You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

21

Wednesday, May 27th 2015, 6:43am

TQ xây đắp đảo là nguy cơ lớn
BBC -25 tháng 5 2015

Việc Trung Quốc có các hoạt động xây đắp đảo trên Biển Đông sẽ giúp nước này có ‘khả năng áp đảo về quân sự’ nếu xảy ra xung đột trên vùng biển này trong tương lai, một nhà nghiên cứu về Biển Đông nói với BBC.

Trao đổi với BBC, Tiến sỹ Lê Trung Tĩnh, thành viên Nhóm Nghiên cứu Biển Đông ở Pháp, nói việc Trung Quốc xây đắp đảo nhân tạo ‘đặt ra nguy cơ đối với Việt Nam rất rõ ràng’.

“Nếu diễn ra xung đội nhỏ hoặc xung đột lớn thì khả năng họ giành phần thắng là rất cao khi họ đã có bàn đạp là sân bay quân sự như vậy,” ông Tĩnh nói.

“Không chỉ riêng với Việt Nam, điều này còn đặt ra nguy cơ lớn đối với những nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc – những nước có đường giao thông đi qua Biển Đông – đặc biệt là Mỹ với mong muốn đưa tàu chiến hoặc là máy bay qua vùng biển này hoàn toàn không thể thực hiện được vì sự hiện diện quân sự của Trung Quốc,” ông nói thêm.

Theo ông Tĩnh phân tích thì Trung Quốc ‘có ba mục tiêu’ khi bồi đắp đảo với quy mô lớn trên Biển Đông.

“Thứ nhất họ khẳng định một lần nữa tuyên bố chủ quyền trên những vùng đảo trên Biển Đông,” ông nói.

“Thứ hai khi họ biến những thực thể này vốn là những thực thể chìm trong lúc thủy triều cao thành những đảo có thể sinh sống được và có thể cho máy bay lên xuống được sẽ dẫn đến việc những thực thể này trong chừng mực nào đó cho phép họ có được vùng biển ví dụ như lãnh hải, thềm lục địa theo Công ước Quốc tế về Luật Biển.”

“Đó là cơ sở cho họ đòi hỏi vùng biển lớn hơn để có thể tiến đến cụ thể hóa đường chữ U rõ ràng hơn,” ông nói thêm.

“Thứ ba là họ thiết lập được một loạt căn cứ dân sự và quân sự để kiểm soát Biển Đông một cách cụ thể rõ ràng trên thực địa.”

“Đến bây giờ Trung Quốc vẫn nói rằng họ tôn trọng tự do hàng hải nhưng rõ ràng họ làm như vậy để đến một lúc nào đó họ kiểm soát hoàn toàn, ví dụ như gần đây khi Mỹ cho tàu hoặc máy bay vào thì họ đã phản đối rất dữ dội,” ông giải thích, “Điều này cho thấy tôn trọng tự do hàng hải là cách nói ban đầu của Trung Quốc để xoa dịu tạm thời quốc tế và khó có người nào tin được chuyện đó.”

Khi được hỏi về khả năng Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông như họ đã từng làm trên Biển Hoa Đông, ông Tĩnh nhận định là ‘rất cao’.

Nếu Trung Quốc thiết lập được ADIZ, thì tất cả các máy bay khi đi vào vùng trời này phải báo cáo với Trung Quốc.

“Họ không cần phải thực hiện điều đó với thế giới hay với Mỹ. Họ chỉ cần thực hiện điều đó với những nước trong khu vực có tranh chấp là đủ rồi,” ông nói.

“Từ từ họ sẽ có mặc cả khác nhau với những nước lớn hơn để đạt được mong muốn của họ,” ông nói thêm.



22

Thursday, May 28th 2015, 4:25am

Nhận định:


Chúng ta đã thấy Mỹ thẳng thắng bày tỏ sự bực tức và lo ngại của mình. Nước Mỹ muốn TC phải ngưng ngay những cải tạo trên các bãi đá ngầm và rặng san hô mà họ đã chiếm đọat của VN.
Còn TC trên mặt nổi thì quyết liệt giử vửng quan điểm và khẩn cấp thiết kế những cơ sở chiến lược để chiếm lấy ưu thế tối thượng trên biển đông. Đó là mâu thuẩn địch ta, đó là lập trường đối kháng. Như vậy chuyện gì sẻ xảy ra ?

Tất nhiên khi mà những mâu thuẩn và đối kháng không thể hóa giải thì việc xung đột vũ trang là khó tránh khỏi. Vùng Đông Nam Á đang ở trên bờ vực thẳm của chiến tranh.

Cả TC và Mỹ đều không muốn tự mình phát động cuộc chiến. Có nghĩa là không ai muốn tấn công trước dù có bị thách thức. Nhưng nếu một trong hai tấn công trước thì nước kia sẽ đáp trả một cách mãnh liệt. Mỹ và TC đã từng đụng độ ở Đại Hàn và đã từng đụng độ ở VN nên họ biết nhau qúa rõ.

Tai sao không ai muốn tấn công trước ? Đơn giản là vì họ không muốn chiến tranh xảy ra, nhứt là xảy ra ngay trên đất nước của họ. Chiến tranh đâu phải là trò con nít như hai đứa " trẻ trâu " lao vào đánh đấm nhau, theo cái kiểu " thằng nào đánh trước làm cha ". Chiến tranh là tiêu tốn vật lực, tài lực và nhân lực, là đất nước điêu tàn, là sanh linh đồ thán. Phải đủ sức tài trợ chiến tranh chứ. Không thấy bài học của Mỹ ở VN, của Nga ở A Phú Hản sao ?
Đó là chưa kể những " thay bậc đổi ngôi " không thể lường trước được.

TC không sợ đánh nhau với Mỹ. TC không sợ dân chết. TC không sợ tốn tiền. TC chỉ sợ nội bộ đãng phân hóa, lãnh thổ qua phân, anh hùng cát cứ mà thôi. Có thể TC còn muốn dùng chiến tranh để nối kết người dân trong chủ nghỉa dân tộc cực đoan Đại Hán.
Thế còn các dân tộc khác như: Mãn, Hồi, Mông, Tạng thì sao ? Có phải đây là cơ hội ngàn năm một thũa để thóat ách đô hộ Tàu và quật cường hay không ? Mông Cổ, Mãn Thanh và Tây Tạng đã từng chiếm đóng nước Tàu trong bao nhiêu năm đấy, không nhớ sao ? Còn người Hồi Giáo vẫn đang sôi sục căm hờn không thấy sao ?

Thù trong giặc ngòai đấy !

Và vũ khí lợi hại nhứt của TC là gì ?
Không phải là những siêu vũ khí được cất dấu dưới những rặng núi, như tên lửa siêu thanh mang đầu đạn nguyên tử.
Không phải là những tàu ngầm tối tân chạy bằng năng lượng hạt nhân hay các chiến đấu cơ đời mới.
Cũng không phải là Hàng Không Mẫu Hạm Liêu Ninh.
Vũ khí lợi hại nhứt của TC là " biển người " !!!
Đó chính là lọai vũ khí vô thượng, vô đối mà họ đã dùng hàng ngàn năm trong bất cứ cuộc chiến lớn nhỏ nào từ xưa tới nay. Kể cả các trận thanh tóan của các băng đãng ( Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải :rolleyes: ). Kể cả " Trận biểu diễn mở màn " của Thế Vận Hội ở Bắc Kinh năm nào.
Thế cho nên dù 3 phần 4 của lòai người bị hủy diệt thì người Tàu vẫn còn sống sót trên trái đất.
Vậy thì TC sẽ tính tóan và hành động ra sao mà có thể bất chấp phản ứng của Mỹ và các nước Đông Nam Á ( trong đó có VN ) ???

This post has been edited 11 times, last edit by "nguoi pham" (May 28th 2015, 6:58pm)


23

Monday, June 1st 2015, 5:25am

Vì Sao Trung Quốc Thách Thức Cả Thế Giới Trong Cuộc Tranh Chấp Trên Biển Đông Hiện Nay?

