≠ Yêu nước. Không biết bạn hiểu về hai bất đẳng thức này được bao nhiêu, tán đồng bao nhiêu, hay bạn có suy nghĩ gì khác không. Bài viết này sẽ tiến hành tìm căn cứ cho mệnh đề này.

I. Bảng phân biệt Trung Cộng ≠ Trung Quốc, Yêu đảng ≠ Yêu nước :

Thế giới quan
- Xưa nay thế giới quan truyền thống của Trung Quốc là hữu thần luận, tin vào thiên đường và địa ngục, thiện ác báo ứng, Trung Quốc được gọi là Thần Châu.
-Thế giới quan của Trung Cộng là vô thần luận, đầu độc đại đa số người Trung Quốc ngày nay thành những người vô thần. Kỳ thực Mác là giáo đồ của quỷ Sa tăng, là người hữu thần, chỉ là y tin vào quỷ Sa tăng tà ác, chứ không tin vào Chính Thần.
Tính chất thực thể
- Trung Quốc là một quốc gia, là đất nước phương Đông hoàn thiện có biên cương, lãnh thổ trên bản đồ thế giới, có ngôn ngữ văn hóa, nhân chủng, nhân khẩu và những người chấp chính các triều đại.
- Thuộc tính căn bản của Trung Cộng là đoàn thể xã hội. Trung Cộng là một tổ chức phi pháp thành lập không công khai trong thời kỳ Trung Hoa dân quốc, vốn là một chi bộ Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản chiếm cứ tại Liên Xô. Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, thuộc tính căn bản của đoàn thể xã hội đó không thay đổi. Điểm khác biệt là, nó lợi dụng địa vị đặc quyền chấp chính của mình, cưỡng ép quy định bản thân có thể tồn tại hợp pháp mà không cần thông qua đăng ký theo luật của đoàn thể xã hội hiện hành. Dùng ý niệm về luật của đoàn thể xã hội được quốc tế công nhận, Trung Cộng chưa qua đăng ký vĩnh viễn vẫn chỉ là một đoàn thể xã hội phi pháp. “cửu bình cộng sản đảng” nêu rõ, Trung Cộng có mọi đặc trưng của một tôn giáo, vì nó không tin Chính Thần, cho nên nó lại là một tà giáo.
Nội hàm văn hóa
- Văn hóa Thần truyền Trung Quốc: hữu thần luận, bái Thần lễ Phật, tế Trời bái Đất, Thiên nhân hợp nhất. Thích Giáo, Đạo Giáo, Nho Giáo cùng nhau huy hoàng, cùng nhau dung hợp. Cái thiện của Phật gia, cái Chân của Đạo gia chỉ đạo người tu hành xuất thế; Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là quy phạm đạo đức và quy tắc làm người của người Trung Quốc.
- Văn hóa Trung Cộng: vô thần luận báng bổ Thần hủy diệt Phật, đấu với Trời đấu với Đất, tuyên dương nhân định thắng Thiên. Khống chế chín nhân tố tà ác: Tà (lừa dối), Phiến (kích động), Đấu (đánh nhau), Thưởng (súng), Bĩ (lưu manh), Gián (gián điệp), Diệt (giết), Khống (vu khống) vào trong một lò, phủ định giá trị của con người, đảng tính thay thế nhân tính.
Cội nguồn văn hóa
- Văn hóa Trung Quốc lấy Phục Hy, Thần Nông, Toại Nhân Thị làm biểu tượng. Nhìn lại từ thời kỳ thượng cổ, đều được coi là tín ngưỡng chân chính với các chính Thần đại đạo từ thời xa xưa.
- Đảng Cộng Sản Trung Quốc lấy Các Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Stalin làm biểu tượng, tìm về nguồn cội của giáo phái ma quỷ Sa tăng tại nước Đức. Tư liệu lịch sử nghiên cứu chứng minh, Mác là giáo đồ Sa tăng, lý luận bạo lực cách mạng chính là thoát thai từ Sa tăng giáo, giáo nghĩa, giáo lý Sa tăng là mọi ngọn nguồn của văn hóa Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Kinh điển trị quốc
- Kinh điển trị quốc của Trung Quốc xưa nay là “Kinh Dịch”, “Đạo Đức Kinh”, “Luận Ngữ”, dạy con người thuận Thiên nhi hành (theo Trời mà hành sự), hậu đức tài vật, nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên, chú trọng Thiên, Địa, Quân, Thân, Sư, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
- Trung Cộng lấy “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”, “Mao Tuyển” làm kinh điển. Chủ trương bạo lực, phản truyền thống, không có ranh giới quốc gia; tuyên dương lịch sử quan duy vật, chặt đứt mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, bóp méo những quy luật lịch sử nhân loại, kích động thù hận giai cấp, tạo ra những biến động xã hội.
Nhận tổ quy tông
- Tổ tiên của Trung Quốc: Tổ tiên của Trung Hoa Phương Đông là Tam Hoàng Ngũ Đế, Đường Tông, Tống chủ
- Tổ tiên hải ngoại của Trung Cộng: Mác giáo đồ Sa tăng phương Tây
Thời gian tồn tại
- Lịch sử văn minh Trung Quốc khoảng 5.000 năm, thời kỳ tiền sử lại càng lâu đời.
- Trung Cộng thành lập năm 1921, lịch sử có gần trăm năm. Tính cả Mác mới không quá 200 năm.
Vận mệnh tương lai
- Trung Quốc sẽ vĩnh viễn đứng vững với thế giới phương Đông.
- Trời diệt Trung Cộng, tính đến hết tháng 02 năm 2014, số người công khai tuyên bố thoái xuất khỏi các tổ chức Đảng, Đoàn, Đội đã lên đến con số hàng trăm triệu người. Hiện giờ con số này ngày một tăng nhanh chóng với hàng chục nghìn người. Ngày Trung Cộng giải thể không còn xa.

