You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

361

Thursday, July 21st 2016, 7:07pm

Năm 1999, tức 15 năm sau đó, khi đang đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Chính trị Không quân Bắc Kinh, tôi lại cùng một vài đồng chí Trưởng ban như Vương Xuân Ba, Lưu Phan đến nghĩa trang liệt sĩ Ma Lật Pha. Lão Sơn vẫn xanh tươi như xưa. Lần đó, tôi chỉ mang rượu, thuốc lá từ Bắc Kinh, trước mộ Vương Nhân Tiên tôi đã rót rượu và châm thuốc mời anh. Tôi và các đồng chí đi cùng đều không cầm được nước mắt. Họ nói, Chủ nhiệm vẫn còn tình cảm sâu đậm với vùng đất này quá! Sau khi tôi đến công tác tại Không quân Thành Đô, tạm thời tôi vẫn chưa đi [Ma Lật Pha]. Đương nhiên là tôi muốn đi. Bia mộ ngàn năm vẫn biết nói. Khu vực Ma Lật Pha có vài nghìn ngôi mộ, đến gần mỗi ngôi mộ là đến gần một linh hồn. Đến gần nghĩa trang liệt sĩ Ma Lật Pha, những toan tính đời thường trong đầu không còn tồn tại nữa.[iii]

Bài đã đăng lần đầu tại trang Đông Tác Giao lưu (http://dongtac.hncity.org/) dưới tiêu đề “Vì sao Trung Quốc đánh Việt Nam?”.

————

TQ gọi là cuộc chiến “Lão Sơn (VN gọi là Núi Đất)” và “Giả Âm Sơn (VN gọi là Núi Bạc)”, tức cuộc lấn chiếm của TQ ở khu vực điểm cao 1509 huyện Vị Xuyên và Núi Bạc, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, VN, năm 1984. Trong một bài viết khác, Lưu Á Châu từng nói do thấy lính TQ chết nhiều quá mà điểm cao này không có giá trị chiến lược lớn, ông đã viết thư cho CTTQ Dương Thượng Côn kiến nghị hủy bỏ chiến dịch này. Mấy tháng sau phía TQ đã ngừng tấn công các điểm cao nói trên. N.D


[ii] Bản dịch của TTXVN.

[iii] Bản dịch của TTXVN.

362

Friday, July 22nd 2016, 6:26pm

Chính sách xoay trục sang Đông Á của Mỹ: Về phương diện hải quân
Posted on 29/08/2013 by The Observer
Nguồn: Christian Le Mière (2012). “America’s Pivot to East Asia:
The Naval Dimension”, Survival: Global Politics and Strategy, Vol. 54,
No. 3, pp. 81-94.
Biên dịch & Hiệu đính: Vương Tuấn Hưng


Công bố của Tổng thống Mỹ Barack Obama và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta vào đầu tháng 1 năm 2012 về việc điều chỉnh chiến lược quốc phòng đã khẳng định rằng Mỹ đang hướng sự chú ý tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương khi mà các cam kết tiến hành chiến tranh ở Trung Đông và Trung Á lắng xuống.

Trong một cuộc họp báo tại Lầu Năm Góc vào ngày 5 tháng 1, Tổng thống Obama, Bộ trưởng Quốc phòng Panetta và Tổng tham mưu trưởng Liên quân Martin Dempsey đã đề cập đến văn bản hướng dẫn chiến lược mới “Duy trì vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ: Những ưu tiên trong chiến lược quốc phòng thế kỷ 21”. Là sản phẩm của một quá trình rà soát lại những ưu tiên quốc phòng của Mỹ “trong thời
điểm quá độ”, văn bản này cho biết Mỹ sẽ “cần phải tái cân bằng sang khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”.1

Chính sách xoay trục về châu Á cũng đã được Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đề cập tới trong một bài trên tạp chí Foreign Policy vào tháng 11 năm 2011, trong đó bà nhấn mạnh rằng “Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ trong thập niên tới sẽ là thực hiện một khoản đầu tư gia tăng đáng kể trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, chiến lược,… vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.2

Tuy tài liệu “Duy trì vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ” không đề cập chi tiết về việc chuyển trọng tâm sang châu Á, một vài chi tiết trong số đó đã dần được nhận thấy một cách rõ ràng, đặc biệt là đối với lực lượng Hải quân và Thủy quân lục chiến. Sau công bố của Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Robert Gates tại đối thoại Shangri-La ở Singapore vào hồi tháng 6 năm 2011,3 trong một bài viết trên tạp chí Proceedings vào tháng 12 cùng năm, đô đốc Jonathan Greenart, Tư lệnh Hải quân mới của Mỹ, cho biết Hải quân Mỹ sẽ “triển khai một số tàu chiến gần bờ mới nhất đến cơ sở Hải quân của Singapore”.

Ông Greenart cũng đưa ra khả năng là cho đến năm 2025 Mỹ sẽ lần lượt điều động máy bay chống ngầm P-8A Poseidon hoặc “các khí cụ bay giám sát hàng hải không người lái phạm vi rộng” có thể được triển khai đến Philippines hoặc Thái Lan để “giúp những quốc gia này giám sát vùng biển”.4

Đây không phải là chi tiết đầu tiên được công bố trong chính sách phòng thủ của Mỹ ở châu Á. Vào tháng 11, Tổng thống Obama tuyên bố đã đạt được thỏa thuận với Australia cho phép đến 2.500 lính thủy đánh bộ đồn trú luân phiên 6 tháng một lần ở khu vực Lãnh thổ Phía Bắc nước này.5 200 lính thủy đánh bộ đầu tiên đã đến đây vào đầu tháng 4, cùng lúc 2 nước vẫn đang bàn luận về việc tăng thêm số tàu chiến của Hải quân Mỹ quá cảnh các căn cứ của Australia, đặc biệt là căn cứ HMAS Stirling.

Những cam kết chưa được triển khai cũng đã bắt đầu lộ diện và được ủng hộ trong năm qua. Cũng trong tháng 11, Ngoại trưởng Hillary Clinton, bằng việc ký “Tuyên bố Manila” với Ngoại trưởng Philippine Albert del Rosaria nhằm kỷ niệm 60 năm Hiệp ước phòng thủ chung 1951, đã một lần nữa tái khẳng định liên minh giữa Mỹ và Philippines. Sau khi ký tuyên bố trong một buổi lễ mang tính biểu tượng cao trên khoang tàu khu trục USS Fitzgerald ở Vịnh Manila, bà Hillary nói: “Chúng ta đang đảm bảo rằng năng lực phòng thủ chung và cơ sở vật chất thông tin liên lạc có thể hoạt động hiệu quả để răn đe những động thái khiêu khích”.6 Sau sự kiện này, Hải quân Philippine đã được Washington tặng một tàu chủ lực mới, tên là BRP Gregorio del Pilar, vốn là một tàu lớp Hamilton của lực lượng Tuần duyên Mỹ. Dự kiến Philippine sẽ có thêm một tàu chiến thứ 2 vào tháng 5.

Trong khi đó, Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu các hoạt động tăng cường quan hệ giữa hai quân đội thông qua các chương trình huấn luyện phi tác chiến trong tháng 7 năm 2011.

Tuy loạt công bố và sự kiện vừa rồi có thể gây ấn tượng rằng Mỹ đang tăng cường cam kết và sức mạnh quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhưng thực chất những diễn biến này bắt nguồn từ nỗ lực của Mỹ trong cả một thập niên qua nhằm phân tán bớt một phần lớn lực lượng đồn trú lâu dài ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Từ đó có thể thấy rằng Mỹ đang ra sức thực hiện một chiến lược kép ở châu Á thông qua việc củng cố những cam kết quân sự khác nhau, đồng thời tránh chọc giận Trung Quốc bằng những động thái triển khai quân được coi như hiếu chiến ở gần biên giới. Mục tiêu của Washington là duy trì sự hiện diện phô trương ở châu Á – Thái Bình Dương để vừa răn đe vừa xoa dịu TC, tránh những cuộc đối đầu trực diện.

Cùng thời điểm này, Trung Quốc, do có lực lượng hải quân yếu thế hơn so với Hải quân Mỹ, đã áp dụng một dạng chiến lược khá tương đồng với khái niệm “hạm đội hiện hữu” (“fleet-in-being”) được Bá tước thứ nhất xứ Torrington, Đô đốc Arthur Herbert của Hải quân Anh đưa ra vào thế kỷ 17. Cụ thể hơn, Torrington đã sử dụng sự có mặt một hạm đội của liên quân Anh-Hà Lan dù không có khả năng chiến thắng nhưng có thể gây thiệt hại đáng kể để răn đe không cho quân Pháp tấn công.[1] Cũng giống như vậy, trong khi cố gắng che giấu những điểm yếu của mình, TC đang muốn cho Mỹ thấy rằng họ có khả năng đáp trả bất cứ động thái gây gổ nào mà Mỹ có thể đưa ra.

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 22nd 2016, 6:58pm)


363

Friday, July 22nd 2016, 6:39pm

Hai chiến lược của Mỹ và TC đã tạo nên một mẫu hình đặc biệt về hành vi hải quân mang tính căng thẳng, phô trương, khi mà cả hai quốc gia đang phô diễn ý định và khả năng răn đe sự gây hấn của đối phương, nhưng đồng thời cũng cố gắng tránh đụng độ trực tiếp.

Lo ngại về phía TC là việc sử dụng chiến lược như vậy sẽ khiến Mỹ coi TCc như mối đe dọa an ninh chủ chốt và do đó sẽ tập hợp thêm lực lượng để đề phòng. Còn về phía Mỹ, việc phân tán lực lượng ra nhiều địa điểm để đối phó với chiến lược của TC sẽ làm giảm khả năng của các lực lượng Mỹ trong việc tiến hành những trận đánh mang tính quyết định.

Ngoài ra, cách tiếp cận của Mỹ tạo ra một không gian chiến lược “dễ thở” cho TC ở khu vực cận ngoại vi, do đó có thể khiến Đảng Cộng sản TC và Quân đội Giải phóng Nhân dân trở nên khinh địch, dẫn đến những tính toán sai lầm.

Chiến lược “hạm đội hiện hữu” của TC

Hạm đội hiện hữu” là một khái niệm thường dùng để chỉ chiến thuật được sử dụng bởi một lực lượng hải quân yếu thế hơn nhằm răn đe không cho đối phương tấn công hoặc làm suy yếu lực lượng địch qua những đợt tấn công nhỏ lẻ và liên tục thẳng vào lực lượng hải quân địch hoặc vào các con đường giao thông trên biển.

Bắt nguồn từ nỗ lực của Đô đốc Torrington nhằm tránh một cuộc quyết chiến với một hạm đội mạnh hơn nhiều của Pháp vào năm 1690 (trận chiến mà cuối cùng ông cũng không thể tránh khỏi, dẫn đến thất bại của quân Anh-Hà Lan tại Beachy Head), mục đích ban đầu của “hạm đội hiện hữu” là nhằm duy trì một sự hiện diện hải quân có thể quan sát được để hư trương thanh thế, khiến đối phương lo sợ phải chịu thiệt hại nặng nề khi đối đầu trực diện, từ đó làm đối phương mất đi nhuệ khí tấn công.
Như vậy, “hạm đội hiện hữu” sử dụng trong chiến thuật truyền thống này không thể tấn công do yếu thế hơn, nhưng cũng sẽ không rút khỏi vị trí chiến lược của mình mà ngược lại, giữ vững vị trí đó để ngăn chặn những cuộc tấn công vào chính nó hay vào lãnh thổ chủ quyền (mà nó đang phòng thủ).

Kể từ sau sự kiện Torrington, thuật ngữ “hạm đội hiện hữu” đã được dùng để chỉ những hành động của một hạm đội yếu thế nhằm làm suy yếu đối thủ mạnh hơn mà không phải thông qua các trận đánh quyết định, thay vào đó là những đợt tấn công hạn chế hoặc làm gián đoạn nguồn tiếp tế, hay thậm chí là chỉ bằng chính sự có mặt của nó. Theo Geoffrey Till, chiến thuật này thường có 4 mục tiêu:

- đạt được một mức độ kiểm soát nhất định trên biển theo đường vòng bằng cách tránh những trận đánh quyết định;

- đạt được lợi ích chiến lược… bằng những hành động có ích (chẳng hạn như đánh vào thương mại hay bờ biển của đối phương) mà không kỳ vọng vào việc đánh bại lực lượng chủ lực của địch;

- bằng cách liên tục quấy rối và tránh né, ngăn không cho đối phương hưởng lợi thế của lực lượng vượt trội; và cuối cùng là đảm bảo cho hạm đội yếu thế của mình sống sót đến cùng.7

Có nhiều ví dụ trên thực tế minh họa cho chiến lược “hạm đội hiện hữu”, có thể kể đến cuộc chiến ở Peloponnesse, “hạm đội bất khả chiến bại” Armada của Tây Ban Nha hay chiến tranh Nga-Nhật, nhưng có lẽ dẫn chứng tiêu biểu nhất phải là Thuyết Rủi ro (Risikogedanke) được đưa ra bởi Đô đốc hải quân Đức Alfred von Tirpitz trong một bản ghi nhớ bí mật vào tháng 6 năm 1897.8 Đô đốc Tirpitz cho rằng nước Đức không nên đụng độ với tất cả các mối đe dọa về hải quân, mà thay vào đó chỉ tập trung vào một đối thủ chính (tuy ông không nhắc đến tên của đối thủ này, nhưng có thể hiểu rằng đó chính là Hải quân Hoàng gia Anh).

Do đó ông đề xuất sử dụng một hạm đội có kích thước và sức mạnh vừa đủ để gây thiệt hại đáng kể cho Đại Hạm đội của Hải quân Hoàng gia Anh, qua đó làm suy yếu vị thế chiến lược và đe dọa sự thống trị của hạm đội này trong bối cảnh Đức còn phải đối đầu với các quốc gia khác như Pháp và Nga.
Nhìn chung hạm đội này của Đức vẫn yếu thế hơn, nhưng vẫn sẽ khiến hạm đội Anh mất đi ý chí tấn công. Sau đó hàng loạt đạo luật hải quân đã được ban hành, trong đó đáng kể nhất là Đạo luật liên quan đến hạm đội Đức ngày 14 tháng 6 năm 1900, theo đó số tàu chiến trong hạm đội phải tăng gấp đôi thành 38 tàu. Với kích cỡ như vậy, hạm đội này sẽ tạo ra một lượng rủi ro đủ lớn để Hải quân Anh cảm thấy mối nguy hiểm từ những hiểm họa tiềm tàng khác, dẫn đến không còn muốn chạm trán với Đức.