Nguyễn Trọng Bình
Cần Thơ, 30/5/205


Vì sao Trung Quốc luôn tỏ thái độ xem thường và thách thức Việt Nam và cộng đồng thế giới trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông?
Để trả lời câu hỏi này nhất định chúng ta phải tự đặt mình vào lập trường và quan điểm của họ để phân tích, xem xét. Ở đây tôi thử phân tích và lý giải một số căn nguyên như sau:

- Thứ nhất, về mặt chiến lược “đối nội”, trong khi Việt Nam đến giờ vẫn còn loay hoay không biết tuyên truyền; “giải thích” làm sao cho dân chúng trong nước hiểu và đồng thuận; thậm chí Nhà nước hiện này còn rất “kiên định” cấm dân chúng biểu lộ sự bất bình trước thái độ hung hăng của TQ (vì “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”) thì ngược lại, từ lâu Trung Quốc đã có một chiến lược dài hơi để tuyên truyền cho toàn dân họ rất bài bản và kỹ lưỡng. Nói cách khác, trong khi “lòng dân” và “ý Đảng” ở Việt Nam vẫn còn chưa gặp nhau thì ngược lại, dân chúng Trung Quốc riêng về vấn đề biển Đông từ trước tới nay vẫn luôn ủng hộ chính sách ngoại giao cứng rắn và không nhân nhượng Việt Nam của chính quyền ông Tập Cận Bình.
Về vấn đề này, mới đây tác giả Đoàn Công Lê Huy trong bài viết “Bàn cờ chín khúc biển Đông của Trung Quốc” trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 28/5/2015 đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể rằng như sau: “Như kỳ thủ đánh cờ nghĩ trước trăm nước, qua hàng thế kỷ họ luôn xuất kỳ có chủ ý. Họ chuẩn bị chu đáo và thực hiện từng nước đi. Toàn quân, toàn dân, toàn diện, được chỉ huy từ trên cao, bằng một cây gậy nhất quán. Họ luôn hát vang giai điệu chính và làm sao để gần 1,4 tỉ người không lạc điệu. Trên biển dẫu có lúc lộn xộn, có đến năm “lực lượng chấp pháp”, năm con rồng cùng quấy phá biển Đông - ngũ long nộ hải - thì cũng không bao giờ họ lạc giai điệu chính. Có nghĩa là chiến lược vẫn nhất quán dù chiến thuật có thể lúc thế này lúc thế kia. Mao Trạch Đông hay Tưởng Giới Thạch dù có khác nhau về phe phái thì bản đồ vu vơ đường lưỡi bò chín đoạn vẫn được đồng thuận xài chung. Họ vẫn cùng nhau hát đúng giai điệu chính trên căn bản này”.

- Thứ hai, về đối ngoại, thời gian qua chính quyền Trung Quốc hoàn toàn yên tâm vì họ biết quan điểm và lập trường của Việt Nam là không kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines; Việt Nam cũng không liên minh với nước nào để chống lại họ. Và điều quan trọng hơn cả là Mỹ, Nga (hai cường quốc trên thế giới) đều tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.

- Thứ ba, về mặt pháp lý nhất là việc nhìn nhận và giải thích luật quốc tế, nếu như Việt Nam đang có chút lợi thế là bộ sưu tập các bản đồ cổ (trong đó chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền của Trung Quốc) và các học giả quốc tế cũng không chấp nhận ranh giới “đường lưỡi bò” thì ngược lại Trung Quốc có ưu thế hơn thông qua một “bằng chứng lịch sử” khác.

Đó là cái công hàm oan nghiệt do ông Phạm Văn Đồng thay mặt nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ký và “trân trọng” gửi cho họ vào năm1958 (mà mọi người đã rất nhiều lần tranh luận trước đây). Dù muốn dù không chúng ta phải thừa nhận, Việt Nam rất khó ăn khó nói với bạ bè thế giới về nội dung ghi trong cái mảnh giấy (tuy chỉ có mấy chữ nhưng tác hại rất khủng khiếp) này.
Cho nên, thời gian qua nếu Việt Nam nói “chúng tôi có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì phía ngược họ cũng đường hoàng, dõng dạc tuyên bố giống hệt như vậy. Và khi chúng nói họ “hung hăng”, “ngang ngược” thì họ cũng đáp trả lại Việt Nam là kẻ “lật lộng”, “phản bội”...

- Thứ tư, nhiều chuyên gia luật hiện nay chỉ tập trung phân tích việc Trung Quốc cải tạo các đảo đá ngầm hiện nay thành đảo nhân tạo thì về mặt pháp lý căn cứ vào các điều khoản của “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) họ sẽ không được công nhận chủ quyền. Điều này là không có gì sai. Tuy nhiên, đáng tiếc là Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến vấn đề ấy. Điều họ quan tâm là phải làm sao bằng mọi cách nhanh chóng kiểm soát tất cả những đảo mà họ đang xây dựng để từng bước kiểm soát cả biển Đông. Trên cơ sở đó làm bàn đạp từng bước dùng sức mạnh “nước lớn” của mình để áp đặt “luật chơi” mới lên các “nước nhỏ” nhằm phân chia lại trật tự thế giới với Mỹ ở Thái Bình Dương. Tóm lại, là mục tiêu của họ kiểm soát trên thực địa chứ không phải chuyện công nhận hay không công nhận của UNCLOS. Đừng nghĩ rằng, họ không sợ “mất mặt”, “mất uy tín” với bạn bè quốc tế. Thực ra, họ biết hết những chuyện ấy nhưng điều quan trọng là họ tin rằng sau khi độc chiếm biển Đông; trở thành bá chủ họ sẽ tạo dựng và lấy lại uy tín còn mạnh mẽ hơn nữa. Nói cách khác đây là chiêu “ Tiên hạ thủ vi cường/ Hậu hạ thủ vi tai ương” trong Binh pháp Tôn Tử mà họ đương nhiên sành sỏi hơn chúng ta rất nhiều.


- Cuối cùng, những ngày qua, kể từ khi Mỹ đưa máy bay vào do thám và công bố những hình ảnh Trung Quốc đang cải tạo đảo, dư luận lại bắt đầu làm sống lại giả thuyết “chiến tranh Trung - Mỹ” sắp nổ ra. Dĩ nhiên chúng ta nhất định cũng cần đặt ra tình huống giả định này để nhìn nhận vấn đề cho thật thấu đáo. Tuy vậy, như nhiều chuyên gia khác cũng nhận định, kịch bản Trung - Mỹ xảy ra chiến tranh trên biển Đông trong tương lai gần ít có khả năng xảy ra hơn kịch bản Trung Mỹ “bắt tay” và thương lượng với nhau. Câu nói của ông Tập Cận Bình khi gặp ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây:“Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Trung Quốc và Mỹ” ít nhiều đã ngầm nói lên điều này. Và nếu như kịch bản này xảy ra thì chắc chắn Việt Nam khi ấy chỉ là một quân cờ để hai cường quốc thế giới mang ra “cân, đo, đong, đếm” mà thôi.


Nhận định:

Hòan tòan đồng ý với những lập luận của ông Nguyễn Trọng Bình, chỉ xin bổ túc một vài điều:

Có những điều TC làm được mà ta không làm được vì sợ:
- Trước hết là sợ TC cất binh hỏi tội VN, hoặc bí mật hỏi tội các cá nhận dám đi ngược lại ý muốn của " thiên triều ".
- Kế đến là sợ mất ngọn cờ chính nghĩa vào tay của " những tên phản động "
- Rồi sợ những cuộc bạo lọan đột xuất do các cuộc biểu tình vượt ra ngòai khuôn khổ cho phép.
- Sau hết là sợ " các thế lực thù địch " thừa cơ triệt tiêu tính chính danh của đãng.

TC biết là thời gian đang đứng về phía họ. Xung đột vũ trang càng chậm xảy ra càng có lợi cho họ. Họ đang cố tình cù nhây và kéo dài việc tranh cải bằng mồm để xây dựng quân đội và chiếm thế thượng phong. Và cuối cùng khi mâu thuẩn lên tới đỉnh điểm thì họ sẽ sẳn sàng nhượng bộ để tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ và tìm cách thương lượng để đạt thêm những quyền lợi cốt lõi khác. Mà Mỹ thì không muốn gây chiến với ai nếu như lợi ích sinh tử của quốc gia không bị đe dọa ( Who care about Vietnam and Vietnamese ? ).

" Dụng nhân như dụng mộc ", người nào việc ấy. Để đối phó với người Việt chính quyền Mỹ sẽ dùng người Mỹ gốc Việt.
Để sẳn sàng thương lượng với TC, chính quyền Mỹ sẽ dùng ngoại trưởng John Kerry.

Như vậy có hai kịch bản có thể xảy ra:

- Một là VN hoặc là sẽ chịu nằm dưới ảnh hưởng của TC vĩnh viễn, hoặc là chấp nhận sự " bảo hộ " của Mỹ như Philippine, nếu như Mỹ chấp thuận.
- Hai là rốt cuộc người VN vẫn phải giải quyết những vấn đề còn đang " tồn tại " với nhau. Giải quyết bằng cách nào, ôn hòa hay quyết liệt, hòan tòan tùy thuộc vào thái độ của chúng ta. Và cũng còn tùy thuộc vào sự quan tâm của những thế hệ người Việt tương lai.