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 14th 2016, 7:06pm)


340

Friday, July 15th 2016, 6:09am

II. Phân tích những vấn đề liên quan giữa Trung Cộng ≠ Trung Quốc, Yêu Đảng ≠ Yêu Nước

Nhằm nói rõ về mệnh đề Trung Cộng ≠ Trung Quốc, Yêu đảng ≠ Yêu nước này, chúng ta hãy cùng nhau phân tích sâu hơn về những vấn đề có liên quan, xem xem rốt cuộc Trung Cộng và Trung Quốc khác nhau như thế nào.

1. Sử quan (quan ghi chép lịch sử) trong lịch sử Trung Quốc vì ghi chép sự thật mà mất mạng, Sử quan của Trung Cộng vì ham sống mà giả tạo lịch sử

-Trung Quốc có 5.000 năm lịch sử chi tiết và minh xác, các sử gia có sao viết vậy, vì lưu lại cho con cháu lịch sử chân thực mà không tiếc hy sinh sinh mệnh.
Tư Mã Thiên bị cung hình ( bị họan ) vẫn viết “Sử ký”, điều này nhân dân ai ai cũng biết.
“Tả truyện” ghi chép, Thôi Trữ, thân là thần tử đã giết Tề Trang Công dâm loạn vô đạo, ba anh em sử gia Thái Sử Bá là quan ghi chép lịch sử nước Tề, vì ghi chép chân thực vụ việc này, lần lượt bị Thôi Trữ chém đầu. Tứ đệ thân là sử quan không vì ba người anh trai bị giết mà thay đổi thiên tính của sử gia, Thôi Trữ đành phải phục tùng điều đó. Bốn huynh đệ vì ghi chép lại “Hạ ngũ nguyệt dĩ hợi, Thôi Trữ thí kỳ quân quang” (Mùa hè tháng 05 năm Ất Hợi – Năm 548 trước Công Nguyên, Thôi Trữ giết vua) mà lưu danh sử xanh.

-Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, một mặt nó sửa chữa có hệ thống sử sách của Trung Quốc, mặt khác sáng tác một cách tinh vi lịch sử giả dối của Trung Cộng. Dù là sửa đổi sử sách hay là sáng tác lịch sử giả dối, đều nhằm che đậy lịch sử giả dối, lịch sử đẫm máu của Trung Cộng, thiết lập sự “Vĩ đại, quang minh, chính đại” của Trung Cộng.

Lấy lịch sử kháng chiến làm ví dụ, trong sách giáo khoa về lịch sử kháng chiến, lịch sử Đảng, lịch sử quân đội đều nói mình là “Trụ cột trong kháng chiến chống Nhật”, nói “Quốc Dân đảng không kháng Nhật”, ngay cả ngày nay quảng đại quần chúng đều biết chân tướng lịch sử này, Trung Cộng cũng không chịu thay đổi cách nói này.