Cũng như vậy, được đặt theo tên của Đô đốc Tirpitz, một tàu chiến lớp Bismarck đã được hạ thủy vào năm 1941, tạo nên một ví dụ hoàn hảo cho chiến lược “hạm đội hiện hữu” áp dụng trong thời chiến, cụ thể là vào Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Chỉ dùng sự hiện diện của mình, cùng với sự bao bọc tuyệt vời của những vùng vịnh hẹp ở Na Uy, tàu Tirpitz cùng đoàn hộ tống đã trở thành một mối đe dọa giao thông hàng hải cho Liên Xô, buộc Hạm đội chủ lực của Hải quân Hoàng gia Anh “Home Fleet” phải có mặt và bị cầm chân ở khu vực này. Theo thư của Thủ tướng Anh Winston Churchill gửi cho Thứ trưởng thứ nhất Hải quân Dudley Pound vào tháng 8 năm 1941, con tàu này “tạo ra một nỗi sợ mơ hồ, đe dọa tất cả các điểm cùng một lúc. Nó thoắt ẩn thoắt hiện gây phản ứng trực tiếp và nhiễu loạn cho đối phương.”9

Chiến thuật cố tình tránh những trận chiến quyết định này có thể coi như hoàn toàn trái ngược với học thuyết của Alfred Thayer Mahan vốn đôi khi được Hải quân Mỹ áp dụng rộng rãi: tập trung vào trận đánh của hạm đội chủ lực. Tuy nhiên, Chính Mahan cũng hiểu được lợi ích của chiến lược “hạm đội hiện hữu” trong trường hợp một lực lượng yếu thế phải đối mặt với kẻ địch mạnh hơn:

Mục tiêu của bên yếu hơn là phải giữ được vùng biển càng nhiều càng tốt; không được tách rời lực lượng tàu chiến, mà phải tập trung lại; phải sử dụng tính lưu động, ít xuất hiện để tạo ra tin đồn tăng lên theo cấp số nhân, từ đó tạo ra đe dọa ở nhiều hướng, khiến cho đối phương phải phân tán lực lượng, tóm lại là phải khiến đối phương, theo như Daveluy gọi, phải “di dời binh lực” một cách không thuận lợi.10

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 22nd 2016, 6:56pm)


364

Saturday, July 23rd 2016, 2:39am

Những hoạt động hiện tại của Hải quân TC rất giống với các yếu tố của chiến lược “hạm đội hiện hữu”, đặc biệt là Thuyết Rủi ro của Tirpitz. Đây là một phần trong chiến lược “phong tỏa biển” (tạm dịch từ “sea-denial”), đối nghịch với
chiến lược “kiểm soát biển” (“sea-control”)
. Hạm đội được sử dụng không nhắm đến quyền kiểm soát vùng biển mà nhìn chung để cho đối thủ mạnh hơn kiểm soát, nhưng đồng thời cũng ngăn không cho đối phương ngự trị các vùng biển trong một số thời điểm nhất định bằng cách sử dụng sự hiện diện và mối đe dọa đến từ hạm đội này.


Khả năng phong tỏa và chống xâm nhập được ca ngợi rất cao của TC, bao gồm một hạm đội tàu ngầm lớn, tên lửa đạn đạo chống tàu và những chiến hạm lưu động được trang bị tên lửa chống tàu, là công cụ chính để TC theo đuổi chiến lược “hạm đội hiện hữu”. Đây là nền tảng để họ cho Mỹ thấy rằng bất cứ nhóm đặc nhiệm hải quân nào được cử đi đối đầu với TC đều sẽ phải chịu thiệt hại khôn lường.

Thay vì thống trị vùng biển hay triển khai sức mạnh vượt ra ngoài biên giới, trong vài chục năm gần đây TC đã áp dụng chiến lược phát triển công nghệ tàng hình và tốc độ để trở nên khó theo dõi và đối phó. Những công nghệ như tên lửa đạn đạo chống tàu (thường được gọi là “sát thủ tàu sân bay”) được dùng để răn đe không cho Hải quân Mỹ điều động những chiến hạm cỡ lớn, tức là nhắm vào chính những lợi thế của Mỹ mà Hải quân TC không có. Những cuộc tập trận thường xuyên và những ngày đặc biệt như kỷ niệm 60 năm ngày thành lập hạm đội vào tháng 4 năm 2009 là dịp để TC có thể phô diễn những sức mạnh trên. Những cuộc tập trận này tuân theo đúng gợi ý của Julian Corbett rằng chiến thuật “hạm đội hiện hữu” đòi hỏi “hạm đội phải hiện hữu một cách tích cực, không đơn thuần chỉ là tồn tại mà phải hoạt động và đầy sức sống”.11

Chắc chắn chiến lược của TC có thể còn tiến hóa cùng sự phát triển lớn hơn trong khả năng triển khai sức mạnh của nước này. Hiện tại TC đã có sẵn một chương trình phát triển tàu sân bay, 3 tàu tấn công lưỡng cư loại 071 và một hạm đội ngày càng được mở rộng gồm những chiến hạm mạnh và hiện đại. Mặc dù vậy, trong tương lai Hải quân TC vẫn là bên yếu thế hơn trên chiến trường Thái Bình Dương, do vậy họ vẫn sẽ áp dụng chính sách răn đe qua các hành động phô diễn sức mạnh có thể gây cho bất kỳ đối phương nào các thiệt hại không nhỏ.

Chiến lược “hạm đội phân tán” của Mỹ

Trớ trêu thay, một vài khía cạnh trong chiến lược hải quân hiện tại của Mỹ ở Đông Á lại khá giống với chiến lược “hạm đội hiện hữu” của TC. Tuy đang ở vị thế đứng đầu khu vực, nhưng lực lượng hải quân và lính thủy đánh bộ Mỹ cũng đang tránh đụng độ trực tiếp và cùng lúc đó có những hành động răn đe các động thái gây hấn của TC. Tóm lại, Mỹ với lực lượng hải quân có ưu thế vượt trội, đang cố tình giữ khoảng cách để tránh xung đột và cũng để phòng bị tốt hơn trước những loạt tên lửa của đối thủ, nhưng đồng thời duy trì đủ lực lượng tấn công để tạo áp lực và răn đe. Chiến lược này có thể được gọi làfleet-in dispersal”, hay “hạm đội phân tán”.

Bằng chứng cho thấy Mỹ đang áp dụng chiến lược này nằm ở những thông báo gần đây về việc hướng lại sự chú ý về phía châu Á và ở những thay đổi lực lượng trên thực tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong vòng 10 năm trở lại đây. Đã có rất nhiều ý kiến được đưa ra xoay quanh những thông báo gần đây về sự gia tăng hiện diện của quân đội Mỹ trong khu vực. Do Mỹ đang duy trì hiệp ước phòng thủ với 5 nước châu Á-Thái Bình Dương, sẽ là khôn khéo về mặt ngoại giao nếu Mỹ đề cao việc triển khai quân diễn ra gần đây như là nhằm duy trì cam kết giữ gìn ổn định và tự do hàng hải qua các vùng biển chung của khu vực. Sự bảo đảm này có thể nói là ngày càng cần thiết trong hoàn cảnh quan hệ của các bên tranh chấp ở Biển Đông gần đây đã trở nên xấu đi, xung đột ngoại giao xảy ra đều đặn ở vùng biển Hoa Đông, quan điểm ngoại giao của Bắc Kinh trong 2 năm gần đây được coi là trở nên cứng rắn hơn, và cuối cùng là mối đe dọa nhận thấy được ở tiềm lực hải quân gia tăng của TC (kết hợp với mối lo tiềm ẩn về chủ nghĩa sô vanh TC). Tại Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á IISS, hay còn gọi là Đối thoại Shangri-La, diễn ra vào tháng 6 năm 2011, một trong những chủ đề chính là mong muốn một tín hiệu rõ ràng trong việc Mỹ kéo dài các cam kết của mình.12

Khó khăn đối với Bộ quốc phòng và Bộ Ngoại giao Mỹ, đặc biệt là Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, chính là phải đưa ra được lời đảm bảo cho các nước châu Á mà vẫn tránh được cơn thịnh nộ của TC, vốn đang lo ngại sự bao vây của Mỹ và các nước đồng minh, đồng thời tin rằng các đối thủ đang theo đuổi chính sách siết chặt TC trong “chuỗi đảo thứ nhất” (kéo dài từ Nhật Bản đến Đài Loan, Philippines và Biển Đông).

Do vậy, có thể nói việc điều quân của Mỹ sẽ có 2 tác động chính.

- Tác động thứ nhất có thể thấy ở việc triển khai tàu chiến gần bờ đến Singapore trong thời gian gần đây, cho thấy rõ ý định hỗ trợ đồng minh và đảm bảo tự do lưu thông hàng hải trong khu vực. Đảo quốc này không chỉ là đồng minh chủ chốt của Mỹ ở Đông Nam Á mà còn là một trung tâm hàng hải quốc tế, nằm trên một trong những tuyến đường giao thông trên biển tấp nập nhất thế giới. Năm
2003, Chủ tịch nước
TC Hồ Cẩm Đào đã chính thức thừa nhận rằng quốc gia này phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệu lưu thông qua eo biển này (90% sản phẩm năng lượng vận chuyển bằng đường biển đi qua eo biển hẹp này), lần đầu tiên nêu ra tình thế mà người TC gọi là “thế lưỡng nan Malacca”.13 Trong bối cảnh đó, việc Mỹ triển khai thêm sức mạnh ở Singapore có thể ẩn chứa một mối đe dọa cho TC.14
- Nếu chiến sự nổ ra giữa hai nước thì lực lượng Mỹ đã được bố trí sẵn để kiểm soát toàn bộ lưu thông qua eo biển này và siết chặt TC bằng một cuộc phong tỏa. Cũng như cách TC sử dụng chiến lược “hạm đội hiện hữu” để vô hiệu hóa sức mạnh của Hải quân Mỹ, việc Mỹ điều quân đến Singapore cũng nhắm vào điểm yếu chiến lược của TC – sự phụ thuộc của họ vào eo biển Malacca.

----------------------------------------------------------------------------

[1] Robert D. Kaplan đưa ra một cách giải thích khác về khái niệm “fleet-in-being”. Xem bài “Yếu tố địa lý của quyền lực của TC” (http://nghiencuuquocte.org/wp-content/up…yen-luc-tq1.pdf), trang 16 (chú thích của người biên tập).
[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 23rd 2016, 2:54am)


365

Saturday, July 23rd 2016, 11:54pm

Nhận định:

Các bạn trẻ và kể cả các DLV trẻ trâu đầu đất hảy nghe NP tóm lược lại lời phát biểu của Lưu Á Châu, Trung tướng, Chính ủy Đại học Quốc Phòng Trung Quốc:

" Chúng ta phải nhìn nhận cuộc chiến này từ góc độ chính trị. Ý nghĩa của cuộc chiến này nằm bên ngoài cuộc chiến.
Cuộc chiến này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là người Mỹ.
- Một là Đảng Cộng sản Trung Quốc:
Sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, phải xác lập quyền lực tuyệt đối trong nội bộ Đảng. Biện pháp xác định quyền lực nhanh nhất là gây chiến tranh, phải đánh một trận.
- Hai là người Mỹ:
Năm 1975, sau khi hao binh tổn tướng, người Mỹ cuống cuồng tháo chạy khỏi Việt Nam. Năm 1979 Đặng Tiểu Bình nói: Tôi dạy sẽ cho Việt Nam một bài học. Vì sao có thể giúp Mỹ hả giận? Bởi vì, người Mỹ vừa tháo chạy nhục nhã khỏi Việt Nam.
Chúng ta sao lại giúp người Mỹ hả giận? Thực ra không phải vì Mỹ, mà là vì chúng ta, vì cải cách mở cửa. Nhờ cuộc chiến này, Mỹ đã ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ thuật, khoa học kỹ thuật và cả viện trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc. Tuần trăng mật giữa Mỹ và Trung Quốc kéo dài đến mười năm, đến ngày 4/6/1989 mới tạm lắng.
Khi đó, Việt Nam đang theo ai?
Đang theo Liên Xô.

Khi tôi đến thăm trong khi bộ đội đang tác chiến ở “Lưỡng Sơn”, hậu phương vẫn ca hát nhảy múa trong thanh bình. Đặc biệt là cán bộ cơ sở, hầu hết gia đình đều rất khó khăn. Lúc tôi đến viếng một chính trị viên đại đội của Quân đoàn 14, anh ta đã hy sinh. Vợ anh ta nói rằng trước khi ra trận chồng chị vẫn còn nợ tiền, lương tháng cuối cùng trừ hết các khoản nợ, chỉ còn 5 xu trong túi. Cô ấy đưa cho tôi xem bản kê di vật, chỉ còn đúng 5 xu.
Trong di chúc của một chiến sĩ, có đoạn:
"Nếu tôi chết, mong công xã hãy cho gia đình tôi một con bò."
Có người khác viết:
"Nếu tôi chết, hãy cởi bộ quân phục của tôi đem về quê, anh em nhà tôi không có quần áo để mặc."

Từ hậu phương đến tiền tuyến, tôi thấy sự chênh lệch quá lớn, không thể nói lên lời!
Không chỉ là cuộc sống mà còn những cái khác.
Những cán bộ và bộ đội tham chiến ở bốn quân đoàn mà có vợ chưa cưới thì 100% đều bị từ hôn, không có trường hợp ngoại lệ. Tôi xem một bức thư đoạn tuyệt hôn nhân của một cô gái:
“Anh hy sinh không còn nữa thì chẳng sao; nếu anh bị thương mất chân mất tay, chúng ta sẽ biết sống ra sao?”.
Cô viết cũng rất có lý.
Tôi thấy thật xót xa. "

Đó là sự thực trần truồng của "16 chữ vàng và 4 tốt ". Bọn cầm quyền TC nầy đã hy sinh mọi thứ, mặc kệ dân lành đói khát lầm than, để xua dân của họ vào lò lửa chiến tranh xâm lược VN, mà chúng đã dối lừa bịp bợm là chiến tranh vệ quốc.
Thử trả lời xem các bạn có tin là viên tướng TC nầy có cảm thấy xót xa như lời hắn nói không ? Hảy nhìn xem hắn đang lớn tiếng ca tụng lãnh đạo của hắn là Đặng Tiểu Bình đó và cuộc chiến tranh"vệ quốc" nầy !!!!
Nếu hắn thật sự có lương tâm thì hăn cũng đã chẳng làm gì để cứu vớt họ được vì hắn đã nói lên một sự thật mà hắn đã biết qúa rõ:

" Trước khi tác chiến, một vùng bộ đội đóng quân tĩnh lặng như tờ. Cán bộ chỉ huy đều ẩn nấp ở nơi rất xa. Khi thời bình, số cán bộ chỉ huy này rất khí phách hào hùng. Khi đó tôi là cán bộ cấp Tiểu đoàn phó, anh là Sư đoàn trưởng. Anh gặp tôi, nói một cách khí phách:

“Tôi có 3 suy nghĩ, cậu hãy viết thành sách cho tôi! Thứ nhất, tôi muốn làm George Smith Patton Jr của Trung Quốc; thứ hai, binh sĩ được coi là gì? Binh sĩ chính là những con số Ả rập; thứ 3, tôi mong mỏi được đánh trận. Đánh một trận [sẽ được] thăng một cấp”. "

Cái bọn cầm quyền TC và tướng tá sôi thịt nầy chỉ coi dân đen và binh lính dưới quyền ( chỉ là những con số ) như những bậc thang để chúng nó bước lên ngôi quyền lực mà thôi !!!!