Còn nếu như Mỹ vẫn quyết tâm liên kết với các nước trong vùng để áp đảo một đối thủ tiềm năng, thì TC sẽ có phương hướng hành động ra sao ?

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 3rd 2015, 6:42am)


24

Tuesday, June 2nd 2015, 7:04pm

'Trung Quốc luôn tiến lên từng bước một'
BBC Tiếng Việt
1 tháng 6 2015

Trao đổi với BBC hôm 31/5/2015, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia quan hệ quốc tế từ Đại học George Mason bình luận về chiến thuật này cũng như thủ thuật " tách bó đũa ra từng chiếc " của Bắc Kinh trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, không riêng ở Diễn đàn An ninh Khu vực - Đối thoại Shangri-La 2015, vừa bế mạc tại Singapore. Ông nói:

" Về phương diện thi hành, thì nó (chính sách Biển Đông của Trung Quốc) rất có tính cách cơ hội và rất là uyển chuyển, rất là mềm dẻo, nhưng vấn đề chính là luôn luôn tiến lên từng bước

Chính sách đó chắc chắn là tiếp tục rồi bởi vì đó là điều rất thuận lợi cho Trung Quốc và điều Trung Quốc phải làm. Tôi nghĩ là họ cứ tiếp tục. Nhưng mà ta nên nhớ chính sách của Trung Quốc về phương diện lâu dài thì rất ổn cố, nó nhắm vào một kết quả rõ rệt.

Nhưng về phương diện thi hành, thì nó rất có tính cách cơ hội và rất là uyển chuyển, rất là mềm dẻo, nhưng vấn đề chính là luôn luôn tiến lên từng bước một. Cái mà người ta gọi là xung đột cường độ thấp (low intensity of conflict), là xung đột nhưng mà đủ thấp để người ta không đưa (gây) ra chiến tranh hoặc (dẫn tới) sự can thiệp, phản ứng bắt buộc của các nước lớn.

Mà nó lại làm rất khó chịu, mà... ngày càng thực hiện được những bước tiến dần dần, tuần tự của Trung Quốc để đạt được mục tiêu tối hậu của mình.

Tôi thấy là Mỹ lên tiếng rất mạnh và sự phản ứng của Trung Quốc chính thức ở trong Diễn đàn đó tương đối không có mạnh, nghĩa là (không) có tính cách đụng độ như trường hợp năm (Shangri-La) 2010, mà sự đối thoại (khi đó) rất căng thẳng.

Kỳ này Trung Quốc không làm như vậy, có lẽ là bởi vì ông ấy đã đạt được một số mục tiêu tiên khởi rồi, cho nên không cần thiết phải làm chuyện đó nữa."


Nhận định:

GS Nguyễn Mạnh Hùng đã nhìn thấy tận gan ruột của TC. Chính xác đường lối hàmh xử của họ là như vậy. Nhưng trong tam thập lục kế của TC, hay binh thơ Tôn Tử còn có kế " Dương đông kích tây ", còn có " điểm và diện ".
" Diện " là gây căng thẳng ở biển đông cho đến chừng nào vẫn còn có lợi cho họ. Còn " điểm " chính là đất nước VN.
Không, NP không có " trù " cho đất nước VN mình có chiến tranh để cho thỏa lòng căm tức đâu nhé, mấy anh DLV đầu đất !
Này nhé, báo và đài của chúng nó vẫn ra rã là trong sự nghiệp lịch sử tiến chiếm biển đông của lũ nó trở ngại duy nhứt trước sau vẫn là VN, cho nên phải chinh phạt VN cho bằng được và bằng mọi giá. Có làm được như thế mới mong trỗi dậy hiên ngang mà thâu tóm phần còn lại của Đông Nam Á. Rồi mới có thể " chia ba thiên hạ " với Mỹ và Nga. Còn chuyện độc chiếm biển đông thì dọa chơi thôi chứ nuốt không đặng vì lực bất tòng tâm.

Thế nên " Dương ( biển ) đông, kích tây ( nguyên của VN ) " đấy, phải không ?

Chốt " tử huyệt " từ bắc chí nam thì TC đã điểm hết rồi, chỉ còn chờ " ngọai công nội ứng " nữa thôi !!!!
Ngọai công bằng gì ? bằng tàu " há mồm " để đổ bộ " biển người " đấy.

Xin hỏi VN ta đã có sẳn vũ khí " hủy diệt hằng lọat " để bảo vệ bờ biển dài 3260 km chưa ? Hay ít ra cũng phải có hằng ngàn thành Cổ Loa với hàng trăm ngàn chiếc nỏ thần Kim Quy chứ.

Nói vậy thôi, chứ VN là cái gân gà khó nuốt của bọn con cháu Tào Tháo đấy:

" Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có. "

( Bình Ngô Đại Cáo )

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 3rd 2015, 7:43am)


25

Thursday, June 4th 2015, 5:56am

Jane's Defence

Trong số vũ khí trang bị Nga sản xuất, trong năm 2013-2014, Việt Nam đã nhận được :

- 400 tên lửa phòng không có điều khiển Igla-1 dành cho các tàu tuần tiễu lớp Project 10412 và BPS-500 (lớp Ho-A), cũng như các tàu tên lửa lớp Project 1241.8 (Molniya)

- 128 tên lửa chống hạm Kh-35 (đặt hàng 400 quả) dành cho các frigate lớp Gepard-3.9 và các tàu tên lửa lớp Project 1241.8 (Molniya)

- 4 tiêm kích Su-30MK2V (đặt mua 12 chiếc).

- Việt Nam tính đến cuối năm 2014 đã nhận được 3 tàu ngầm điện-diesel KILO (lớp Project 636.1) trong số 6 tàu đã đặt mua. Nga đang cung cấp nhiều loại vũ khí cho các tàu ngầm này.

- Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã nhận 28 tên lửa hành trình trang bị cho hệ thống tên lửa Club-S (đặt mua 500 quả)

- 45 ngư lôi chống hạm 53-65 (đặt mua 800 quả)

- 45 ngư lôi chống hạm/chống ngầm TEST-71 (đặt mua 800 quả).

Nhận xét:

Nếu cân nhắc tương quan lực lượng thì với số vũ khí sẽ có ( đặt mua ) VN cũng gây khó khăn cho TC trong bước đấu tấn công mình ( first line of defence ). Nhưng đối với chiến thuật " tiền pháo hậu xung " của TC thì sẽ chẳng thấm vào đâu. TC vẫn còn nhiều khả năng dập nát những thành phố lớn và đông dân của VN. Rốt cuộc VN vẫn cần có hậu thuẩn của một hay nhiều cường quốc mới có thể gọi là khả dỉ đương đầu với TC. Có thể trong thời đại nầy, TC không thể đương nhiên xâm chiếm VN ( biết đâu chừng !? ) nhưng TC vẫn có thể gây ra những thiệt hại to lớn và không tòan vẹn lãnh thổ cho VN. Lịch sử vẫn chưa sang trang kể từ Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 4th 2015, 6:41am)


26

Thursday, June 4th 2015, 6:44am

Thời báo Hoàn cầu kêu gọi Việt Nam giữ cái đầu lạnh trước 'lời đường mật' của Hoa Kỳ.
BBC Vietnamese 3 tháng 6 2015

Sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter và người đồng nhiệm Phùng Quang Thanh ký một văn bản về thúc đẩy hợp tác quốc phòng. Báo Hoàn cầu nhận xét:

“ Cho dù văn bản này mang tính tượng trưng, nó cho thấy hai nước cựu thù nay đã tiến đáng kể trong việc xích lại gần nhau chứ không chỉ còn là lời nói.”

Tuy nhiên, báo này đặt câu hỏi:

" Liệu Hoa Kỳ có thực sự giang tay đón Việt Nam hay không ?"

và tự trả lời:

"Có nhiều nghi ngờ hơn là tin tưởng về điều này.
Các vết thương từ cuộc chiến vẫn chưa lành, bởi vậy đứng trước sự ủng hộ bất ngờ việc chuyển giao vũ khí, Việt Nam, vốn vẫn theo XHCN, không đến nỗi ngây thơ mà không đặt câu hỏi về toan tính của Hoa Kỳ. Người Việt Nam thừa biết Washington đang dùng Hà Nội để kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông."

Báo này cho rằng dân Mỹ không ưa gì thể chế chính trị ở Việt Nam:

"Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam ngã vào vòng tay của Mỹ ? Câu trả lời không thể rõ ràng hơn: “ Chỉ là lời đường mật “. Hà Nội sẽ tiếp tục cảnh giác trước Washington và lập trường này không dễ gì thay đổi vì lời đường mật của Bộ trưởng Carter.
Ngược lại, Hoa Kỳ cũng sẽ không tin là Việt Nam sẽ trung thành với họ."