Lịch sử kháng chiến chân thực của Trung Quốc là như thế nào?
Chúng ta chỉ cần xem một dãy các con số là có thể minh bạch:

Trong vòng 8 năm từ tháng 07 năm 1937 đến tháng 08 năm 1945, quân của chính phủ Quốc Dân đảng đại chiến 22 lần, những trận chiến quan trọng lên đến con số 1.117, trận chiến nhỏ là 28.931.
Lục quân hơn 3 triệu người thiệt mạng, bị thương và mất tích; không quân thiệt mạng 4.321 người, máy bay bị hủy 2.468 chiếc; hải quân toàn bộ bị tiêu diệt.
Theo thống kê không toàn bộ, quan quân hy sinh trong kháng chiến là 36.33 triệu người, tướng quân hy sinh 206 vị.
Trong trận chiến bảo vệ Thường Đức, bức điện cuối cùng của tướng quân Từ Thành Vạn sư trưởng sư đoàn 57 thuộc quân đoàn 74 khiến người khác phải rơi lệ: “đạn hết, tuyệt nguồn viện trợ, người không, thành đã bị công phá”. Phó sư đoàn trưởng, tiểu sư đoàn, cục trưởng cục chính trị, cục trưởng cục tham mưu, hy sinh vì bảo vệ Ngân hàng Trung Ương, mỗi trưởng đoàn phân chia thành từng khu vực, bảo vệ một phòng, tiến hành cuộc kháng chiến cuối cùng, thề hy sinh đến hơi thở cuối cùng cùng chúc nhau thắng lợi. Quân đoàn 74 vạn tuế! Ủy viên trưởng họ Tưởng vạn tuế! Trận đánh đó, cả sư đoàn 8.000 người hy sinh toàn bộ.

Trung Cộng kháng chiến chỉ chết có 2 tướng quân: Tả QuyềnBành Tuyết Phong. Được Trung Cộng thổi phồng là cuộc đại thắng tại cửa khẩu Bình Hình, bát lộ quân chỉ tiêu hủy một đội vận chuyển của quân Nhật, đây chỉ là một phần của chiến dịch cửa
khẩu Bình Hình. Chiến dịch cửa khẩu Bình Hình lại là điểm nhỏ trong cuộc đại chiến Thái Nguyên của Quốc Dân đảng.

2. Người Trung Quốc hận Hán gian, Trung Cộng xuất thân là đảng Hán gian

Trung Cộng thành lập năm 1921, là một chi bộ Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản lần thứ 3, chịu sự khống chế của Đảng Cộng sản Nga Xô Viết. Quốc tế Cộng sản là tổng chỉ huy nhằm lật đổ chính quyền các nước trên toàn cầu. Cương lĩnh, nhiệm vụ, kinh phí của Trung Cộng đều từ trùm sỏ này chu cấp. Trung Cộng khởi đầu từ một đảng Hán gian, một đảng bán nước. Người Trung Quốc chửi Tần Cối, chửi Uông Tinh Vệ, nhưng chúng làm sao sánh được với đảng Hán gian Trung Cộng này.
Năm 1928, tổ chức hoạt động ngầm của Trung Cộng thâm nhập vào Đài Loan, bí mật thành lập “Chính quyền Đài Loan đỏ”.
Năm 1931, đúng trong thời khắc nguy hiểm khi Nhật xâm chiếm Trung Hoa, Trung Cộng thành lập “Hội nghị Quốc trung Quốc” (Nước trong một nước) tại Hồng Tây Thụy Kim, điều 14 trong Hiến pháp của nó quy định:
“Mọi dân tộc thiểu số và khu vực trong lãnh thổ Trung Quốc đều có quyền thoát ly khỏi Trung Quốc, thành lập một quốc gia độc lập.”
Trung Cộng cướp đoạt chính quyền từ Quốc Dân đảng, hòng được Liên Bang Nga Xô Viết chi viện, ủng hộ Mông Cổ độc lập, cùng ký kết hiệp ước bí mật với Stalin, bán đứng chủ quyền quốc gia và tài nguyên lương thực, công nghiệp, giao thông và khoáng sản tại Đông Bắc.
Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, nó đã lôi kéo những nước láng giềng, nhiều lần cắt đất cho Pakistan, Mianma, Nepal, Bắc Triều Tiên, Ấn Độ. Bắt đầu từ năm 1999, Giang Trạch Dân và Nga ký kết một loạt các điều khoản bán nước, chính thức vứt bỏ hơn 1 triệu m2 quốc thổ cho cựu Sa hoàng Nga và cựu Liên Xô xâm chiếm.
Tính đến ngày nay, Trung Cộng đã bán đứng hơn 3 triệu m2 quốc thổ, tương đương với 100 Đài Loan. Bán đứng quốc thổ, còn đáng sợ hơn kẻ cướp chiếm đất. Xâm chiếm sau này còn có thể đuổi quân thù ra khỏi lãnh thổ, còn thông qua điều khoản cắt đất cho nước khác thì vĩnh viễn không cách nào thu hồi lại.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 15th 2016, 6:20am)


26 users apart from you are browsing this thread:

26 guests

Similar threads