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 25th 2017, 5:39am)


366

Monday, July 25th 2016, 1:34am

Đó là chuyện của quá khứ.
Vậy thôi, bây giờ ta hảy nói chuyện của tương lai ( back to the future ! ). Cái thế của Tập Cận Bình bây giờ có khác gì cái thế của Đặng Tiểu Bình ngày xưa đâu ? Bình lớn cũng như Bình nhỏ, bình nào cũng là bình thôi !
- Vậy thì phải đánh một trận, phải xác lập quyền lực tuyệt đối trong nội bộ Đảng. Biện pháp xác định quyền lực nhanh nhất là gây chiến tranh,
- Mà cũng phải đánh để cho người Mỹ xem hạm đội Hải Quân TC lợi hại như thế nào chứ ! ( theo đúng sách lược “hạm đội hiện hữu” của TC ).

Cây bài xập xám chướng nầy chỉ có một đường binh thôi. TC mà dám gây chiến với Mỹ để mà ôm đầu máu à ?

Thực ra thì còn có một thứ tự khác của các quẻ trong Kinh Dịch.

Đó là thứ tự số học của hệ thống Nhị Phân ( binary numbers ).
Trong bài báo của mình Explication de l'Arithmétique Binaire(1703), Gottfried Leibniz viết rằng ông tìm thấy
tính phổ quát trong các quẻ của Kinh Dịch giống như nền tảng của hệ thống đếm trong cơ số nhị phân. Ông lấy hình dạng tổ hợp tìm thấy trong quẻ để biểu diễn trật tự nhị phân.
Vì thế quẻ Quẻ Bát Thuần khôn (八 純坤) tương đương với số nhị phân là 000000, kế đến quẻ Quẻ Địa lôi Phục (地 雷 復) sẽ là 000001 và tiếp theo quẻ Quẻ Địa Thủy Sư (地 水 師) 000010 và ..v.v...
Lại cũng là quẻ Quẻ Địa Thủy Sư (地 水 師) !!!

Nguy nhỉ ?????!!!

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 25th 2016, 7:47pm)


367

Saturday, July 30th 2016, 6:18am

Đã nói về tóan học thì tiện đây cũng xin nói một chút về khoa học, về sự tương đồng của ngành Sinh Vật Học và Dịch lý:
Các nhà khoa học vừa phát hiện một sinh vật đơn bào, có hình dạng giống vi khuẩn, xuất hiện trên trái đất cách đây 3.8 tỉ năm và được cho là tổ tiên của sự sống trên trái đất. Vi khuẩn này được gọi là "tổ tiên chung" của sự sống trên trái đất, hay đầy đủ hơn là Luca = Last Universal Common Ancestor.

Sự sống thọat đầu gồm có 2 lòai sinh vật:
1. Prokaryotes: gồm có các loại vi khuẩnvi khuẩn cổ (eubacteria and archaebacteria). Đó là những đơn bào không nhân (their cells have no nucleus).
2. Eukaryotes: gồm có các loại bào tử, thực vật, động vậtnấm (protists, plants, animals and fungi). Đó là những đơn bào tương đối phức tạp có sự tổ chức cao với màng tế bào và có nhân tế bào cá biệt (their cells are distinguished by the relative complexity with distinct nuclei).
Theo hình vẽ của cây sự sống, thì :
· từ LUCA ( có vai trò của Thái Cực ),
· sinh ra các loại vi khuẩnvi khuẩn cổ ( có vai trò của Lưỡng Nghi, các cặp âm / dương )
· rồi lại phối hợp thành các loại bào tử, thực vật, động vậtnấm (Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng )
· Và kể từ đó sự sống biến hóa ngày càng phức tạp (Tứ Tượng sinh Bát Quái, rồi 64 quẻ Trùng Quái, các quẻ cặp 3, các quẻ cặp 4 vv…)
Cho nên sự sống, như chúng ta nhận biết hiện nay, được các nhà khoa học xếp lọai thành 6 vương quốc:

1. Các lòai Vi Khuẩn (eubacteria).
2. Các lòai Vi Khuẩn Cổ (archaebacteria).
3. Các lòai bàotử (protists).
4. Các lòai thực vật (plants).
5. Các lòai động vật (animals)
6. Các lòai Nấm (fungi ).
[font='&quot'][/font]

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 30th 2016, 6:27am)


368

Tuesday, August 2nd 2016, 6:36pm

3 Mục tiêu ngoại giao quân sự của TC
Posted on 01/03/2015 by The Observer
Nguồn: Shannon Tiezzi, “3 goals of China’s military diplomacy”, The Diplomat, 30/01/2015.
Biên dịch: Trần Quốc Nam | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


TC tìm cách hoàn thành ba việc trong chính sách ngoại giao quân sự: đe dọa, đề ra chương trình bàn thảo trấn an.

Hôm thứ Năm, Chủ tịch TC Tập Cận Bình (đồng thời là Chủ tịch UB Quân ủy Trung ương) nói rằng TC sẽ quan tâm hơn tới ngoại giao quân sự như là một phần của tổng thể chiến lược đối ngoại. Ông Tập đã phát biểu tại một cuộc họp với các cơ quan quân đội và các quan chức quân sự khác liên quan đến công tác ngoại giao. Cán bộ tham dự bao gồm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Phạm Trường Long (Fan Changlong), một Phó Chủ tịch quân ủy khác kiêm Tư lệnh không quân TC Hứa Kỳ Lượng (Xu Qiliang), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Thường Vạn Toàn; Tổng tham mưu trưởng Phòng Phong Huy (Fang Fenghui) và Tư lệnh hải quân Ngô Thắng Lợi (Wu Shengli).

Ông Tập hô hào các quan chức quân đội tham gia “khởi đầu một giai đoạn mới của chính sách ngoại giao quân sự”. Ông Tập lưu ý ĐCS TC luôn coi ngoại giao quân sự là một công cụ quan trọng để thúc đẩy các mục tiêu ngoại giao tổng thể của TC, bảo vệ an ninh quốc gia và xúc tiến việc xây dựng quân đội của TC. Ngày nay, ngoại giao quân sự phải nổi trội hơn trong chiến lược ngoại giao và an ninh quốc gia của TC, ông Tập nói.

Sự nhấn mạnh của TC về ngoại giao quân sự được chứng minh vào năm ngoái khi TC gia tăng trao đổi quân sự, các cuộc thăm viếng, và diễn tập chung. Một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng đã tóm lược chính sách ngoại giao quân sự của TC trong năm 2014 trong buổi họp báo cuối cùng trong năm. Theo phát ngôn viên Dương Vũ Quân (Yang Yujun), TC tham gia 31 cuộc tập trận song phương hoặc đa phương.
Đáng chú ý, ông Dương nói, trọng tâm của các cuộc diễn tập “mở rộng từ an ninh phi truyền thống đến an ninh truyền thống”. Các cuộc diễn tập trong năm 2014 “sát với thực tế chiến trường” hơn so với trước kia, ông Dương nói thêm.

Năm ngoái, TC cũng hết sức tích cực trong việc gửi các sỹ quan quân đội ra nước ngoài hay đón tiếp đối tác nước ngoài. Như The Diplomat đưa tin, trong khoảng thời gian hai tuần trong tháng Bảy năm 2014, các quan chức quân đội TC tổ chức cuộc họp với các quan chức Mỹ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, và Indonesia. TC đã có một khởi đầu tích cực trong việc tiến hành các chuyến viếng thăm quân sự qua lại (năm nay) khi một đội tàu hải quân TC đang thực hiện chuyến đi thăm châu Âu.

Cuối cùng, năm 2014 là năm bội thu về mặt can dự quân sự của TC vào nhiều sứ mệnh nhân đạo hơn, từ cuộc chiến chống Ebola đến nỗ lực truy tìm dấu vết chuyến bay 370 của Malaysia Airlines. TC cũng phái tiểu đoàn đầu tiên tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

TC hy vọng đạt điều gì qua việc ngày càng nhấn mạnh ngoại giao quân sự? Như Robert Farley nhận xét trong một bài trước đây trên The Diplomat, có một số lợi ích khả dĩ: thu thập tin tình báo về các tổ chức quân sự nước ngoài; tạo quan hệ cá nhân với nhân viên quân sự nước khác và phô trương sức mạnh quân sự của TC.

Các thảo luận về chính sách ngoại giao quân sự của TC có đề cập đến cả yếu tố răn đe. Khi ủng hộ một chính sách ngoại giao quân sự hiệu quả hơn, ông Tập cũng kêu gọi các quan chức “có sự đóng góp mới, lớn hơn hướng tới thực hiện Giấc mơ TC và giấc mơ có một quân đội mạnh”. Khi mô tả kết quả của hơn 30 cuộc tham gia diễn tập quân sự chung, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Dương Vũ Quân nói:

“Các cuộc tập trậnđã nâng cao sự tin tưởng lẫn nhau, hợp tác sâu sắc và cải thiện các kỹ năng. Đồng thời, quân đội TC có được cơ hội để thể hiện hình ảnh tốt đẹp của chúng ta trên trường quốc tế.”

lẽ đối với TC điều quan trọng hơn là biểu thị quân đội nước mình có xu thế trở thành một đội quân dẫn đầu – không chỉ về công nghệ mà còn về ý thức hệ. Nói cách khác, ngoại giao quân sự của TC là hệ quả tự nhiên của ước muốn đang tăng lên của Bắc Kinh về việc đóng vai trò lãnh đạo trên vũ đài thế giới, kể cả trong các thảo luận về quân sự. Một mẫu tin trên đài CCTV nhấn mạnh rằng ngoại
giao quân sự của TC đang đóng một vai trò tích cực hơn trong việc định hình các cuộc thảo luận hơn là phản ứng thụ động trước các chỉ trích như từng thấy trước kia.

Đối với chính sách ngoại giao quân sự của TC, kiểu thiết lập chương trình nghị sự này là một mục tiêu quan trọng ngang với biểu thị thuần túy về khả năng.

Đó là lý do vì sao TC cố gắng đề cao Diễn đàn Hương Sơn (Xiangshan Forum) sánh với Diễn đàn thường niên Shangri-La như là một nền tảng hàng đầu cho viêc thảo luận các vấn đề an ninh khu vực – và đó là lý do vì sao Tân Hoa Xã đưa một Diễn đàn Hương Sơn mới, được cải tiến vào danh sách 10 “đột phá” trong ngoại giao quân sự trong năm 2014. Ngoại giao quân sự lớn mạnh hơn là một bộ phận chủ chốt trong tầm nhìn mới của Tập Cận Bình về một “chính sách ngoại giao đại cường mang đặc sắc TC”.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 2nd 2016, 6:47pm)


369

Tuesday, August 2nd 2016, 6:48pm

Còn một mục tiêu khác đối với ngoại giao quân sự của TC, đó là kết hợp việc phô trương quân sự với lập chương trình nghị sự – hóa giải luận điểm “mối đe dọa TC” và tái trấn an về các tham vọng và chính sách của giới quân sự TC. Có vẻ dường như trái với logic thông thường khi TC muốn sử dụng ngoại giao quân sự để làm tiêu tan nỗi sợ này. Rốt cuộc, chuyến thăm một cảng Sri Lanka của một tàu ngầm TC đã tạo ra một làn sóng bàn luận về tham vọng quân sự của TC ở Ấn Độ Dương – một sự bất an, ít ra là từ nhìn nhận của các nhà quan sát Ấn Độ.

Song TC hy vọng cuối cùng thì bằng cách mở rộng các tiếp xúc quân sự ra bên ngoài, họ có thể thuyết phục được các lân bang (và các đối thủ tiềm tàng) rằng họ thành thật khi nói về một “sự trỗi dậy hòa bình”. Chính sách ngoại giao quân sự của TC không chỉ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, mà còn gửi ra ngoài các “phái viên hòa bình”, như Tân Hoa Xã tuyên bố trong một bài hồi tháng 12/2014. “Năm nay, vùng ngoại vi TC rõ ràng chẳng bình yên. Chính sách ngoại giao quân sự của TC đã có các nổ lực lớn hơn trong việc sử dụng các phương pháp hòa bình để khẳng định vị thế và hóa giải các cuộc khủng hoảng” bài báo giải thích.

Nói cách khác, Trung Quốc muốn sử dụng ngoại giao quân sự để giải quyết các cuộc khủng hoảng mà không cậy đến vũ lực. Cuộc đàm phán với Mỹ về các “quy tắc ứng xử” và đàm phán với Nhật Bản trong việc thiết lập một cơ chế tham vấn hàng hải chứng thực cho mong muốn này. TC cũng hy vọng rằng, bằng cách đơn giản là các kết nối với quân đội các nước, họ có thể thuyết phục thế giới rằng quân đội của họ không phải là một ông ba bị gây khiếp hãi. Các sứ mệnh nhân đạo đặc biệt hữu dụng trên khía cạnh này.

Trong ba mục tiêu chính mà TC áp dụng cho chính sách ngoại giao quân sự –đe dọa, đề ra chương trình bàn thảo trấn an – thì mục tiêu cuối cùng đã tỏ ra ít thành công nhất cho đến nay.

Sự hiện diện về quân sự của TC tại các vùng đất xa xôi có xu hướng thổi bùng các phân tích tiêu cực hơn về tham vọng quân sự của TC hơn là thuyết phục thế giới về mục đích hòa bình của nước này.


Nhưng khi các chuyến thăm (quân sự) như thế trở thành điều bình thường hơn là điều mới mẻ (và do vậy tỏ ra có khả năng gây đe dọa hơn), thì chúng ta có thể thấy TC sẽ bắt đầu thu lợi từ sự hợp tác của các quốc gia khác.

Shannon Tiezzi là cây viết bình luận của tạp chí The Diplomat.

[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 22nd 2016, 6:44am)


370

Friday, August 12th 2016, 3:51am

So sánh thái độ học hỏi nước ngoài của Trung-Nhật
Posted on 21/12/2015 by The Observer
Tác giả: Hư Châu (Trung Quốc) | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Nhật Bản có rất nhiều cái để Trung Quốc học, trong đó thái độ học tập của họ là cái đặc biệt đáng học.

Thái độ học tập khiêm tốn cẩn thận của Nhật Bản không xa lạ gì đối với Trung Quốc. Từ đời Hán trở đi, sự giao lưu văn hóa Trung Quốc-Nhật Bản dần dần tăng cường; thời nhà Tùy, nhà Đường, các sứ thần Nhật Bản nối tiếp nhau vượt biển sang Trường An [kinh đô Trung Quốc thời ấy].