Tờ báo xu hướng diều hâu nầy của Đảng Cộng sản Trung Quốc quay sang phân tích về quan hệ Việt-Trung. Báo Hoàn cầu cho rằng Việt Nam mang tình cảm phức tạp đối với Trung Quốc:

"Ngay khi có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Việt Nam vẫn nhận thức được rằng Trung Quốc là bằng chứng sống cho tính chính danh của hệ thống chính trị của họ."

Báo Trung Quốc nói Bắc Kinh luôn nỗ lực giữ quan hệ tốt với Hà Nội:

"Trung Quốc giữ nguyên tắc đối với các vấn đề lãnh thổ, nhưng không bao giờ là đe dọa chiến lược đối với Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam sẽ luôn luôn là hàng xóm láng giềng.... Sự can thiệp của các thế lực bên ngoài ( trong vấn đề Biển Đông ) sẽ không bao giờ có lợi cho người dân hai nước và ý đồ duy nhất của họ là đẩy Bắc Kinh và Hà Nội vào thế cạnh tranh."

Báo Hoàn cầu kết thúc bài xã luận bằng cảnh báo hai nước cần tỉnh táo trước tình hình hiện tại.


Nhận định:

Tờ báo nầy là cơ sở tuyên truyền vận động quần chúng và là cơ quan lý luận của đãng Cộng Sãn Trung Quốc ( TC ).
Tuy nhiên nó được dùng một cách trá hình như là tiếng nói của quần chúng.
Bài báo nầy đang nói lên điều gì ?
Nó bảo rằng TC đang bực tức và lo sợ cho âm mưu lấn chiếm biển đông của TC bất thành vì sự xích lại gần nhau của hai kẻ cựu thù Việt-Mỹ.

Và nó đang ra sức " đánh phá " việc nầy bằng cách tô đậm sự hòai nghi của hai nước:

- Nó bảo rằng dân Mỹ không ưa gì thể chế chính trị ở Việt Nam.
Ừ, nếu thật thế thì sao ?
Nếu dân Mỹ không ưa gì thể chế chính trị ở Việt Nam thì dân Mỹ cũng đâu có ưa gì thể chế chính trị ở Tàu. Nhưng mà dân Mỹ đâu có tìm cách lật đổ nhà cầm quyền TC. Trong cuộc sống hàng ngày dân Mỹ luôn luôn phải chấp nhận sự khác biệt để sống chung hòa bình. Và luật pháp của Mỹ bảo đảm sự tồn tại của những khác biệt đó.

- Nó bảo rằng Mỹ sẽ không tin là Việt Nam sẽ trung thành với họ.
Ừ, có thể là như vậy, nhưng có ai ngu xuẩn đến đổi đặt hết lòng tin vào một người bạn mới quen không ?
Chứ đừng nói người đó là cựu thù. Lòng tin phải được xây dựng bằng thiện chí qua thái độ và hành động của đối tượng, mà còn phải " kinh qua thử thách " nữa đấy. Thế còn " 16 chữ vàng " của ông anh thì sao ? Hình như ông anh đã thẳng tay liệng nó xuống cống rồi thì phải.

- Nó bảo rằng đó “ Chỉ là lời đường mật “, tức là lời nói xuông ( lip service ).
Nghĩa là sao ? chẳng hóa ra VN chỉ biết ngữa tay đón nhận không thôi à ? Nếu vậy thì thất vọng là phải rồi. Ông anh là con buôn mà không biết nguyên tắc " cho và nhận " ( give and take ) sao ?

- Nó bảo rằng Việt Nam mang tình cảm phức tạp đối với Trung Quốc.
Ừ, rất là phức tạp đó ông anh.
Mỹ nó gọi là " love to hate " . We love to hate you, TC ! ( Người VN chúng tôi rất " khóai " ghét anh đó TC ! ).

- Nó bảo rằng Trung Quốc là bằng chứng sống cho tính chính danh của hệ thống chính trị của VN.
À, cái nầy là tầm bậy hết sức nhen ông anh.
Tính chính danh của hệ thống chính trị của VN nếu không phải là " chống Mỹ cứu nước " thì cũng phải là " đánh đuổi ngọai xâm, thống nhất đất nước, bảo tòan lãnh thổ và lãnh hải ".
Chứ làm sao lại là do " thiên triều " ban phát như thời xa xưa được ?
Ông anh nhứt định vẫn không bỏ mộng bành trướng ( Chinese dream ) à ?

- Nó bảo rằng Việt Nam thừa biết Washington đang dùng Hà Nội để kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông.

Giởn chơi hòai ông anh, VN mà kềm chế được TC à ?
Chúng tôi chỉ sợ bị ông anh ăn sống nuốt tươi thôi, đừng giởn nhột nghen.

- Nó bảo rằng Bắc Kinh luôn nỗ lực giữ quan hệ tốt với Hà Nội cho nên sẽ không bao giờ có lợi cho người dân hai nước khi Bắc Kinh và Hà Nội bị Mỹ đẩy vào thế cạnh tranh.
Quan hệ tốt với Hà Nội nào ? còn ngư dân VN bị ông anh cho " Tàu lạ " bắn giết trên biển đông thì sao ?
Ai đẩy ai vào thế cạnh tranh ? Chỉ có ông anh đẩy chúng tôi vào tận bờ thôi.
Ới Bà Óanh ơi, đấy gọi là " vừa đánh trống vừa ăn cướp " và " gái đĩ già mồm " , bà phát ngôn hùng biện ơi !!!

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 4th 2015, 8:21am)


27

Friday, June 5th 2015, 5:35am

Tầm nhìn của người Công dân Thế giới

Bùi Tín
02.06.2015 VOA Vietnamese

Nhờ mối quan hệ trong hội Phóng viên Không Biên giới Reporters Sans Frontières - RSF có trụ sở ở Paris, tôi mới đây làm quen với 2 bạn nhà báo Trung Quốc mới từ Hồng Kông sang.

Theo các bạn nói trên, thế giới đã bước vào thời đại Toàn cầu hóa. Cả thế giới liên quan với nhau, liên kết với nhau, phụ thuộc nhau như trong một ngôi nhà cực lớn.
Các vấn đề chính trị, kinh tế, tài chính, thương mại, môi trường, khí hậu, chống khủng bố, chống buôn lậu, chống dịch bệnh, chống thiên tai... đều mang tính toàn cầu sâu sắc.

Về mặt chính trị, người Công dân Thế giới cần rèn luyện một đôi mắt tỉnh táo, sắc sảo, nhìn rõ đâu là những quan điểm cổ hủ, lỗi thời, nguy hiểm của thế giới cũ, đâu là quan điểm văn minh tiến bộ được chắt lọc từ lịch sử thành những con đường sáng dẫn đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc, an bình cho toàn thế giới.

Các bạn đều cho rằng nền dân chủ đa nguyên đa đảng theo chế độ pháp quyền ngày càng hoàn thiện là sự lựa chọn chuẩn xác nhất cho toàn thế giới, không của riêng một châu lục nào, là của chung của phương Tây cũng như phương Đông.
Cuộc gặp sôi nổi hẳn lên khi nhà báo trẻ Trung Quốc cho rằng:

" Công dân Thế giới cần nhận rõ hiện đang tồn tại 3 Ma vương của thế giới cũ mà thế giới văn minh hiện tại cần nhận diện để ngăn chặn và loại bỏ.

Một là Ma vương nước chúng tôi - Tập Cận Bình đang quyết duy trì chế độ độc đảng chống nhân dân, bỏ tù các nhà dân chủ; chiến dịch chống tham nhũng chỉ là thủ đoạn chính trị trù dập phe cánh do tranh ăn với nhau, vì bản thân Tập cũng như Vương Kỳ Sơn cũng là trùm tham nhũng, không kém gì Chu Dung Cơ hay Ôn Gia Bảo. Tập đang trong thế lưỡng nan, cưỡi hổ cực dữ, tiến lui đều khó. Đây là Ma vương của Trung Quốc, nguy hiểm cho Châu Á, cho toàn thế giới với giấc mộng hão toàn cầu của ông ta đang bị cả thế giới văn minh ngăn chặn.

Ma vương thứ hai của toàn cầu là Vladimir Putin, dân Ukraine gọi là nhân vật “mi Stalin mi Tsar” (nửa Stalin nửa Sa Hoàng), mang bản chất hoài cổ hai đế chế Nga Hoàng và Cộng sản Xô Viết đã cáo chung. Ông ta dù lái xe đua giỏi, lái máy bay, tầu ngầm, cưỡi ngựa, nhưng quan điểm rất cũ, vẫn còn chất KGB rất nặng, con người cổ lạc lõng giữa thế giới mới. Ukraine là cục xương hóc trong cổ, dù đầy đủ chứng cớ ông ta vẫn chối phăng là không hề can thiệp vào lãnh thổ Ukraine. Uy tín quốc tế và trong nước suy giảm lớn vì lộ mặt gian xảo.

Còn Ma vương thứ ba chính là giặc Cờ Đen Hồi giáo cực đoan cổ lỗ cực kỳ tàn bạo ở Trung đông, đang bị thế giới Hồi giáo chân chính, hiếu thiện, tân tiến, liên minh cùng Hoa Kỳ và Liên Âu phản kích, đẩy lùi ở Syria và Yemen, không có tương lai".

Theo chúng tôi, Ma vương thứ nhất có thể gọi là Hoa Ma vương, lão thứ hai là Nga Ma vương và lão thứ ba là Hắc Ma vương, thuộc thời đại mông muội".

Thế rồi Bành Tiên sinh ( gọi đùa thôi ) cho biết từ năm 2004 đến nay đã có 200 triệu đảng viên, đoàn viên CS và thành viên các tổ chức ngoại vi của Đảng CS Trung Quốc tuyên bố ra đảng, thoát đảng, vĩnh biệt đảng, hàng vạn tư bản đỏ cao cấp bỏ chạy cùng tài sản phi pháp ra nước ngoài. Chúng đang bị săn lùng từ mọi phía, không còn đất dung thân.

Đó là những ý kiến chân thành, lại táo bạo, rõ ràng về cách nhìn các sự kiện và nhân vật đương thời theo đôi mắt tinh tường của một nhà báo - công dân của thế giới hiện đại


Nhận xét:

NP không thể không đồng ý với hai nhà báo Trung Hoa nói trên.

Lịch sử tiến hóa của lòai người đi từ man rợ mông muội đến văn minh tiến triển mọi mặt, thì không có một người nào, một nhóm người nào có thể " lãnh đạo " nhân lọai quây trở về cái thời bầy đàn súc vật được. Vậy mà vẫn có những Mộ Dung Phục mang mộng đồ vương. Không, Mộ Dung Phục không mưu đồ phục quốc vì hắn không có tài kinh bang tế thế. Hắn không biết làm sao cho quốc thái dân an. Hắn, Mộ Dung Cô Tô, chỉ mưu tranh bá đồ vương, chỉ muốn chểm chệ ngồi trên ngai vàng cho bá tánh tung hô. Đó chính là tham vọng cuồng si cả đời của hắn. Rút cuộc thì hắn cũng được một đám con nít ngây thơ và ham ăn đi theo tung hô vạn tuế để chờ đợi được ban phát bánh kẹo.

Thật tội nghiệp cho những kẻ sống trong hoang tưởng và cũng tội nghiệp những đứa đi theo hắn lang thang trong chốn mồ mả âm hồn.

Bởi vậy Kinh Thánh có câu: " Các ngươi hãy coi chừng những tiên tri giả ! "

Cải lương miền nam gọi là " Ngưu Ma Vương đang thuyết pháp " :D :D :D

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 6th 2015, 5:47am)


28

Friday, June 5th 2015, 6:47am

Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ để làm gì?

TS Nguyễn Hưng Quốc
VOA Vietnamese -Thứ năm, 04/06/2015

Chưa có chi tiết nào về chuyến đi được công bố, tuy nhiên, điều đầu tiên có thể khẳng định một cách chắc chắn là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ không thể ký kết bất cứ một hiệp ước quan trọng nào với Mỹ. Đó là nguyên tắc hành chánh. Trong cấu trúc chính trị của Việt Nam, với tư cách tổng bí thư, ông Trọng là người có quyền lực cao nhất nước, nhưng dưới mắt Tây phương, ông lại chỉ là lãnh tụ của một đảng chứ không phải lãnh tụ của quốc gia (như trường hợp của chủ tịch nước hay thủ tướng), do đó, về phương diện ngoại giao, ông không phải là đối tác thích ứng của tổng thống Mỹ.

Huống gì ông Nguyễn Phú Trọng lại có hai thế yếu để có thể hoạch định chiến lược chung với Mỹ:

Thứ nhất, ai cũng biết ông Trọng không phải là một tổng bí thư mạnh và có ảnh hưởng quyết định về chính sách trong đảng.

Thứ hai, sinh năm 1944, trong kỳ đại hội đảng vào đầu năm 2016 sắp tới, ông đã 71 tuổi, lứa tuổi bị buộc phải về hưu. Như vậy, ông chỉ còn tại vị được chưa tới một năm nữa thôi. Đó là một thời khoảng ngắn ngủi không thích hợp cho bất cứ một cam kết hoặc một chính sách nào lâu dài. Mỹ chắc chắn biết rõ điều đó: Trong tiếng Anh, người ta hay gọi những lãnh tụ sắp hết nhiệm kỳ như vậy là “vịt què” (lame duck).

Không có một hiệp ước hay một cam kết dài hạn nào, chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, theo tôi, chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Hoàn toàn có tính chất tượng trưng.

Tượng trưng, về phía Việt Nam, nằm ở chỗ: họ muốn khẳng định thiện chí và nhiệt tình thắt chặt bang giao với Mỹ để cân bằng cán cân quyền lực với Trung Quốc. Điều ai cũng biết là lâu nay Trung Quốc tìm mọi cách để lấn hiếp Việt Nam. Với con đường lưỡi bò của Trung Quốc, nếu thành hiện thực, nước bị thiệt thòi lớn nhất là Việt Nam. Với việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa của Trung Quốc, khi hoàn tất, nước bị đe doạ nhiều nhất cũng là Việt Nam. Với cả hai, Việt Nam đều bị bất lực. Nhỏ và yếu, Việt Nam không có cách gì để phòng vệ một cách hiệu quả cả. Dù muốn hay không, Việt Nam cũng phải tìm sự hỗ trợ từ bên ngoài. Trong mấy năm vừa rồi, Việt Nam chạy đôn chạy đáo để tìm kiếm đồng minh. Nhưng đồng minh duy nhất có thể giúp được Việt Nam chính là Mỹ. Không thể có ai khác.
Qua chuyến đi Mỹ, ông Nguyễn Phú Trọng chỉ muốn gửi một thông điệp: cả đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam đều cần Mỹ và đều đặt hy vọng vào quan hệ đồng minh ấy.

Về phía Mỹ, việc tiếp đón ông Nguyễn Phú Trọng cũng có tính chất tượng trưng: Họ muốn gửi một thông điệp là họ muốn và sẵn sàng liên kết với Việt Nam để bảo vệ an ninh trên Biển Đông. Họ không chấp nhận những hành vi xâm chiếm cũng như những thái độ gây hấn của Trung Quốc. Với họ, Biển Đông là một con đường hàng hải tối quan trọng không thể để mặc cho Trung Quốc tự tung tự tác.


Nhưng nói đến Biển Đông là nói đến Việt Nam, nước có chủ quyền trên nhiều hòn đảo ở Trường Sa nhất và cũng là nước có lãnh hải chung với con đường lưỡi bò của Trung Quốc nhiều nhất. Có thể nói tất cả các nỗ lực bảo vệ nguyên trạng trên Biển Đông của Mỹ sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu Mỹ không lôi cuốn được sự tham dự của Việt Nam, quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng nhất trên Biển Đông.

Tuy nhiên, việc đón tiếp Nguyễn Phú Trọng với những “nghi thức cao nhất” dành cho các nguyên thủ quốc gia của Mỹ lại mang một ý nghĩa khác nữa:

Mỹ thừa nhận tư cách nguyên thủ của ông Trọng, và qua đó, thừa nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản tại Việt Nam.

Thật ra, điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Lâu nay, Mỹ vẫn chủ trương, một mặt, đòi hỏi các quốc gia phải tôn trọng nhân quyền, nhưng mặt khác, vẫn tôn trọng các cơ cấu quyền lực ở các quốc gia khác.
Riêng với Việt Nam, Mỹ vẫn thường xuyên lên án các hành động trấn áp dân chúng nhưng chưa bao giờ kêu gọi lật đổ chính quyền để xây dựng một chế độ khác. Với họ, việc thay đổi chế độ là công việc trong nội bộ nước ấy. Không đáng ngạc nhiên, nhưng hai sự thừa nhận nêu trên cũng là một món quà lớn đối với đảng cộng sản và chính quyền Việt Nam: Nó làm tăng thêm tính chính đáng của đảng cầm quyền.