Trước nền văn hóa Hán xán lạn, người Nhật mở to mắt và say sưa học văn hóa Hán. Không những họ bê nguyên xi về Nhật toàn bộ các điển chương, thể chế, văn hóa tư tưởng, phong tục tập quán của Trung Quốc mà cả đến chữ Hán họ cũng cứ thế mà dùng không sai một tý nào – chữ Katakana sau này người Nhật sử dụng tuy có khác với chữ khối vuông [của Hán tự] nhưng thực ra là dùng bộ thủ của chữ khối vuông.

Có thể nói đó là thời kỳ Nhật Bản toàn bộ Hán hóa, không những văn hóa Hán là “dụng”, mà cũng là “thể”. Xã hội Nhật bắt đầu phát triển trên quỹ đạo văn hóa Hán. Bốn đảo hoang dại của nước Nhật [4 hòn đảo lớn Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku] làm nên phần lãnh thổ chính của nước Nhât, ra sức học Trung Quốc, một nước lớn văn hóa phong phú đa dạng. Về chuyện người Nhật không ăn Tết Trung thu như người Trung Quốc thì chẳng qua là do Trung Quốc đời nhà Đường còn chưa quy định lấy ngày 15 tháng 8 trăng tròn làm ngày Tết mà thôi. Điều đó chỉ nói lên Nhật Bản nhắm mắt theo đuôi mà học, không cắt xén chút nào. Sách “Thiên công khai vật”[1] thất truyền ở Trung Quốc sau phát hiện thấy ở Nhật là thí dụ chứng tỏ việc Nhật học Trung Quốc cho tới đời nhà Minh vẫn không bỏ sót bất kể thứ gì dù lớn dù nhỏ.

Người thạo học hỏi có một đặc điểm là biết chọn thầy.

Sau hai nghìn năm chuyên tâm học Trung Quốc, Nhật Bản phát hiện ra một ông thầy còn cao minh hơn Trung Quốc – đó là phương Tây.
Điều thần kỳ ở chỗ phương Tây vốn là kẻ thù không mời mà tự đến gõ cửa quốc môn luôn luôn đóng chặt của nước Nhật. “Dĩ địch vi sư” [coi kẻ địch làm thầy] thật là thần kỳ. Điều thần kỳ hơn nữa là trong lần “Dĩ địch vi sư” này, người Nhật học phương Tây với tinh thần hăng hái hơn nhiều so với ngày xưa học Trung Quốc.

Đô đốc Matthew C. Perry chỉ huy hạm đội Mỹ mở toang cánh cổng quốc môn Nhật Bản [năm 1854] chính là người đầu tiên mang văn minh phương Tây đến cho nước này. “Nơi Hạm trưởng Perry lên bờ” trở thành tấm bia kỷ niệm vĩnh viễn.
“Thoát Á nhập Âu” trở thành tọa độ học tập và phương hướng tiến lên của nước Nhật sau khi họ so sánh hai nền văn minh Đông và Tây. Một số người Nhật cực đoan nhất còn cổ súy dân Nhật lấy vợ lấy chồng người Âu Mỹ nhằm thay đổi huyết thống Nhật Bản.[2]
Có thể nói đây là thời kỳ nước Nhật toàn bộ Tây hóa, không những “Tây học vi dụng”, “Tây học vi thể” mà còn làm cho Nhật trở thành một nước phương Tây theo tiêu chuẩn phương Tây. Vì thế tư tưởng, chính trị, kinh tế văn hóa Nhật được cải tạo khá triệt để.

Đảo nhỏ phương Đông vốn dĩ bế quan tỏa cảng này loáng một cái đã trở thành nước lớn phương Tây chen vai thích cánh giữa các cường quốc Âu Mỹ – chẳng những là đệ nhất cường quốc châu Á mà còn tranh đua với liệt cường Âu Mỹ, cố tranh lấy ngôi thứ nhất, thực hiện giấc mơ “Phương Tây có Anh Quốc, phương Đông có Nhật Bản”.
Trước tiên đánh bại nước Nga trong cuộc chiến tranh Nhật-Nga [1904-1905, trận hải chiến Tsushima 1905, hạm đội Nga bị tiêu diệt], sau đó trong đại chiến II đánh thiệt hại nặng quân đội Mỹ Anh, dàn tư thế cùng nước Đức xâu xé thế giới ở hai miền Đông Tây.[3]


Nhưng Nhật Bản sinh không gặp thời; thời đại chia cắt thế giới đã qua từ lâu. Giấc mơ cùng nước Đức phân chia thế giới bị quân đội Đồng minh đánh cho tan thành mây khói.
Người Nhật giỏi khoản học hỏi chuyến này phát huy tinh thần “Dĩ địch vi sư” lên tới cực điểm, chẳng những tổng kết sai lầm liên minh với Đức tranh bá thế giới mà còn không chút do dự trở lại truyền thống cũ liên kết với Anh Quốc, coi nước Mỹ là thầy tốt bạn hiền, bình tâm tiếp nhận sự chiếm đóng và bản hiến pháp hòa bình của quân đội Mỹ.

Việc ngoan ngoãn học Mỹ đem lại kết quả kinh ngạc: nền kinh tế Nhật nhanh chóng phục hồi và phát triển nhanh. Đứng lên từ đống tro tàn sau thất bại trong đại chiến II, Nhật Bản chỉ dùng thời gian nửa thế kỷ đã vượt qua tất cả các nước lớn châu Âu về sức mạnh kinh tế, trở thành số Hai thế giới chỉ sau Mỹ.

Trong đại chiến II, quân đội Mỹ không chỉ tiêu diệt tinh hoa của quân đội Nhật mà còn ném xuống Hiroshima và Nagasaki hai quả bom nguyên tử duy nhất loài người cho tới nay từng sử dụng. Hiện giờ quân đội Mỹ vẫn đóng trên đất Nhật, tàu chiến Mỹ vẫn đậu tại các cảng Nhật, thế mà Nhật không coi quân đội Mỹ là kẻ chiếm đóng, kẻ xâm lược. Điều đó không phải là do nhu cầu chiến lược cần quan hệ tốt với Mỹ mà là do chiến lược phát triển của Nhật đi theo con đường của Mỹ.

Lão Tử nói: “Tri nhân giả trí, tự tri giả minh, thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường” Nhật Bản vừa có cái sáng suốt của sự tự biết mình [tự tri giả minh], lại có cái khôn ngoan của kẻ hiểu biết người khác [tri nhân giả trí]; trước mặt nước Mỹ, nước Nhật là cậu học trò nhỏ thành kính. “Tự thắng giả cường” [kẻ tự thắng chính mình thì có sức mạnh] đã làm nên kỳ tích Nhật Bản, thực hiện trọn vẹn giấc mơ của họ.

Nhưng dù trải qua nhiều thăng trầm thì Nhật Bản vẫn cứ là Nhật Bản, vẫn mặc bộ Kimono, vẫn trải chiếu hoặc nệm ngủ trên sàn nhà , luyện thư pháp, thưởng thức và bình phẩm trà đạo, dùng chữ Katakano, thăm núi Fuji, không thoát khỏi châu Âu mà trở lại châu Á, là “quả chuối vỏ vàng ruột trắng” chỗ nào cần “trắng” thì đã “trắng”, chỗ nào cần “vàng” thì vẫn cứ “vàng” chứ không biến thành cây kem trắng từ trong ra ngoài.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 12th 2016, 4:01am)


371

Friday, August 12th 2016, 4:03am

Trung Quốc khác xa Nhật Bản.

Xưa nay tự cho mình là thiên triều thượng quốc, Trung Quốc chưa từng có yêu cầu học tập và quá trình học tập như Nhật Bản.
Các tiểu huynh đệ xung quanh [ý nói các nước nhỏ xung quanh Trung Quốc] quả thật chưa giúp gì lớn cho Trung Quốc: Trương Khiên đến Tây Vực [các nước ở phía Tây Trung Quốc] chẳng qua chỉ mang về được một số giống ngựa tốt, giống rau quả củ hạt mới, và nhạc khí ca múa, chỉ là những thứ thuộc phạm trù vật phẩm sử dụng để thêm thắt cho đời sống hàng ngày chứ không liên quan tới chủ thể văn hóa tư tưởng của quốc gia.

Phật Pháp truyền sang phía Đông, tư tưởng Thích Giáo [tức đạo Phật] do Đường Tăng mang về sau chuyến Tây Du chỉ là một phần bổ sung cho chủ thể văn hóa tư tưởng truyền thống Trung Hoa, tuy có thể thêu hoa trên gấm nhưng chưa đủ khả năng lấn át chủ thể [ý nói Nho giáo của Trung Quốc].

Còn chuyến viễn dương biển Tây của Trịnh Hòa hoàn toàn chỉ là hư trương thanh thế, ngoài việc làm vui lòng các hoàng thân quốc thích và mang về một số của quý vật lạ cho các quan lại quyền cao chức trọng ra thì chẳng có bất kỳ thu hoạch nào, vừa vô ích đối với sự “dụng” cho đời sống lại càng không giúp gì cho cái “thể” của văn hóa tư tưởng.
Nhưng nếu Trịnh Hòa thám hiểm của quý biển xa tay trắng mà về, thì tiếp đó các nhà truyền giáo châu Âu trải qua lễ rửa tội của cuộc Phục hưng Văn nghệ lại nhân thắng lợi của Christopher Columbus cưỡi thuyền vượt biển phát hiện châu Mỹ mà không ngại đường xa muôn dặm đem của báu văn minh phương Tây đến cho Trung Quốc.

Thế nhưng ngoài những thứ lương thực cứu mạng như khoai lang, khoai tây, ngô họ đem đến rồi được trồng rộng rãi ở Trung Quốc và phương pháp tính lịch thiên văn được áp dụng ngay, thì các thứ khác như tư tưởng, văn hóa, thành tựu khoa học của phương Tây đều bị Trung Quốc cấm cửa.

Trung Quốc chỉ dùng ngay, học ngay thứ gì có thể dùng được trong đời sống, nhưng những thứ ấy chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể đối với chủ thể văn hóa tư tưởng của Trung Quốc.

Đến thập niên 40 thế kỷ 19, cánh cổng lớn của nước Trung Hoa bế quan tỏa quốc, ngu muội lạc hậu bị tàu chiến súng lớn của Anh Quốc mở toang. Nguy cơ vong quốc diệt chủng trở thành thanh gươm Damocles treo trên đầu đại đế quốc già nua. Thiên triều thượng quốc xưa nay chưa từng học ai nay buộc phải học tập kẻ thù không đội trời chung.

Nếu cung cách “Dĩ địch vi sư” của Nhật Bản – một nước có nền móng văn hóa tư tưởng nông cạn – là đi theo con đường của “địch”, thì cung cách “Dĩ địch vi sư” của Trung Quốc có truyền thống văn hóa tư tưởng thâm hậu là mượn lực của “địch” để đi con đường cũ của mình.

Cho nên Nhật Bản cảm ơn đô đốc Perry người đầu tiên đặt chân lên nước Nhật; còn Trung Quốc thì căm giận lũ man di người Anh đã mở cánh cửa lớn của mình; cho tới ngày nay Trung Quốc vẫn còn nghiến răng nghiến lợi.
Đây là sự lựa chọn lịch sử. Anh Quốc đúng là kẻ xâm lược Trung Quốc, có thể nói chắc rằng trong chiến tranh không thể tránh được chuyện đốt nhà giết người cướp của.
Bắt đầu từ đó Trung Quốc rơi vào cảnh nửa thuộc địa, Trung Quốc có đầy đủ căn cứ để căm thù Anh Quốc.

Song lịch sử ngu dốt lạc hậu của Trung Quốc trì trệ lâu đời cũng bắt đầu hạ màn khi quân đội Anh mở toang cánh cổng lớn của Trung Quốc. Không có ngoại lực tác động vào mà chỉ dựa sức mạnh của bản thân thì chưa biết đến bao giờ Trung Quốc mới có thể mở được một trang sử mới, tiến sang một cuộc sống mới. Trung Quốc cũng có đầy đủ lý do để cảm ơn nước Anh.

Thực chất của nghịch lý lịch sử này là nên lựa chọn chế độ chuyên chế của hoàng đế hay chọn tiến bộ xã hội?
Trung Quốc đã chọn hoàng đế.

Kiểu “Dĩ địch vi sư” của Trung Quốc không phải là sự lựa chọn chiến lược phát triển, đi con đường lịch sử thành công của “địch” để thực hiện phát triển đất nước, bảo đảm nhân dân hạnh phúc; mà là sự lựa chọn thủ đoạn có tính sách lược, đánh bại kẻ địch, vượt qua khó khăn, nhằm mục đích bảo đảm kiên trì và tiếp tục “Pháp thống”, “Đạo thống”, “huyết thống”, “bại thống”.

Kiểu “Dĩ địch vi sư” này chỉ học cái “hình”, không học cái “thực”, học cái “dụng” mà không học cái “thể”, tinh túy của nó là “Trung [Trung Quốc] học vi thể, Tây học vi dụng”.[4]

Do vậy cùng với thời gian, “hình” cũng học, “dụng” cũng học, nhưng do không học “thực” chất, không học “thể” chế của quốc gia, dù cách mạng thế nào, dù cải cách ra sao, phát triển đi, phát triển lại, nhà nước và nhân dân cứ mãi mãi ở dưới sự kiềm chế của cá nhân kẻ thống trị hoặc tập đoàn kẻ thống trị, cứ mãi bị chi phối bởi lợi ích của bọn chúng.

Cuộc cải cách của vương triều Mãn Thanh rồi Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc là thế. Lòng yêu nước của Nghĩa Hòa Quyền là như vậy, các cuộc cách mạng và cải cách của các nước cộng hòa sau Cách mạng Tân Hợi cũng thế cả.

Học đi học lại là học cho thành ta, trở về cái bộ dạng cũ. Trung Quốc luôn luôn oán trách thầy bắt nạt trò, không nhìn thấy những vị học trò [ý nói Trung Quốc] chỉ muốn làm thầy. Cho nên kể từ Phong trào Dương Vụ trở đi, Trung Quốc “dĩ địch vi sư” học phương Tây lâu đến nửa thế kỷ; từ Cách mạng Tân Hợi trở đi, Trung Quốc cũng học như vậy đã ngót 50 năm.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 22nd 2016, 6:42am)


372

Friday, August 12th 2016, 4:13am

Từ Cải cách mở cửa đến nay học phương Tây lâu tới ba chục năm thế nhưng Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển lớn nhất.

Nói làm kinh tế thị trường thế mà tại thị trường rộng 9,6 triệu cây số vuông lãnh thổ cộng 1,3 tỷ dân này nhu cầu trong nước vẫn cứ chưa đủ, lại phụ thuộc nhiều vào thị trường ngoài nước.

Nói kiên trì xã hội chủ nghĩa thế mà lại phát triển thành “đô thị như châu Âu, nông thôn như châu Phi”; phân hóa giàu nghèo ngày càng gay gắt.

Nói phát huy dân chủ XHCN mà quyền lực tuyệt đối lại ngày một tuyệt đối, chống tham nhũng càng chống lại càng tham nhũng.