Dĩ nhiên, trong quan hệ quốc tế, không có món quà nào là trọn vẹn. Chắc chắn chính phủ Mỹ sẽ đặt ra một số điều kiện cụ thể cho hành động “ban phước lành” của họ. Những điều kiện ấy chắc chắn thuộc hai loại:

Một, Việt Nam phải có lập trường rõ ràng và dứt khoát trong việc bảo vệ Trường Sa cũng như Biển Đông trước các hành động xâm lấn của Trung Quốc; và hai, Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và chấp nhận dần dần con đường dân chủ hoá.

Chưa biết Việt Nam sẽ đáp ứng thế nào trước hai loại điều kiện ấy. Chờ xem.

This post has been edited 8 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 6th 2015, 5:48am)


29

Saturday, June 6th 2015, 5:51am

Mỹ muốn thuần hóa con hổ Trung Quốc thành ngựa thồ

Nhàn Đàm (theo Bloomberg)
Đăng Bởi Một Thế Giới - 05:40 25-05-2015

Thế giới đang lo ngại với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, còn với người Mỹ sự trỗi dậy đó lại là một cây táo vàng mà người Mỹ đã chăm bẵm, và đã đến lúc để người Mỹ hái những quả vàng.

Thế giới ở thời điểm hiện tại hầu như ai cũng biết rằng, Trung Quốc đang là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ, khi Bắc Kinh đang nắm trong tay số trái phiếu Mỹ lớn hơn tất cả những quốc gia đang nắm giữ trái phiếu của Mỹ.

Những người bài Mỹ thì coi đó là dấu hiệu của việc siêu cường duy nhất trên thế giới trong hàng chục năm qua đã đến lúc suy yếu trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Nhưng với những người thực tế hơn, thì lại là một trong những dấu hiệu cho thấy chiến lược mà người Mỹ dày công thực hiện với Trung Quốc trong gần 20 năm qua đã đến lúc được thu gặt hoa trái.

Hầu như bất cứ nhà phân tích nào trên thế giới cũng đều biết rằng, cốt lõi trong chiến lược ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc do Mỹ vạch ra là biến quá trình này trở thành một sự trỗi dậy trong hòa bình. Mỹ và các nước phương Tây sẽ không cô lập Trung Quốc, một việc vô ích không đem lại lợi ích gì mà còn đẩy Trung Quốc vào thế chân tường và có thể hiến nước này phản ứng tiêu cực và gây ra những nguy cơ lớn ở khu vực và trên thế giới.


Thay vào đó, Mỹ chấp nhận để Trung Quốc mở cửa và phát triển kinh tế, với lãnh thổ rộng lớn và dân số đứng đầu thế giới Trung Quốc sẽ có thể trở thành một đòn bẩy quý giá cho nền kinh tế thế giới.

Cùng với đó sẽ là việc Mỹ sẽ ngăn chặn những nguy cơ sự trỗi dậy này có thể gây ra những tác động xấu đối với khu vực và thế giới. Nói cách khác, Mỹ sẽ thuần hóa con hổ Trung Quốc trở thành một con ngựa thồ khỏe mạnh kéo cỗ xe kinh tế thế giới, bằng cách bẻ hết nanh vuốt có thể gây ra nguy hiểm của nó. Không còn nanh vuốt, một con hổ cũng có thể trở thành một con ngựa thồ.

Và cho đến thời điểm hiện tại, chiến lược có phần thực dụng này của người Mỹ đã tỏ ra là một chiến lược không tồi. Sau ba thập kỷ mở cửa phát triển kinh tế, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và góp phần không nhỏ vào sự thịnh vượng của kinh tế toàn cầu.

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc đã thực sự trở thành một đòn bẩy quý giá đối với kinh tế thế giới, khi mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thu được những lợi ích không nhỏ từ việc quan hệ kinh tế và thương mại với Trung Quốc.

Những nhà phân tích đều tỏ ra nể vì tầm nhìn và khả năng phân tích của người Mỹ khi biến Trung Quốc trở thành một động lực quan trọng với kinh tế toàn cầu. Nhưng ít người biết được rằng, trong chiến lược khôn ngoan ấy của người Mỹ, thì về lâu dài Mỹ mới là quốc gia được hưởng lợi lớn nhất từ sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc.

Điều này đã sớm được bộc lộ từ năm 2007 khi cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ diễn ra. Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng và bảo hiểm ở Mỹ đã dẫn đến sự đóng băng của thị trường tài chính.

Để cứu vãn tình thế Mỹ đã phải bơm một lượng lớn USD vào hệ thống tài chính, nó đã gây ra một cuộc lạm phát lớn của đồng USD khiến cho mọi quốc gia trên thế giới đang nắm giữ USD đều bỗng dưng bay hơi mất một phần giá trị.

Kẻ hứng chịu hậu quả nặng nhất từ cú ăn cướp vĩ đại ấy của người Mỹ là Trung Quốc. Chỉ sau một đêm, quỹ dự trữ ngoại tệ lên tới hàng ngàn tỷ USD của Trung Quốc bỗng dưng không cánh mà bay một lượng không nhỏ do đồng USD lạm phát. Số của cải mà người Trung Quốc bỗng dưng bị mất đó đã rơi vào tay Mỹ thông qua sự mất giá của đồng USD. Trung Quốc ở thời điểm đó đã gần như trở thành một con mồi để Mỹ hút máu.

Tám năm trôi qua kể từ khi Trung Quốc ngậm bồ hòn làm ngọt trước cú cướp đoạt vĩ đại của người Mỹ, thì Trung Quốc giờ đây đã không chỉ còn là một con mồi để Mỹ hút máu nữa, mà đã thực sự trở thành một cây táo vàng đang sinh ra những quả vàng cho người Mỹ hái. Và điều đó cũng nằm trong tính toán của người Mỹ.

Vấn đề cốt lõi nhất với Trung Quốc ở thời điểm hiện tại là, giai đoạn phát triển kinh tế tiếp theo của nước này sẽ là gì. Hầu hết đều biết đó là việc Trung Quốc sẽ phải tăng cường đầu tư ra các thị trường nước ngoài.

Vậy thì đâu sẽ là điểm đến chính yếu nhất cho dòng vốn đầu tư của người Trung Quốc?

Câu trả lời là Mỹ.

So với mọi thị trường khác trên thế giới, Mỹ là điểm đến được các nhà đầu tư Trung Quốc ưa thích nhất. Sự phóng khoáng của nền kinh tế, sự ổn định được duy trì bởi luật pháp và một xã hội năng động với một thị trường khổng lồ, tất cả những cái đó khiến Mỹ trở thành điểm đến thu hút nhất với các nhà đầu tư Trung Quốc, những người đã quá chán ngán với những hậu quả khôn lường đến từ sự bất ổn chính trị trong nước.

Làn sóng các nhà đầu tư Trung Quốc vào Mỹ đang ngày càng tăng lên, tính từ năm 2000 đến 2014 đã có khoảng 46 tỷ USD được các nhà đầu tư Trung Quốc bỏ vốn vào thị trường Mỹ. FDI của Trung Quốc vào thị trường Mỹ tới năm 2020 có thể đạt tới 200 tỷ USD, dẫn đầu trong số các quốc gia đầu tư vào thị trường Mỹ.

Điều đáng chú ý ở đây là, hầu hết các dự án đầu tư này đều là những dự án trong đó nhà đầu tư Trung Quốc mua lại những cơ sở kinh doanh sẵn có ở Mỹ và phát triển thêm lên. Nó trái với cung cách làm ăn quen thuộc của các doanh nghiệp Trung Quốc ở nước ngoài là chiếm được dự án và đem hàng ngàn công nhân Trung Quốc sang làm việc. Đa phần các dự án của các doanh nhân Trung Quốc đầu tư vào Mỹ là hướng đến sở hữu các cơ sở kinh doanh sinh lời, nhà đầu tư vẫn sẽ giữ nguyên đội ngũ nhân viên bản địa.

Nói một cách khác, các nhà đầu tư Trung Quốc đang tự nguyện bỏ tiền túi của mình ra góp phần duy trì sự vận hành của nền kinh tế Mỹ như một người trong cuộc, chứ không đơn thuần là một nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng dứt áo ra đi bất cứ lúc nào.

Lý giải cho xu hướng này, nguyên nhân chủ đạo được đưa ra đó là các nhà đầu tư Trung Quốc muốn tạo một nơi trú ẩn an toàn cho mình ở Mỹ. Ở Trung Quốc một doanh nhân có thể nhanh chóng phá sản và mất tất cả chỉ cần một biến động chính trị xảy ra, để tránh nguy cơ đó họ sẽ bỏ tiền ra đầu tư ở nước ngoài hoàn toàn không liên quan đến trong nước.

Mục đích lớn nhất của những nhà đầu tư này, là tạo ra một lối thoát nếu như họ phải rời Trung Quốc chứ không phải vì mục tiêu thu lợi nhuận để đem về Trung Quốc như những nhà đầu tư khác. Và những nhà đầu tư kiểu này đang trở thành những quả táo vàng thực sự với người Mỹ, khi dòng vốn của chính người Trung Quốc đang rời khỏi nước này để đổ vào thị trường Mỹ để giúp vận hành nền kinh tế Mỹ đang ngày càng nhiều.

Khi mà số lượng triệu phú và người giàu Trung Quốc đang tìm cách rời khỏi nước này ngày càng tăng, thì nó cũng đồng nghĩa với việc tiền đổ vào Mỹ ngày càng nhiều. Có vẻ như đã đến lúc, người Mỹ có thể bắt đầu hái những trái táo vàng mà họ đã mất công chăm bẵm bấy lâu nay, những trái táo vàng mang tên Trung Quốc.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 7th 2015, 4:48am)


30

Saturday, June 6th 2015, 7:19am

Nhận Xét:

Nói chung, bài viết nầy có những nhận xét rất tinh tế. Tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều giả thuyết không có chứng cớ rõ ràng.
Trước hết Mỹ không hề coi sự trỗi dậy mạnh mẽ của TC là cây táo vàng do mình chăm bẳm đã đến lúc hái trái. Nói như vậy có phần hơi võ đóan và không hiểu tính thực dụng của người Mỹ. Người Mỹ có thể sẳn sàng tốn nhiều công sức và tiền của để đầu tư cho những kế họach lâu dài hữu ích. Nhưng người Mỹ sẽ không bao giờ bỏ ra cho dù là một xu cho những toan tính viễn vong, mặc dù họ rất táo bạo và sẳn sàng chấp nhận rũi ro. Họ sẽ không " quăng tiền qua cửa sổ " để vổ béo TC hầu sau nầy làm đầu tàu cứu nguy thế giới. Quyền lợi của nước Mỹ là trước hết và trên hết, chứ không phải phần còn lại của thế giới. Họ có thể làm từ thiện bằng cách viện trợ, nhưng họ không có điên và họ rất khôn. Họ vẫn bảo rằng:

" Thằng ngốc và tiền của nó sẽ sớm chia tay, cho mà coi ! " ( The fool and his money soon will part )


Nước Mỹ chỉ đơn thuần lợi dụng TC cho lợi ích kinh tế của họ mà thôi ( nhân công rẽ mạt, thị trường to lớn, luật pháp lõng lẻo, sẳn sàng chịu mọi ô nhiễm môi sinh để kiếm tiền ... ). Đó là về hạ tầng cơ sở, về vật chất hữu thể. Còn về thượng tầng kiến trúc thì thể chế hủ bại lạc hậu, quan chức lãnh đạo thì thiển cận, dốt nát, bè phái và tham nhũng dễ bị sai khiến bởi tiền của. Bọn tham quan ấy không quan tâm và không hề hiểu biết những thủ thuật tài chính và những quy luật vận hành kinh tế.


Thế cho nên TC cứ tưởng là mình đang khôn ngoan che dấu mưu đồ ( thao quang dưỡng hối ) lợi dụng Mỹ để một ngày không xa sẽ trỗi dậy ( khiến con mèo trắng nầy bắt chuột cho mình ). Thế cho nên họ thắt lưng buộc bụng dân chúng ( kềm chế mức tiêu thụ nội địa, giử đồng Yuan ở tỉ hối thấp ), xuất cảng chớ không nhập cảng hàng tiêu dùng. Họ gom góp tiết kiệm của dân chúng ( thu tóm ngọai tệ do cán cân thương mãi thặng dư ) để kiếm lời nhanh và an tòan theo kiểu " tiền đẽ ra tiền " thay vì chỉ dự trữ ngọai tệ theo nhu cầu của quốc gia. Thế là họ đem số tiền của dân chúng nhịn ăn nhịn mặc đó ra mà cho Mỹ vay lại với hình thức mua và dự trữ công khố phiếu của Mỹ.

Hậu quả là khi Mỹ không cải thiện được cán cân thương mãi bất lợi cho họ vì chánh sách kinh tế đó của TC, thì Mỹ phá giá đồng Đô La của họ vì kinh tế suy trầm.
Thế là tiền đô dư trữ của TC bị bốc hơi.
Đây không phải là lần đầu Mỷ phá giá đồng Đô, mà TC cũng không phải là nạn nhân đầu tiên.
Mà có hề gi đâu, trước sau gì tiền bạc ( công lao mồ hôi nước mắt ) của dân chúng cũng bị đổ sông đổ biển hay chạy vào túi của quan tham từ những dự án và công trình vô bổ mà còn bị rút ruột. Hoặc là được nhà nước TC dùng để tài trợ cho chiến tranh qua ngân sách quốc phòng.

Ở đây ta cũng cần nên phân biệt hai luồng đầu tư:


- Một là từ nhà nước TC với mục tiêu tối hậu là mang tiền lợi nhuận về lại TC và sẵn sàng dứt áo ra đi bất cứ lúc nào.
- Hại là từ các quan tham và một ít tư nhân cũng có quan hệ với quan tham muốn tạo một nơi trú ẩn an toàn cho mình ở Mỹ.
Bề nào thì cũng có lợi cho nền kinh tế của nước Mỹ và đó là hậu quả đương nhiên của một mội trường sống có nhiều ưu điểm cho sư phát triển của đất nước và con người.
Chúng ta phải nhìn nhận sự thực nầy chớ đừng huyền thọai hóa những âm mưu của Mỹ. :) :) :)

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 8th 2015, 6:32am)


31

Monday, June 8th 2015, 6:03am

ĐÁNH THỨC RỒNG
Nguyễn Văn Nhã

Năm 1943, trong lúc Thế chiến II đang tới hồi ác liệt, Chính phủ Anh, Mỹ đề nghị họp Thượng đỉnh với Liên Xô ở Teheran. Trên đường tới Teheran, Thủ tướng Winston Churchill của nước Anh đã ghé lại Cairo, mục đích gặp Tổng thống Mỹ F. D. Roosevelt để hội đàm một chính sách chung Anh-Mỹ trước khi gặp Stalin.
Khi tới Cairo, Churchill ngạc nhiên thấy Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã tới đó trước vài ngày, và đang hội đàm riêng với Roosevelt. Bị va chạm tự ái vì không được mời họp, Churchill đã nói với Roosevelt :

Trung Quốc là cái gì mà Tổng thống gặp ? Chẳng qua họ chỉ là 500 triệu cái đuôi sam

Churchill đã quên, và Roosevelt có thể cũng đã quên câu nói bất hủ của Napoléon :

Trung Quốc là một con rồng đang ngủ, đừng đánh thức nó dậy, nó sẽ làm chao đảo cả thế giới”.

Chính sách của chính phủ Roosevelt ngay từ Thế chiến II đã coi rất trọng Trung Quốc : Đó là một cường quốc tương lai của thế giới. Cho nên khi thành lập Liên Hiệp Quốc, Roosevelt đã phản đối ý kiến của Churchill, nhất định dành một ghế cho Trung Quốc ở trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (Gồm có 5 cường quốc: Mỹ, Nga, Anh, Trung Quốc và Pháp). Hơn thế nữa, ông còn cử Đại tướng Joseph Stilwell qua chỉ huy mặt trận Ấn Độ – Miến Điện – Trung Quốc để chống lại xâm lược Nhật Bản


Sáng kiến Kissinger

Hai mươi năm sau chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, một nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ, Henry Kissinger, đã đề nghị với Tổng thống Richard Nixon (Đảng Cộng hòa) một chương trình hòa hoãn với Trung Quốc, để giúp giữ thể diện cho việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Đó là năm 1971.