Hữu danh vô thực, cùng tên mà thực chất lại khác, thành tựu chẳng thể nào sánh nổi với Nhật Bản.
Học thái độ học tập “dĩ địch vi sư” của Nhật Bản, có lẽ “dĩ Nhật vi sư” mới thật sự là con đường hữu hiệu giúp ta [tức Trung Quốc] thoát ra khỏi cảnh khó khăn.
“Dĩ Nhật vi sư” không dễ. Trước tiên phải vượt qua hai trở ngại tâm lý:

1) Tâm lý coi thường Nhật hình thành trong lịch sử lâu dài, Đại Nhật Bản tự đánh giá cao trong mắt người Trung Quốc vẫn là Tiểu Nhật Bản [còn có nghĩa khinh bỉ là Nhật lùn].

2) Tâm lý thù ghét Nhật do nước này từng gây ra cho Trung Quốc nhiều đau thương trong chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Nhưng phải hỏi xem sự xâm lược ấy làm cho Trung Quốc ngu dốt lạc hậu bần cùng hay là do tình trạng Trung Quốc như vậy mà bị xâm lược? Nếu là do nguyên nhân sau thì biện pháp tốt nhất tránh tái diễn lịch sử không phải là dẫm đạp kẻ địch mà là phát triển bản thân.

Phải vượt qua hạn hẹp “dĩ địch vi địch”, tiến tới “dĩ địch vi sư” – điều đó rất khó, vì trên cánh đồng hoang tinh thần của Trung Quốc chỉ sẵn có loại cây gai “dĩ hữu vi địch”.

Một thí dụ điển hình là thái độ đối với Mỹ. Trong Thế chiến II Mỹ dẫn đầu các nước hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất bình đẳng từng ký với Trung Quốc, ủng hộ đến cùng cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc, việc Mỹ tiêu diệt bộ đội tinh nhuệ của phát xít Nhật đã trực tiếp giúp Trung Quốc kháng chiến thắng lợi, lẽ ra Mỹ nên là đồng minh tin cậy và bạn tốt nhất của Trung Quốc.

Thế nhưng chúng ta đã làm ngược lại. Khi Đại sứ Mỹ muốn liên hệ với chính phủ Tân Trung Quốc [ý nói chính quyền Mao Trạch Đông] thì chúng ta đuổi họ về. Tiếp đó hai chục năm chĩa súng vào nhau “dĩ hữu vi địch”; rốt cuộc buộc phải trở lại hòa hảo với ông bạn bị coi là địch, và coi một ông bạn sống chết có nhau với mình là kẻ thù.[8]

Kiểu suy nghĩ thực dụng hoàn toàn xuất phát từ thủ đoạn sách lược ấy biến hóa khôn lường, thiếu quy hoạch lâu dài về chiến lược phát triển là nguyên nhân căn bản khiến Trung Quốc phạm sai lầm “dĩ hữu vi địch”, cũng là trở ngại lớn cho “dĩ địch vi sư”, đó là thứ trước hết cần được khắc phục trong lần học tập Nhật Bản này.

Ngoài ra cũng cần thấy Nhật Bản chưa phải là hoàn mỹ; ngay thái độ “dĩ địch vi sư” của họ cũng có lệch lạc: Nhật vốn không có truyền thống sáng tạo văn hóa tư tưởng nhưng do nóng ruột đuổi và vượt nên họ thường lấy phát minh sáng chế của người khác về học tập và áp dụng mà thiếu tư tưởng sáng tạo nhận thức thế giới và công nghệ sáng tạo ban đầu, cho dù ngày nay họ đã có nhiều giải Nobel nhưng Nhật vẫn chưa thể có tác dụng quyết định thúc đẩy kinh tế phát triển như các nước Anh Mỹ.

Phương Đông coi trọng tập thể chưa thể so đọ được với phương Tây coi trọng tự chủ của cá nhân. Vấn đề này có tính phổ biến ở Nhật; Trung Quốc cũng không ngoại lệ./.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch và ghi chú từ website “Học thuật Trung Quốc”.

Xem thêm:

Tốc độ xoay chuyển vận mệnh đất nước: Kỳ tích của các anh hùng thời Minh Trị Duy Tân

——————-

[1] Thiên công khai vật: tên một Bách khoa toàn thư về công nghệ sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, tác phẩm 18 tập của nhà khoa học Tống Ứng Tinh (1587-1663, đời Minh).

[2] Quan đại thần phụ trách giáo dục (tức Bộ trưởng Giáo dục) trong triều đình Minh Trị còn kiến nghị người Nhật dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức.

[3] Đúng ra phải là: Trước tiên Nhật đánh bại cường quốc Trung Hoa nhà Thanh trong chiến tranh Giáp Ngọ (1894). Tác giả bài này là người TQ nên tránh nói đến thất bại này của nước mình.

[4] Trung học vi thể, Tây học vi dụng : ý nói trong việc học văn minh phương Tây phải giữ lấy các giá trị truyền thống của TQ, các thứ học được (như khoa học kỹ thuật) chỉ để áp dụng cho nhu cầu thực tế, không được phủ nhận các giá trị truyền thống. (Based on Traditional Chinese Values and Aided with Western Application).

[5] Nghĩa Hòa Quyền tức Nghĩa Hòa Đoàn, phong trào yêu nước phản đế năm 1900, chủ lực là nông dân.

[6] Tức Trung Hoa Dân Quốc và nước CHND Trung Hoa.

[7] Phong trào Dương Vụ: thập niên 60-90 thế kỷ XIX, một số quan lại và tài phiệt nhà Thanh sử dụng công nghệ phương Tây để xây dựng công nghiệp quân sự, dân dụng, hải quân, lục quân… thúc đẩy TQ phát triển.

[8] Ý nói Trung Quốc bắt tay Mỹ và coi Liên Xô là kẻ thù.

[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 12th 2016, 4:22am)


373

Friday, August 19th 2016, 6:19pm

Đằng sau việc tạp chí nổi tiếng TQ bị ép đình bản
Posted on 16/08/2016 by The Observer
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Ngày 17/7/2016, tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu ở Trung Quốc (TQ) bất ngờ tự tuyên bố đình bản. Tin này đang làm dư luận TQ và quốc tế xôn xao bàn tán.

Viêm Hoàng Xuân Thu (Yanhuang Chunqiu, báo in và báo điện tử, sau đây viết tắt VHXT) là một tạp chí rất nổi tiếng ở TQ, chủ yếu vì từ ngày ra đời (1991) tới nay luôn luôn đăng những bài nhằm thức tỉnh người TQ suy nghĩ về các sai lầm trong quá khứ của Đảng Cộng sản TQ, chủ yếu dưới hình thức hồi ký, ghi chép, bình luận các vấn đề lịch sử “nhạy cảm” từng bị quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước TQ đánh giá sai lầm, lâu nay dư luận phổ biến nghi ngờ quan điểm đó nhưng rất ít người dám nói ra sự thật và phê phán một cách có lý trí.

VHXT tập hợp được nhiều học giả nổi tiếng nhất về lịch sử TQ cận-hiện đại như Thẩm Chí Hoa, Dương Khuê Tùng, Dương Thiên Thạch (sử gia TQ đầu tiên sang Mỹ đọc Nhật ký Tưởng Giới Thạch), Tiền Lý Quần …, nhiều đảng viên lâu năm có uy tín cao và chủ trương cải cách dân chủ, như Đỗ Đạo Chính (nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Xuất bản 1987-89), Lý Nhuệ (nguyên Thư ký Mao Trạch Đông), Tào Trị Hùng (nguyên Thư ký cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang), Điền Kỷ Vân (nguyên UV BCT, Phó Thủ tướng), Tạ Thao (nguyên Hiệu trưởng ĐH Nhân dân TQ), Thượng tướng Tiêu Khắc nổi tiếng trong quân đội…

Phần lớn tác giả viết cho VHXT đều là các nhà cách mạng lão thành, nhà văn và học giả uy tín. Các bài đăng trên VHXT có trình độ học thuật cao, dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, tôn trọng sự thật, lý trí, khách quan, công bằng, chỉ bàn bạc về học thuật mà không động chạm tới chính trị hiện tại. Vì thế VHXT giành được sự tín nhiệm của các cán bộ cấp tiến trong Đảng và Nhà nước TQ. Như VHXT số 1/2001 có in lời đề tặng kèm ảnh của nguyên Phó Thủ tướng Tập Trọng Huân (cha Tập Cận Bình), khen đây là một tờ báo “đứng đắn”.

VHXT có ảnh hưởng rất lớn đối với giới cán bộ về hưu và giới trí thức – những người lo lắng nhất về tương lai đất nước. Lượng phát hành tạp chí gần đây lên tới 150.000 bản mỗi kỳ, gấp 10 lần thời kỳ đầu. Cộng đồng người Hoa trên thế giới đặc biệt quan tâm số phận của VHXT.

Đồng thời VHXT cũng trở thành đối tượng đả kích của các thế lực cực tả (như trang mạng Wuyou Zhixiang) không ngừng tuyên truyền về sự sáng suốt của Mao Trạch Đông và ĐCSTQ. Thế lực này có ảnh hưởng rất lớn trong quần chúng công nông chiếm đa số tuyệt đối ở TQ, đã tạo áp lực mạnh mẽ khiến VHXT từng trải qua một số phận rất gian nan.

Tháng 5/2014 trang mạng cực tả Hồng Ca Hội (szhgh.com) đăng bài phân tích vì sao VHXT “chống Mao, chống Cộng lâu dài như thế mà vẫn đứng vững không bị đổ”. Bài báo viết: Hầu như không một số VHXT nào không có bài phê phán Mao Trạch Đông, thỉnh thoảng có động chạm tới Đặng Tiểu Bình, hai lãnh tụ được đa số người TQ tuyệt đối tôn sùng; ngoài ra VHXT còn công kích các sai lầm của Quốc tế Cộng sản thời Stalin… Dưới danh nghĩa “Cầm bút viết sự thật” về các vấn đề lịch sử, thực ra VHXT là một tờ báo có tính chính trị rất mạnh, mượn lịch sử để ám chỉ hiện tại, trở thành trận địa chủ yếu truyền bá trào lưu “chủ nghĩa hư vô lịch sử”. Gần đây VHXT chủ ý đăng 3 bài liên quan, định nghĩa chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa hư vô lịch sử, nhằm phản biện một loạt bài nói của TBT Tập Cận Bình về đề tài này. Điều đó chứng tỏ tạp chí VHXT đã “tuyên chiến với ĐCSTQ” – bài báo nhận định.

Hồng ca Hội cho rằng VHXT kiên trì 4 quan điểm chủ yếu như sau:

Phủ định cách mạng, đánh giá cách mạng là một lực lượng phá hoại; cho rằng chỉ có khai sáng theo tính chất giai cấp tư sản mới có tác dụng xây dựng đất nước;

Phương hướng CNXH mà TQ lựa chọn từ sau phong trào Ngũ Tứ là sự đi chệch dòng chảy chính của văn minh nhân loại;

Các nước lạc hậu về kinh tế và văn hóa không có tư cách làm CNXH. Thứ CNXH mà TQ đang xây dựng là “CNXH nông nghiệp”, “CNXH phong kiến” và “CNXH không tưởng”;

Lịch sử ĐCSTQ là sự tiếp diễn và chồng chất một loạt sai lầm.

Bài báo kết luận: Tuy có làm phong phú nhận thức của mọi người đối với quá khứ, đính chính được một số hiểu lầm về lịch sử, nhưng VHXT dùng chiêu bài phục hồi sự thật lịch sử để lật đổ các kết luận đã được công nhận về ĐCSTQ, cho nên về tổng thể VHXT là một tạp chí “tập trung công kích ĐCSTQ”, gây nguy hại cho sự cầm quyền của Đảng.

Tuy vậy vì nhiều lý do, tạp chí này vẫn đứng vững suốt 23 năm qua, dù nhiều lần bị các cơ quan chính quyền can thiệp thô bạo đòi thay các nhân vật cấp tiến trong Tòa soạn VHXT.

Chẳng hạn Ban Tuyên giáo Trung ương dưới thời TBT Hồ Cẩm Đào đã yêu cầu ông Đỗ Đức Chính nghỉ hưu vì tuổi cao và giao tạp chí cho Bộ Văn hóa quản lý, nhưng ông Đỗ và toàn ban biên tập phản đối kịch liệt, Hồ Cẩm Đào phải bỏ qua. Tập Cận Bình lên nắm quyền đã ra tay mạnh hơn, buộc ông Đỗ phải giao tạp chí cho Bộ Văn hóa. Đỗ Đức Chính 91 tuổi đồng ý nghỉ hưu, nhưng không chịu giao tạp chí, với lý do người kế thừa VHXT phải có đầu óc cấp tiến và ông đã chọn Hồ Đức Hoa, con trai thứ cố TBT Hồ Diệu Bang thay mình.

TQ không cho phép có báo chí tư nhân. VHXT là tạp chí do Viện Nghiên cứu Nghệ thuật TQ (thuộc Bộ Văn hóa) chủ quản và chủ trì, nhưng Tòa soạn lại gây dựng được nguồn kinh phí riêng (hiện nay tương đương 1,2 triệu USD), không dùng kinh phí nhà nước. Giữa Viện với Tòa soạn VHXT từng ký một hợp đồng có hiệu lực pháp lý, quy định Tòa soạn VHXT có quyền bổ nhiệm nhân sự, quyền tự chủ tài chính và tự chủ về nội dung các bài đăng báo.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 22nd 2016, 6:38am)


374

Saturday, August 20th 2016, 4:33am

Nhưng bỗng dưng ngày 14/7/2016, Viện Nghiên cứu Nghệ thuật TQ ra thông báo về việc điều chỉnh nhân sự của VHXT, thay tất cả các chức vụ chính của tờ báo bằng người do Viện đề cử. Nguyên Chủ nhiệm Tòa soạn, nguyên Tổng Biên tập Đỗ Đạo Chính, Phó Chủ nhiệm Hồ Đức Hoa (đang công tác nước ngoài), Tổng Biên tập Từ Khánh Toàn đều bị mất chức.

Ngày 17/7, Biên tập viên Ngô Vĩ và nguyên Chủ nhiệm Tòa soạn – Đại diện pháp nhân Đỗ Đạo Chính ký “Tuyên bố đình chỉ xuất bản” tạp chí VHXT, xác nhận ngày 15/7 Viện Nghiên cứu Nghệ thuật TQ cho người xông vào nơi làm việc của VHXT, cưỡng chế cướp lấy và sửa đổi mật khẩu trang mạng của VHXT. Tuyên bố khẳng định, từ nay về sau bất cứ ấn phẩm nào phát hành với danh nghĩa VHXT đều là giả mạo, không liên quan gì tới Tòa soạn cũ của tạp chí. VHXT đã kiện ra Tòa án cấp quận việc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật TQ đơn phương vi phạm hợp đồng. Ngày 28/7,
Tòa án quận phán quyết không thụ lý đơn này. VHXT đang kiện lên Tòa cấp cao hơn.


Trang mạng cực tả kunlunce.com (Côn Lôn Sách) ngày 21/7 đánh giá việc “thay máu” nhân sự Tòa soạn VHXT là “một sự kiện lớn trong lĩnh vực hình thái ý thức ở TQ hiện nay”, đánh dấu “một thắng lợi quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa hư vô lịch sử”, “sự bắt đầu giai đoạn cao của cuộc đấu tranh này”.

Sự việc trên cho thấy Tập Cận Bình đang kiên quyết cấm đoán mọi tiếng nói phản biện. Cũng có ý kiến cho rằng VHXT bị ép phải đóng cửa chỉ vì dám khui ra các vụ tham nhũng của người thuộc phe họ Tập.

Dưới đây xin điểm qua một số bài đáng chú ý từng đăng trên VHXT:

Số 1/2005 đăng bài của Lý Nhuệ, trong đó có viết: “Sau 1949, càng thấy chúng ta đã đi qua một đoạn đường vòng dài. Hồi ấy, trước một loạt sai lầm nghiêm trọng rõ ràng, không ai dám dũng cảm đứng ra phản đối…..Các cải cách thể chế chính trị, văn hóa có liên quan tới tập quán cũ chưa đồng bộ với kinh tế, làm cho hiện tượng tham nhũng… càng phát triển, khiến mọi người cảm thấy chúng ta còn chưa thực sự tỉnh ngộ từ các sai lầm lịch sử …”

Số 11/2005 mở chuyên đề “Hồ Diệu Bang trong lòng chúng ta”, mời nhiều nguyên lão trong Đảng như nguyên Phó Thủ tướng Điền Kỷ Vân, Lý Nhuệ, Tào Trị Hùng… tham gia đánh giá lại cố TBT Hồ Diệu Bang. VHXT cùng tuần san “Băng điểm” đăng bài “Hồ Diệu Bang trong lòng tôi”, cả hai tờ báo đều bị Ban Tuyên giáo phê bình, số báo đó bị cấm phát hành.

Số 2/2007 bài của Tạ Thao “Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ với tiền đồ của TQ”, đánh giá chủ nghĩa xã hội dân chủ là thành quả cao nhất của chủ nghĩa Mác, chỉ có chủ nghĩa xã hội dân chủ mới cứu được TQ. Nhưng chủ nghĩa này chủ trương nhân dân bỏ phiếu chọn ra chính đảng cầm quyền, tức phản đối chế độ một đảng nắm quyền suốt đời.

Số 7/2007 đăng bài “Nhớ về đại viện Quốc vụ viện” của Điền Kỷ Vân, trình bày mặt tích cực của cố TBT Triệu Tử Dương từng bị Đặng Tiểu Bình miễn chức do đồng tình với vụ biểu tình lớn ngày 4/6/1989 (tại quảng trường Thiên An Môn, bị Đặng đàn áp đẫm máu), ca ngợi Triệu trong thời gian làm Thủ tướng từng dẫn đầu phong trào tiết kiệm chống phô trương lãng phí. Chính quyền cấm đăng bài này trên mạng và cấm các mạng khác sao chép.

Số 5/2009, bài “Tinh thần Ngũ Tứ – Giá trị phổ quát” phê bình không nêu tên câu nói của đương kim Chủ tịch Quốc hội Ngô Bang Quốc: “Tuyệt đối không rập khuôn cách làm của phương Tây, tuyệt đối không thực hành chế độ nhiều đảng thay nhau nắm chính quyền”.

Số 7/2011 đăng các bài có nội dung “nhạy cảm” liên quan tới dịp kỷ niệm 90 năm thành lập ĐCSTQ, vì thế một số thư viện trường ĐH không cho bạn đọc mượn số tạp chí này.

Số 1/2013 đăng bài “Hiến pháp là sự đồng thuận về cải cách thể chế chính trị”, kêu gọi chính quyền biến Hiến pháp nước CHNDTH đang bị xếp xó, bị vô hiệu hóa, thành một hệ thống chế độ thực tế, kêu gọi sửa đổi tất cả các chế độ, pháp lệnh chính sách vi phạm Hiến pháp.

Việc tạp chí VHXT liên tục bị can thiệp, cấm đoán, ép đình bản, là một ví dụ cho thấy ĐCSTQ dù từng phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng nhưng vẫn không muốn được người khác vạch ra sai lầm đó. Họ sợ rằng nếu dân chúng biết sự thật thì đặc quyền lãnh đạo đất nước của ĐCSTQ sẽ bị lung lay, và họ chưa bao giờ muốn từ bỏ tham vọng đó. ĐCSTQ không lắng nghe, thậm chí đàn áp mọi tiếng nói phê bình, phản biện của công luận. Đây là sự tiếp tục của truyền thống mấy nghìn năm TQ thực hành chế độ lễ giáo do Khổng Tử đặt ra, yêu cầu bề tôi (cấp dưới) phải tuyệt đối phục tùng một mình Hoàng đế (cấp trên), cho dù trên sai lầm, dưới vẫn phải tuyệt đối im lặng, trung thành với trên (“trung quân”).

Hậu quả tất nhiên của thể chế trung quân mù quáng này là ĐCSTQ không thấy được sai lầm của mình, do đó lại tiếp tục phạm sai lầm. Ví dụ phong trào Đại Nhảy vọt và Công xã nhân dân do Mao Trạch Đông phát động làm hàng chục triệu nông dân chết đói mà không địa phương nào dám báo cáo Trung ương biết sự thật. Nguyên soái Bành Đức Hoài dám nói điều đó thì lập tức bị Mao cách mọi chức vụ. Sau đấy Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ tỏ ý định kiểm điểm mấy phong trào nóitrên thì Mao cho Hồng Vệ Binh lôi Lưu ra đấu tố, hành hạ đến chết trong cuộc “Cách mạng Văn hóa” do Mao phát động – một phong trào sai lầm nghiêm trọng hơn nhiều, suýt nữa làm đất nước này tan rã sụp đổ nếu cuộc “Cách mạng” đó không chấm dứt nhờ cái chết của Mao.

Nguồn: VOA Indonesia.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 22nd 2016, 6:37am)


375

Sunday, August 21st 2016, 6:54pm

Nhận định:

Lúc còn nhỏ khi đọc truyện Nhạc Phi- Tần Cối thì NP cũng rất ghét cái đám gọi là nịnh thần và cũng rất là ngưỡng mộ những vị trung thần nói chung (mà triều thần Trung Hoa chỉ như một thí dụ điển hình). NP cũng đồng ý với lời phê bình của tác giả khi cho là Nhạc Phi là "ngu trung" (biết sai, biết sẽ bị giết mà vẫn mù quáng tuân lệnh).
Lớn lên NP mới biết ở thời đại đó và ngay cả trong thời đại của TC bây giờ, không có cái gì gọi là "khôn trung" với "ngu trung" cả! Những tên đầu sỏ cầm quyền chỉ muốn có một thứ là "trung thành tuyệt đối" mà thôi, nếu không muốn bị "tru di cửu tộc" (giết hết cả 9 giòng họ có liên hệ với người không vâng lời). Nhạc Phi không có đường nào khác hơn là phải bó tay chịu chết. Cũng như dưới chế độ của Stalin thì không có cái đếch gì là "trung với nước, hiếu với dân" cả ! Chỉ có tuyệt đối trung thành với một mình Stalin thôi, chẳng phải nước Gấu Mẹ Vĩ Đại, mà cũng chẳng phải Sô Viết Nga hay gì gì cả. Trong thời đại của hắn có biết bao nhiêu là Nhạc Phi người Nga.
Nghĩ sao khi một Thống Tướng cầm binh ra trận, bách chiến bách thắng, mà phải chịu cuối đầu chết một cách nhục nhã mà trước khi chết còn tung hô Stalin ???
Chỉ vì ông ấy biết mình chẳng những sẽ bị truy sát như Trosky mà cả giòng họ của ông ấy cũng sẽ bị trù dập cho tàn mạt nữa.
Ghê gớm thay chế độ độc tài tòan trị!!!!
Nếu TC mà đánh thắng Mỹ thì cả thế giới nầy sẽ hưởng chế độ ngàn năm Bắc Thuộc như dân tộc VN đã từng chịu đựng.
Lúc đó lịch sử thế giới không phải chỉ ghi lại vết nhơ của "chế độ nô lệ da đen" mà còn thêm "chế độ nô lệ da vàng" và "chế độ nô lệ da trắng" nữa !!!!
Chấp nhận Bắc Thuộc lần nầy là chấp nhận không phải chỉ "lên rừng săn ngà voi và tê giác, lặn biển mò trai" mà còn là "gái VN sẽ đời đời làm đỉ cho khắp thế giới và trai VN thì đã bị tàn sát" !!!!
Vì sao thế ? Vì dân VN chính là khắc tinh của TC nên phải bị tiêu diệt để trừ hậu họa (sau cả ngàn năm nô lệ mà vẫn còn quật khởi). Vậy TC sẽ chỉ có một bản án giành sẳn cho dân VN là "
Trảm thảo trừ căn" (nhổ cỏ tận gốc).

Ai không tin NP thì hảy chống mắt mà đón nhận định mệnh mà mình đã chuốt lấy (chớ không phải từ trời).
Và cũng đừng có mơ tưởng là Mỹ sẽ đánh TC để cứu nước VN.
Chúng nó và lũ bán nước VN hay dùng thủ đọan ru ngủ và mớm cho dân VN hy vọng hảo để đừng chống đối đấy, biết không ???

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 21st 2016, 7:05pm)


376

Saturday, August 27th 2016, 4:27am

Từ cao nguyên Việt Nam tới thủ đô Lào
Nguyễn Văn Nghiêm
Aug 16, 2016,


Sư Đòan 7 BB, Mỹ Tho

Sau Biến Cố Banmêthuột 20, tháng 9, 1964, mà tôi đã dẹp xong 5 Trại Lực Lượng Đặc Biệt Thượng chiếm đài phát thanh và bao vây thị xã Banmêthuột một cách hòa bình không cần đến súng đạn hành quân, có người ganh ghét gửi thư cho Phủ Đắc Ủy Trung Ương Tình Báo chụp mũ tôi là Cộng Sản nằm vùng, là người trong Tổ Chức FULRO của Đồng Bào Thượng, và nói xấu Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II, Tư Lệnh của tôi!

Đúng ngày nghỉ Lễ Giáng Sinh 1964, sau khi đưa vợ con đi chơi Biển Hồ về thì bị An Ninh Quân Đội Pleiku đến nhà bắt đem đi nhốt. Sau vài tuần lễ bị giam ở Ty ANQĐ, tôi được chuyển về Nha An Ninh Quân Đội Gòn nhốt tiếp để điều tra.

Giám Đốc Nha ANQĐ là Trung Tướng Linh Quang Viên. Ông là môt trong những lãnh tụ Thượng Miền Bắc gốc ở Cao Bằng, Lạng Sơn vẫn thường theo dõi và biết những việc làm của tôi cho Đồng Bào Thiểu Số Việt Nam nên đã giao cho một Đại Úy Chánh Sự Vụ của Nha để điều tra, minh oan và bạch hóa hồ sơ vu cáo chụp mũ cho tôi. Nhưng dù đã được minh oan không có tội, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn không cho tôi trở về Cao Nguyên, mà cho tôi thuyên chuyển về Vùng IV Chiến Thuật ở Cần Thơ, như là một hình phạt phát vãng đi xa không cho bén mảng đến Cao Nguyên để lại có sự liên lạc tiêp với Đồng Bào Thượng.

May sao ở Vùng IV này tôi có một người bạn thân tên là Nguyễn Bảo Trị cùng Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị, Anh tốt nghiệp ở Nam Định, tôi tốt nghiệp ở Thủ Đức, nhưng có cơ hội gặp nhau ở Điền Hộ, Tiểu Khu Phát Diệm 1952, 1953, hợp nhau và thân nhau. Bây giờ gặp lại nhau sau 11 năm xa cách, cấp bậc tôi mới là Thiếu Tá, còn Anh đã là Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho, nhưng Anh không thay đổi vẫn giữ tình bạn xưa, Anh xin với Thiếu Tướng Minh Tư Lệnh Phó Vùng IV cho tôi về Sư Đoàn 7 làm việc với Anh. Tôi được Anh cử làm Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Sư Đoàn, và được Anh cấp ngay cho một căn biệt thự để đón vợ con từ Cao Nguyên về sống với nhau.

Thời gian làm việc với anh Nguyễn Bảo Trị là thời gian êm đềm nhất trong cuộc đời quân ngũ của tôi. Tôi không phải làm công việc Thượng Vận nữa, vừa khó khăn, vừa bị cấp trên hoàn toàn coi thường không hề để ý đến, chỉ khi có biến cố người Thượng nổi loạn mới gọi đến và sai đi dẹp loạn mà thôi, xong rồi tình trạng lơ là đối với vấn đề Đồng Bào Thượng vẫn y như cũ!. Tuy nhiên, dù tôi làm việc ở Mỹ Tho, nhưng các Anh Em Thượng kết nghĩa với tôi vẫn từ Sài Gòn liên lạc với tôi. Đặc biệt có Em Ksor Hip đang là học viên Trường Sư Phạm Long An nhận học bổng từ Quỹ Phát Triển Giáo Dục Học Sinh, Sinh Viên Thượng Chăm của 3 chúng tôi (Kỹ Sư Nguyễn Văn Mừng ỏ Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt, Touneh Hàn Thọ Phó Đốc Sự người Churu, và tôi) thường xuống Mỹ Tho thăm tôi và cho tôi biết tin tức về Cao Nguyên.

Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia


Vào một đêm, khoảng tháng 7, tháng 8, 1965, lúc ấy đã hơn 11giờ khuya, có tiếng chuông điện thoại reo, tôi vội vàng nhấc điện thoại. Có tiếng của Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 của tôi:


“ Allo! Nghiêm đấy hả? Ngủ chưa?”
Ông nói tiếp:

“Ông Thiệu (Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia) vừa gọi tôi. Ông hỏi Nghiêm, và muốn gặp Nghiêm ở Văn Phòng của Ông ở Dinh Gia Long lúc 8 giờ 30 sáng”

Tôi hết sức ngạc nhiên, hỏi lại:

“Ủa! tôi có quen biết gì Ông Thiệu đâu? Làm sao Ông ấy lại biết tôi, và gọi tôi đến gặp Ông để làm gì?”

Thiếu Tướng trả lời:

“Chắc Ông ấy lại hỏi Nghiêm về tình hình Đồng Bào Thượng. Mai lên gặp Ông ấy nhớ đem theo đầy đủ những tài liệu về vấn đề này nhé!”

Thật là lạ! Tôi có quen biết gì Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đâu!
Tại sao Ông lại biết tôi?
Ai giới thiệu?
Và Ông muốn gặp tôi để hỏi về vấn đề gì?

Tuy
ngạc nhiên, thắc mắc nhưng thi hành lệnh của Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn, tôi cũng dậy chuẩn bị một số sách vở, bản đồ liên quan đến các Sắc Tộc Thiểu Số, rồi mới đi ngủ lại.


Sáng sớm một binh sĩ tài xế lái xe Jeep đưa tôi lên Sài Gòn. 8 giờ sáng tôi đã có mặt ở Dinh Gia Long, một dinh thự rất lớn của Pháp để lại. Hồi Biến Cố Banmêthuột 20, tháng 9, năm 1964, thì Thủ Tướng Chính Phủ là Trung Tướng Nguyễn Khánh, nhưng ngày 25, tháng 2, 1965, Ông đã mất quyền hành và trở thành Đặc Sứ Lưu Động ở ngoại quốc.

Ngày 14, tháng 6, 1965, Đại Hội Quân Lực VNCH gồm 50 Tướng Lãnh đã họp và cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Quốc Trưởng), và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ Tướng)

Lúc này Dinh Độc Lập đang được xây cất chưa xong nên Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia tạm đặt Văn Phòng tại Dinh Gia Long.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 4:36am)


377

Saturday, August 27th 2016, 4:38am

Trước 8 giờ 30 tôi vào trình diện Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Ông đưa tôi sang một phòng họp rất rộng ở bên cạnh Văn Phòng của Ông. Phòng rộng có thể chứa cả trăm người họp, nhưng hôm nay phòng bỏ trống, các ghế xếp dựng dọc các thành tường. Giữa phòng chỉ có một cái bàn dài, mỗi bên có 5 ghế, thêm 2 ghế 2 đầu là 12 ghế. Tôi ngồi trên một ghế để chờ, chồng tài liệu sách vở và bản đồ để trên bàn.

Đúng 8 giờ 30, Đại Tá Chánh Văn Phòng mở một cánh cửa ở bên hông, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu bước vào, theo sau Ông là Thiếu Tướng Phạm Quốc Thuần Phụ Tá Quân Sự và Đại Tá Vũ Ngọc Tuấn Sĩ Quan Tùy Viên cùng vào.

Trung Tướng Thiệu kéo ghế ngồi ở đầu bàn, và chỉ một ghế bên tay trái, tươi cười bảo tôi ngồi vào đấy. Thiếu Tướng Phạm Quốc Thuần thì ngồi ở một ghế xa tận đầu bàn bên kia. Đại Tá Vũ Ngọc Tuấn, Sĩ Quan Tùy Viên của Trung Tướng thì đứng tận xa mãi tận một góc ở cuối phòng. Tôi chào Trung Tướng và nói theo lệnh Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị lên gặp Trung Tướng. Trung Tướng nói:

“Tôi nghe nói Anh làm công tác Thượng Vận đã lâu, và rất am tưởng về vấn đề này, nên tôi muốn gặp Anh để nghe Anh trình bày và tôi cũng rất muốn biết vấn đề này ra sao?”

Tôi trải lên mặt bàn tấm bản đồ những sắc dân thiểu số ở Đông Nam Á và thưa với Ông:

“Thưa Trung Tướng, nếu Trung Tướng cho phép, tôi sẽ trình bày sơ qua vấn đề thiểu số của các nước xung quanh, như Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Lào, Miên, Miền Bắc Việt Nam, và cuối cùng sẽ trình bày vấn đề ở trên Cao Nguyên Miền Nam Việt Nam vì tất cả có liên hệ xa gần, trực tiếp và gián tiếp với nhau.”

Ông đồng ý bảo tôi cứ tuần tự trình bày.
Chỉ tay trên bản đồ tôi nói:

“Đây là biên giới giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Miến Điện, Thái Lan, Lào, và Việt Nam. Từ 1949, Cộng Sản đã thành công chiếm trọn Trung Hoa, và thành lập ra nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Chính Phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch phải chạy ra Đài Loan. Mao Trạch Đông có dã tâm muốn xâm lược các nước Đông Nam Á, đã từng tuyên bố sẽ đưa 500 triệu nông dân Tàu xuống các nước miền Nam.

Để thực hiện mộng ước xâm lược này Mao chủ trương một chính sách rất thâm độc là Dùng Man Di quản lý Man Di.

Ở dọc biên giới Trung Quốc và các nước vừa kể có rất nhiều các Sắc Tộc Thiểu Số ở cả hai bên biên giới. Họ đều thuộc các hệ ngôn ngữ Hmong-Miền, Thai-Kdai, Hán – Tạng ..vv... Bên phía Trung Quốc, Mao bắt chước Nga Sô, tổ chức các vùng có các sắc tộc thiểu số thành các Khu, các Châu, các Kỳ, và các Huyện Tự Trị.
Lãnh tụ tự nhiên của các sắc tộc thiểu số được quyền cai trị dân chúng của mình một phần nào thôi dưới sự cai trị và giám sát trực tiếp của các cán bộ hành chính địa phương của Trung Quốc. Rồi dùng những Lãnh Tụ này lôi kéo những bà con thân thuộc cùng sắc tộc ở các nước bên kia biên giới đòi tự trị và hướng về Trung Quốc.


Miến Điện

Ví dụ trường hợp ở, dưới thời thuộc địa của Anh, người Anh có chính sách chia để trị y như người Pháp đã áp dụng ở Việt Nam Người Anh dùng người Ấn để kiểm soát hành chánh kinh tế và cho các săc tộc thiểu số ở xung quanh nhiều quyền tự trị để khống chế nhà cầm quyền người Miến ở Thủ Đô trung ương.

Năm 1948, khi lấy lại được nền Độc Lập khỏi Thực Dân Anh, Chính Phủ Miến đã tổ chức Quốc Gia thành một Liên Bang nhưng các Săc Tộc Thiểu Số với sự xúi dục của TC vẫn muốn có nhiều quyền hành hơn để duy trì những tài nguyên của họ như vàng, ngọc bích và thuốc phiện v v.

· Có tới 20 nhóm võ trang thiểu số, đáng kể nhất là ở Vùng Tam Giác Vàng bên Miến Điện, và Thái Lan có Sắc tộc Shan, với trùm buôn thuốc phiện Khun Sa là có vũ khí hùng mạnh hơn cả.

· Chính phủ Miến Điện sau nhiều lần thất bại trong nỗ lực thương thuyết nên đã sử dụng quân đội để đánh dẹp lực lượng võ trang của các sắc tộc thiểu số, nhưng không thành công. Nội chiến cứ thế kéo dài suốt từ năm 1948 đến nay chưa dứt.

· Mặtkhác để giảm thiểu sự can thiệp của TC vào vấn đề sắc tộc chính phủ Miến cũng phải áp dụng một chính sách ngoại giao thân thiện với TC và dành cho TC nhiều dễ dài trong việc đầu tư kinh tế, khai thác những tài nguyên và sử dụng vị trí địa dư của Miến như là một con đường chuyển vận hàng hóa nguyên liệu, năng lượng lên những tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên vv là những tỉnh nằm sâu trong đất liền xa vùng duyên hải trù phú ở dọc bờ biển Miền Đông.

· Quan trọng hơn nữa là TC có thể dùng hải cảng của Miến cho những tàu chiến của TC có thể hoạt động ở Ấn Độ Dương tranh hùng với Ấn Độ. Chắc chắn Hoa Kỳ cũng có những hoạt động ở Miến để Miến khỏi rơi vào tay TC, nhưng đến nay tôi chưa sưu tầm được tin tức về vấn đề này.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 4:49am)


378

Saturday, August 27th 2016, 4:51am

Thái Lan

Còn đây là Thái Lan, đất nước này có 75% người Thái, 14% người Hoa, 3% người Mã Lai, ngoài ra còn người Môn, người Khmer, người Chăm, người Việt, và nhiều sắc tộc thiểu số nói tiếng Thai-Kdai, Hmông-Miền ở dọc biên giới phía Bắc giáp ranh với Miến Điện, và Lào như Shan, Lự, Lahủ, Karen, Hmông …v.v… Thái Lan hiện cũng đang gặp khó khăn về vấn đề thiểu số.

· Khó khăn thứ nhất là nhóm sắc tộc Shan ở Khu Tam Giác Vàng ở 2 Tỉnh Chiêng Rai, Chiêng Mai bên Thái Lan cũng bị Vua thuốc phiện Khun Sa bên Miến Diện kiểm soát. Lượng thuốc phiện sản xuất ở đây chiếm tới ¾ lượng thuốc trên thế giới.

· TC bán vũ khí lấy thuốc phiện kiếm lời. Các con buôn thuốc phiện người HoaHồng Kông, Chợ Lớn VN, Bankok, Mã Lai cũng bí mật buôn để tung ra thị trưởng thế giới. Vì Khun Sa có vũ khí hùng mạnh, quân đội Miến chưa dẹp được, và chính phủ Thái cũng gặp khó khăn để kiểm soát vùng này.

· Khó khăn thứ hai do nhóm người Hoa và người Việt gây ra. Lúc đầu họ thành lập hai Đảng Cộng Sản riêng. Sau họ sáp nhập làm một để hoạt động chung với mục đích là lật đổ chính phủ Hoàng Gia Thái. Trung Cộng và Việt Cộng yểm trợ mọi hoạt động của họ. Đến nay lực lượng vũ trang của họ cũng đã có cả ngàn người.

· Lào vốn có hận thù với Thái vì bị Thái đô hộ, nhờ Pháp mà lập được quốc gia. Nhưng khi Pháp và Thái phân định biên giới giữa hai nước đã lấy Sông Mê Kông làm ranh giới, khiến cho cả một vùng rất đông dân Lào chiếm tới 1/3 dân số Thái, nay là Vùng Đông Bắc Thái nhập vào lãnh thổ Thái. Lào luôn luôn mong muốn giành lại vùng đất này, nên đã cho Đảng Cộng Sản Thái đặt căn cứ trên đất Lào và hoạt động mạnh trong Vùng Đông Bắc Thái.

· Khó khăn thứ ba do nhóm thiểu số người Hoa và Mả Lai ở phía Nam gây ra. Để xâm lăng Mã Lai, TC yểm trợ người Hoa ở Mã Lai thành lập Đảng Cộng Sản, và hoạt động võ trang chống chính quyền. Đảng Cộng Sản Mã Lai đặt căn cứ nơi có người Mã và người Hoa ở Miền Nam Thái. Họ vừa đánh phá Mã Lai vừa chống Thái Lan đòi ly khai sáp nhập vào đất Mã Lai. Chinh Phủ Thái vùa dùng quân đội, cảnh sát đánh dẹp vừa dùng thương thuyết lôi cuốn họ trở về hợp tác với chính quyền nhưng chưa thành công. Xưa nay truyền thống ngoại giao của Thái Lan vẫn là “gió chiều nào ngả theo chiều đó”. Hễ cường quốc nào hiện diện trong vùng là Thái làm thân để tránh chiến tranh và lợi dụng sức mạnh của họ cho lợi ich của riêng mình. Hiện nay Hoa Kỳ là một cường quốc đang nỗ lực can thiệp vào chiến tranh ở Việt Nam chống lại sự bành trướng của Nga Sô, Trung Cộng Đệ Tam Đế Quốc Cộng Sản. Thái Lan đã cho Hoa Kỳ đặt nhiều căn cứ trên đất Thái để yểm trợ cho các hoạt động chiến tranh ở 3 nước Đông Dương. TC mới thành công lấy được quyền hành trong tay Tưởng Giới Thạch, chưa đủ mạnh để thành một cường quốc nên Thái chưa kết thân với Trung Cộng, và vẫn tự lực cùng với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, để giải quyết những khó khăn với nhóm thiểu số ở Tam Giác Vàng, nhòm Cộng Sản Hoa Việt, và nhóm Cộng Sản Hoa – Mã.

Trong khi tôi trình bày, Trung Tướng chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng mới ngắt lời hỏi lại một vài điều muốn tôi trình bày chi tiết hơn và rõ ràng hơn. Khoảng nửa giờ, một giờ, Đại Tá Chánh Văn Phòng lại mở cửa trình rằng đã đến giờ hẹn với một vị khách nào, hay đoàn thể nào, nhưng Trung Tướng đều khoát tay nói:



“Tôi đang bận. Việc này quan hệ hơn. Dời lại và sắp xếp một cái hẹn khác.”

Lào

Tiếp tục trình bày tôi đề cập đến tình hình ở Lào. Chỉ trên bản đồ, tôi nói đây là nước Lào. Năm 1949, Trung Cộng thắng, Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan, tàn quân Quốc Dân Dảng khác chạy sang các nước Lào, Thái Lan, Miến Điện, và cả sang Vùng Tây Bắc Việt Nam.

Nhóm tàn quan QDĐ ở bên Lào tập trung ở Vùng Tam Giác Vàng thuộc tỉnh Bokeo. Họ cũng kinh doanh thuốc phiện lậu để mua vũ khí lương thực tiếp tục chống TC và kiểm soát vùng này. Chính Phủ Lào không thể kiểm soát được họ.

Nhưng sự kinh doanh thuốc phiện cũng khiến có sự cạnh tranh va chạm với sự kinh doanh thuốc phiện của trùm Khun Sa bên Thái và Miến. Khun Sa, trùm buôn thuốc phiện bên Tam Giác Vàng của Thái và Miến là con một Sĩ quan Quốc Dân Đảng, và mẹ là một người Shan. Do đó thường có những sự đụng độ quân sự giữa hai bên. Không biết Cơ Quan Tình Báo Trung Ương của Mỹ ở Thái Lan có trợ giúp gì cho những đám tàn quân QDĐ này để chống Trung Cộng hay không?

Riêng với chính phủ Hoàng Gia Lào thì sau khi Pháp thua trận Diện Biên Phủ, phải ký kết Hiệp Định Geneve 1954, và rút khỏi 3 Nước Đông Dương, fhì Hoa Kỳ đã trực tiếp giúp Chính Phủ Lào, cùng vói sự trợ giúp của Chính Phủ Thái và Chính Phủ VNCH ở Miền Nam VN.

Trong khi ấy thì Nga Sô, TCCộng sản Bắc Việt trợ giúp cho Đảng Cộng Sản Pathet Lào và những thành phần Trung Lập Lào chống lại Chính Phủ Hoàng Gia Lào.

Sau Hiệp Định Geneve 1954, Lào hoàn toàn được Độc Lập. Pathet Lào là lực lượng kháng chiến được tập kết ở hai tỉnh Phongsaly Hua Phăn ở cực Băc Lào ráp gianh với Trung Cộng và Vùng Tây Bắc của VN để chờ bầu cử theo Hiệp Định.
[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 5:00am)


379

Saturday, August 27th 2016, 5:02am

Năm 1955 bầu cử được diễn ra, Chính Phủ Liên Hiệp đầu tiên được thành lập do Phe Trung Lập Lào làm Thủ Tướng. Nhưng vì có sự chia rẽ nội bộ trong Hoàng Gia Lào:

- một phe Bảo Hoàng do Hoàng Thân Boun Oum, một Tiểu Vương Vùng Champasak Hạ Lào cầm đầu,

- một Hoàng Thân theo Cộng Sản LàoSouphanouvong,

- một Hoàng Thân khác chủ trương Trung Lập Souvanna Phouma, em trai cùng cha khác mẹ của Hoàng Thân Souphanouvong, cộng thêm sự can thiệp của hai bên trợ giúp kể trên nên nhiều cuộc đảo chánh đã xẩy ra, nội chiến lại tiếp diễn.

Năm 1959, Quân Đội Pathet Lào và cả Quân Đội Công Sản Bắc Việt, hình như có cả sự tham dự của Quân Đội Trung Cộng như hồi có chiến trận Điện Biên Phủ, mở cuộc tấn công lớn vào Quân Đội Hoàng Gia Lào. Chính Phủ Lào tố cáo với Liên Hiệp Quốc là Cộng Sản Bắc Việt xâm lược Lào. Cuộc chiến giằng co kéo dài chưa ngã ngũ.

Năm 1961, Hoa Kỳ đồng ý cùng Nga Sô mở Hội Nghị Geneve chấp nhận Trung Lập Hóa Nước Lào, cả hai bên đều đồng ý rút quân. Trong khi Hoa Kỳ rút lui không can dự ảnh hưởng vào Chính Phủ Trung Lập Lào do Thủ Tướng Souvanna Phouma lãnh đạo, thay thế Thủ Tướng Chính Phủ Hoàng Gia Lào Boun Oum, từ 1962 cho đến nay, thì Bắc Việt chỉ rút một số ít tượng trưng, còn đại bộ phận Quân Đội Bắc Việt vẫn ở lại, yểm trở Pathet Lào mở rộng sự kiểm soát nước Lào và giúp Cộng Sản Bắc Việt mở rộn Đường Mòn Hồ Chí Minh chuyển quân đội, vũ khí vào chiếm Miền Nam Việt Nam.

Trước tình hình chính trị rối ren của chính phủ Lào, tình trạng của các sắc tộc thiểu số Lào rất khốn khổ. Họ gồm 48 sắc tộc, chiếm tới 32% dân số Lào. Một nhóm ở Vùng Cao Miền Bắc gọi là Lào Sủng (Lào Vùng Cao), gồm Hmong (Mèo), Dao (Yao, Miền) Thái Đen, Shan, …vv...

Một nhóm ở miền núi Miền Trung và Nam Lào gồm những sắc tộc cùng hệ ngôn ngữ Môn – Khmer như người Thượng ở Cao Nguyên VN, dược gọi là Lào Thơng nằm trong sự kiểm soát của Pathet Lào và Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt. Họ phải đóng thuế thật nặng, con trai thì bị bắt đi lính , đàn bà con gái đàn ông thì đi dân công làm những việc nặng nhọc khuân vác, địu trên lưng, chặt quang rừng làm đường sá … v..v… Thuốc phiện của họ bị Cộng Sản độc quyền thu mua, đem về tung ra thị trường thế giới để mua vủ khí của Nga Sô.

Từ năm 1961 đến nay người thiểu số đã chống lại Cộng Sản Lào và Việt. Nổi bật nhất là săc tộc Hmông với Tướng Vang Pao trong Quân Đội Hoàng Gia Lào.

Vang Pao được CIA Mỹ sử dụng lập căn cứ ở sắc tộc Hmong ở Long Cheng, cao nguyên Trấn Ninh giáp ranh giới với Nghệ An, huấn luyện đạo quân du kích bí mật để chống Pathet Lao, đánh phá ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh, và xâm nhập phá hoại Cộng Sản Bắc Việt. Quân số đã lên tới nhiều ngàn người. Đối phó lại Pathet Lao cũng bắt lính người Hmong với số lượng tương đương để đánh quân Vang Pao. Săc Tộc Hmong hiện đang ở trong hoàn cảnh bắn giết lẫn nhau, môt bên do CIA Mỹ tổ chức, huấn luyện chỉ huy, một bên do Pathet Lao băt đi lính.

Miên

Vừa rồi là tình hình người thiểu số ở Lào. Bây giờ là vấn đề thiểu số ở Miên (Kampuchia). Miên có 10% dân số là người thiểu số gồm Chăm, Mã Lai, Lào, Thái, Miến, Hoa, Việt, và khoảng 10 săc tộc Thượng như người Thượng ở Việt Nam, trong số này chủ yếu là sắc tộc Phnong, cùng sắc tộc với người Mnông Tỉnh Quảng Đức Việt Nam, người Jarai cùng sắc tộc với người Jarai ở Pleiku, Phú Bổn.

Trong số những sắc tộc thiểu số ở Miên, người Việt bị hận thù, kỳ thị và gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhiều khi bị giết hại ngấm ngầm. Hiện nay Quốc Trưởng Miên là Cựu Hoàng Norodom Sihanouk. Ông chủ trương chính sách Trung Lập nhưng nghiêng về khối Cộng Sản Nga Tầu để thu về những mối lợi viện trợ, buôn bán, nhờ yểm trợ cho Cộng Sản Miền Bắc mở chiến tranh xâm lược Miền Nam.

Do đó có sự bất hòa với Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tình Báo Phủ Tổng Thống VN phối hợp với Tòa Đại Sứ VN ở Phnom Penh đã âm mưu đảo chánh hụt Sihanouk vào tháng 2 – 1959, và mưu sát hụt Sihanouk và vợ vào tháng 6, 1961, nên năm 1963, Sihnouk cho lệnh tập trung 3 tổ chức chống phả VN thành môt tổ chức gọi là Tổ Chức FULRO, Front Unifié de la Lutte des Races Opprimeés, Mặt Trận Thống Nhất Tranh Đấu Của Các Dân Tộc Bị Áp Bức.

Ba tổ chức ấy là:

- Mặt Trận Giải Phóng Vùng Hạ Kampuchia (Front de Liberation du Kampuchia Krom),

- Mặt Trận Giải Phóng Vùng Bắc Kampuchia (Front de Liberation du Kampuchia Nord), và

- Mặt Trận Giải Phóng Nước Chàm (Front de Liberation du Champa)

để đánh phá VN. Tổ chức FULRO do Đại Tá Um Savuth, Trưởng Phòng 2 Quân Đội Hoàng Gia Miên, làm Chủ Tịch, và Trung Tá Les Kosem, người Miên gốc Chăm làm Phó.

Năm 1964, Tổ chức này móc nối với một số người Thượng trong các Trại Lực Lượng Đặc Biệt Thượng ở Tỉnh Đắc Lắc của ta, tấn công chiếm Ban-mê-thuột để thành lập một Vùng Tự Trị của người Thượng trên Cao Nguyên, gây ra Biến Cố 20, tháng 9, 1964,tại Banmêthuột. Sau Biến Cố này Tổ Chức FULRO ở Phnom Penh, có thêm Y Bhăm, cựu Phó Tỉnh Trưởng Darlac, là Đệ Nhị Phó Chủ Tịch, và hàng ngàn tay súng của người Thượng đi theo Y Bhăm đóng ở Tỉnh Mondulkiri. Gần đây qua tin tức của những người Thượng theo FULRO đi qua lại giữa Phnom Penh và Banmêthuột cho biết, họ được cho ăn ở, được phát lương hàng tháng, được đi tắm biển có chụp hình rất đẹp. Theo họ nói Trung Tá Les Kosem Đệ Nhất Phó Chủ Tịch FULRO là người rất giàu. Hăn ta được Quốc Vương Sihanouk giao nhiệm vụ chuyên chở vũ khí đạn dược do Nga, Tầu chở đến Cảng Sihanoukville lên các căn cứ của VC được phép của Sihanouk cho đồn trú trên đất Miên sát biên giới VN. Lợi dụng nhiệm vụ này hắn cũng thầu cung cấp gạo, thực phẩm và những đồ cần dùng cho VC. Vì vậy hắn giàu lắm!

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 5:13am)


380

Saturday, August 27th 2016, 5:17am

Tôi đã trình bày tình hình các sắc tộc của các nước xung quanh như Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Lào, Miên. Ở đâu cũng thấy có bàn tay của TC nhúng vào theo chính sách Dụng Man Di quản lý Man Di. Còn ở Lào, Miên thì có thêm cả Nga, và VC nữa.

Miền Bắc VN

Bây giờ tôi trình bày tiếp Vấn Đề Sắc Tộc Thiểu số ở Miền Bắc và Miền Nam VN.

Sau Hiệp Dịnh Geneve 1954, Miền Bắc cũng phải giải quyết chính sách chia để trị của Thực Dân Pháp để lại, như Vua Xứ Thái ở Sơn La, Lai Châu, Vua Mèo ở Đồng Văn, Mèo Vạc ở Hà Giang …v..v…

Để lấy lòng người Thượng Miền Bắc và người Thượng Miền Nam hầu có thể dùng tài nguyên nhân vật lực của đồng bào trong cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam, Đảng Cộng Sản cũng bắt chước chính sách của Nga Sô, TC, cho thành lập những Khu Tự Trị cho các sắc tộc thiểu số, và phong cho những lãnh tụ của họ những chức vụ cao trong Đảng và chính quyền.

Vào tháng 1, 1955, nhà cầm quyền Miền Bắc tổ chức một buổi lễ có tới 600 đại biểu thiểu số tham dự. Trước những đại biểu này Hồ Chí Minh tuyên bố chính sách này và hứa sẽ cho thành lập cho họ những Khu Tự Trị.

- Ngày 29, tháng 4, 1955, Khu Tự Trị Thái – Mèo được thành lập đầu tiên. Khu này gồm các Tỉnh Sơn La, Lai Châu, nên còn gọi là Khu Tự Trị Tây Bắc. Tháng 5, 1955, Ủy Ban Lãnh Đạo Khu Tự Trị Thái-Mèo ra mắt. Tất cả có 23 Ủy Viên, trong đó chỉ có 2 Ủy Viên thuộc sắc tộc Kinh.

- Ngày 10, tháng 8, 1956, Khu Tự Trị thứ hai được thành lập có tên là Khu Tự Trị Tày – Nùng. Khu này gồm các Tỉnh Cao Bằng Bắc Thái, và Lạng Sơn nên còn có tên là Khu Tự Trị Việt Bắc. Ủy Ban Lãnh Đạo Khu Tự Trị này có tới 72 Ủy Viên, đứng đầu là Tướng Chu Văn Tấn, sắc tộc Nùng.

- Tháng 3, 1957, thành lập thêm một Khu Tự Trị thứ ba, có tên là Khu Tự Trị Lào-Hà-Yên, gồm 3 Tỉnh Lào Kay, Hà Giang, Yên Bái. Tháng 3, 1959, Khu Tự Trị này bị dẹp bỏ một cách âm thầm không rõ lý do.

Năm 1954, theo Hiệp Định Geneve, Hà Nội phải rút hết quân đội về Bắc Vỹ Tuyến 17. Họ đã mang theo được khoảng 6 ngàn người thiểu số Miền Nam tập kết ra Bắc. Phần lớn là quân nhân và gia đình họ. Những người này đã được huấn luyện kỹ càng.

Năm 1959, 1960, Hà Nội lại cho họ theo Đường Mòn Hồ Chí Minh, từng toán một, xâm nhập vào Cao Nguyên Miền Nam để bí mật tuyên truyền lôi kéo Đồng Bào Thượng theo Cộng Sản, chống lại Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 20, tháng 12, 1960, Đảng Cộng Sản cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để các nước trên thế giới nghĩ rằng cuộc chiến tranh nổi dậy ở Miền Nam là do dân Miền Nam đấu tranh chống nhà cầm quyền của họ, không liên can gì tới Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Miền Bắc.

Ngày 19, tháng 5, 1961, Mắt Trận Giải Phóng Miền Nam cho thành lập Ủy Ban Dân Tộc Tự Trị Tây Nguyên, sau đổi thành Tổ Chức Tây Nguyên Tự Trị. Y Bhi Aleo, sắc tộc Rhadé được bầu làm Chủ Tịch. Người này vốn là Cựu Xã Trưởng, theo Phong Trào Bajaraka, (chữ đầu của 4 sắc tộc lớn trên Cao Nguyên: Bahnar, Jarai, Radhé, Kahô), chống Chính Phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Theo những tài liệu tịch thu được của Cộng Sản trong các cuộc hành quân ở Cao Nguyên thì Võ Nguyên Giáp đã chủ trương xâm chiếm Miền Nam bằng “Chiến Lược Hai Chân”, đặt chân trái lên Cao Nguyên trước, đặt chân phải xuống đồng bàng Nam Bộ sau. Cao Nguyên chính là mục tiêu xâm chiếm hàng đầu của Cộng Sản Bắc Việt.


Tôi nghĩ Chính Sách Tự Trị cho các Vùng có các sắc tộc thiểu số cư ngụ vừa có lợi nhưng cũng vừa có hại, mà cái hại thì rất là to lớn lâu dài về sau rất khó giải quyết.

Ví dụ, trong nhất thời Cộng Sản có thể tuyên truyền lấy lòng người thỉểu số để khai thác lợi dụng họ trong chiến tranh. Nhưng từ trước đến nay mọi chủ trương chính sách của Cộng Sản chỉ là trong giai đoạn. Khi đạt được mục đich thì bỏ rơi theo kiểu “văt chanh bỏ vỏ”. Nếu sau này vì một lý do nào đó Cộng Sản xóa bỏ chính sách cho người thiểu số được tự trị, thì người thiểu số Miền Bắc sẽ bất mãn chống đối lại. Đất nước như là một miếng bánh, đang yên lành nguyên vẹn, bỗng dưng chia cắt ra thành nhiều miếng, dù có hàn gắn lại vết căt vẫn để lại dấu vết.

TC sẽ có cớ để can thiệp và xâm lược.

Qua các Khu Tự Trị ở bên kia biên giới Tầu, các sắc tộc thiểu số đều cùng bà con với các sắc tộc thiểu số bên Việt Nam, họ có thể bí mật chuyển vũ khí cho bà con bên này đấu tranh đòi Tự Trị, đòi có nhiều quyền hành hơn, và nhất là đòi ly khai sáp nhập vào những Khu Tự Trị cùng bà con bên Trung Cộng theo “Quyền Dân Tộc Tự Quyết”.


Còn ở trên Cao Nguyên Miền Nam, Đồng Bào Thượng rất chuộng “Chữ Tín”. Đã hứa thì phải giữ lời, làm khác đi không giữ lời hứa họ sẽ bảo là “Nói Láohọ sẽ không bao giờ tin nữa. Họ sẽ lại bất mãn, đấu tranh và hận thù sẽ mãi mãi kéo dài không bao giờ dứt. Đối với tôi, Chính Sách Tự Trị này là một mối họa tiềm ẩn lâu dài có hại cho sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam!

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 5:25am)


13 users apart from you are browsing this thread:

13 guests

Similar threads