Tình hình nước Mỹ lúc đó có nhiều khó khăn : chiến tranh Việt Nam đã bị các phong trào quần chúng ở Mỹ và khắp thế giới phản đối, uy tín của Mỹ xuống rất thấp. Kinh tế Mỹ bị chao đảo, thứ nhất vì chiến tranh Việt Nam làm cho ngân sách bị thâm thủng nặng nề; thứ hai vì các quốc gia bại trận trước kia (Đức và Nhật Bản) đã hồi phục, và cạnh tranh kinh tế ác liệt với Mỹ.
Từ Hội nghị Bretton Woods (1944), nước Mỹ đã quay trở lại kim bản vị, và hứa hẹn với cả thế giới là đồng USD có thể đổi qua vàng vào bất cứ thời điểm nào, theo tỉ giá 1 ounce vàng = 35 USD. Nhưng tới năm 1971, các nước khác đã nắm giữ một số lượng USD rất lớn, họ đòi đổi ra vàng, ngân khố Mỹ bị đe dọa nặng nề : Số vàng trữ kim giảm mạnh.
Trước tình hình này, chính phủ Nixon đã phải hủy bỏ kim bản vị của đồng USD, và tuyên bố giá vàng sẽ nổi lên theo cung cầu của thị trường. Nhiều người đã coi động thái này là một vụ xù nợ, hay là phá sản của nước Mỹ, vì đã không giữ được lời cam kết trước kia.
Ngoài ra, sâu xa hơn, là sức sản xuất của Tây Âu và Nhật Bản ngày càng cạnh tranh với hàng hóa Mỹ, nhờ họ có nhân công giá rẻ, nhất là Nhật Bản. Các mặt hàng công nghệ chế biến của Mỹ, điện tử, quang học, xe hơi… dần dần bị hàng của Nhật và Tây Âu lấn át.
Trước tình hình như vậy, Kissinger đưa ra kế hoạch hòa hoãn và hợp tác với Trung Quốc. Mục tiêu của Mỹ : sử dụng nguồn nhân lực giá rẻ của Trung Quốc để cạnh tranh với các quốc gia khác. Mục tiêu của Trung Quốc: để giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm triệu con người.

Tại thời điểm 1971, Mao Trạch Đông đã nắm toàn quyền kiểm soát đời sống chính trị của Trung Quốc, và đã rút ra bài học đau đớn về kinh tế trong chính sách Đại nhảy vọt (1958-60). Thời kỳ Đại nhảy vọt đã gây ra nạn chết đói của khoảng hơn 40 triệu người, mà không đưa nền kinh tế đi lên.
Cách mạng văn hóa đã giúp Mao hạ bệ tất cả các đối thủ chính trị tiềm năng : Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Đào Chú, Đặng Tiểu Bình… Nhờ thế, Mao đã thuận theo lời đề nghị của Chu Ân Lai, đàm phán với Mỹ, và đưa Đặng Tiểu Bình về tham gia chính quyền để đẩy mạnh công cuộc canh tân đất nước.
Nhưng kế hoạch của Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đã bị Nhóm 4 tên ngăn trở. Phải chờ tới khi Mao mất, Hoa Quốc Phong hợp tác cùng các lão tướng, bắt giam bè lũ 4 tên, tạo điều kiện cho Đặng Tiểu Bình đẩy mạnh sự canh tân đất nước (1976).

Bước Đại nhảy vọt kinh tế thị trường

Con rồng Trung Quốc đã trỗi dậy, và ba mươi năm sau, đã trở thành một đại cường kinh tế.
Trong suốt thời gian này, các chính phủ Mỹ, từ Nixon tới Clinton, đều không nghĩ là một ngày nào đó, Trung Quốc có thể ngang vai cùng Mỹ. Trong những năm 1980, Chính phủ Reagan đã chú tâm nhiều tới kinh tế Nhật Bản và cố gắng ngăn chặn sự vươn lên của nước này. Hội nghị Plaza ở New York (1985) đã ép buộc Nhật Bản phải cho nổi giá đồng yên trên thị trường tiền tệ. Kể từ đó, tăng trưởng của Nhật Bản hầu như ngưng lại, tạo ra những “thập kỷ bị đánh mất” – và Reagan không để ý tới Trung Quốc.

Bảy năm sau, vào năm 1992, Chu Dung Cơ được Đặng Tiểu Bình chọn lựa, lên làm Phó Thủ tướng Trung Quốc, chuyên lo về kinh tế, đã đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 1994, xuất khẩu Trung Quốc đạt 5.3 tỉ USD, và dự trữ ngoại hối 51 tỉ USD 5.

Kể từ đó, các chính sách kinh tế vĩ mô ở Trung Quốc đã đi theo lý thuyết của J. M. Keynes, một nhà kinh tế Anh, người đã cố vấn cho chính phủ Roosevelt giải quyết nạn khủng hoảng kinh tế trong thập niên 1930. Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều cải tổ kinh tế quan trọng : tăng giá nông sản, cho tư nhân kinh doanh, mở cửa thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thẩm Quyến, hạn chế tình trạng độc quyền của các công ty quốc doanh, cải tổ cơ cấu ngân hàng, ngân hàng xuất tiền cho các công ty tư nhân vay mượn, và kêu gọi công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc..

Sự nổi lên của nền kinh tế Trung Quốc trong suốt hai thập kỷ 1990 và 2000 rất mạnh mẽ. Tăng trưởng trung bình 9%-10% một năm. Cho tới năm 2008, khi nước Mỹ bị rúng động vì cuộc khủng hoảng tài chính họ mới chợt nhận ra rằng, kinh tế Trung Quốc không những không suy thoái, mà vẫn tiếp tục tăng trưởng ở mức 9%/năm.

Ngày nay hàng hóa của Mỹ lại bị hàng Trung Quốc cạnh tranh. So với Nhật Bản trước kia (1970-80) quy mô cạnh tranh lớn gấp bội. Cán cân mậu dịch của Mỹ luôn luôn thâm hụt với Trung Quốc. Các công ty sản xuất ô tô của Mỹ (GM, Chrysler) đã phải đóng cửa. Do đó, tiền nợ của Mỹ ngày một tăng. Nói chung, trước kia Kissinger tưởng tư bản Mỹ có thể sử dụng nhân công giá rẻ của Trung Quốc để cạnh tranh với hàng hóa Nhật Bản và Tây Âu. Không ngờ, 40 năm sau, Trung Quốc đã gom được một quỹ dự trữ rất lớn, chủ yếu bằng USD, cùng lúc họ lại thu nhập được các loại công nghệ của Mỹ, cùng với một số lượng lao động khổng lồ 700-800 triệu người. Nhờ đó họ đã tự mình sản xuất hàng hóa bán qua Mỹ. Nước Mỹ không những phải đối phó với sự cạnh tranh của Nhật Bản, Tây Âu, mà còn cả với Trung Quốc. Sức mạnh kinh tế của Mỹ yếu hẳn đi, và vị trí bá quyền của Mỹ trên thế giới bị đe dọa trầm trọng.

( Còn tiếp )

This post has been edited 8 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 9th 2015, 5:07am)


32

Tuesday, June 9th 2015, 5:55am

Nhận định:

Tên gọi đôi khi gây ra ngộ nhận. Điển hình là " rồng " trong huyền thọai đông phương hòan tòan khác với " rồng " trong huyền thọai tây phương, cả về hình dạng và quyền năng.
Trong huyền thọai và tâm cảnh đông phương, rồng đứng đầu tứ linh ( Long, Lân, Qui, Phụng ). Rồng là biểu tượng của nghi vệ thiên tử. Rồng là " tướng tinh " của những bậc anh hùng cái thế, nhân phẩm và cốt cách cao qúi phi thường. Rồng xuất hiện thì mang điềm lành, thái bình thịnh trị, đến bá tánh muôn dân.
Còn trong huyền thọai tây phương, rồng có hình dáng của một con vật tiền sử với đôi cánh như lòai dơi và một cái đuôi dài, bén nhọn, đầy gai. Nó là lòai quái vật có thể phun lửa đốt trụi mọi vật chung quanh. Nó là biểu tượng của qủi dữ đến từ địa ngục, thường ngủ vùi trong những hang động tối tăm. Khi tỉnh thức nó sẽ là một đại họa cho con người, cho nên nó cần phải bị giết chết hoặc khuất phục.

Và đó là ẩn ý đàng sau câu nói của danh tướng Napoléon. Đó là một lời cảnh báo nghiêm trọng cho thế giới tây phương. Chứ đó không phải ngầm ý thán phục hay ca tụng một đế quốc phương đông vĩ đại theo cách nghĩ của người Trung Hoa.

Lời của Churchill đã nói với Roosevelt biểu lộ sự miệt thị " đám đông " người Hoa như một thực dân ở đặc khu Hongkong. Cũng giống như thực dân Pháp vẫn từng miệt thị người VN. Và đó là một cái nhìn thiển cận.

Người Mỹ thì thực dụng hơn, họ cần một đồng minh ở châu Á để chống lại Nhật nên Roosevelt đã mật đàm trước với Tưởng Giới Thạch.

Hai mươi năm sau chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, năm 1971, Henry Kissinger vẫn còn muốn lợi dụng TC để giải quyết những vấn đề đối nội và đối ngọai của nước Mỹ. Richard Nixon lại mật đàm với Mao Trạch Đông.

Chính sách Đại Nhảy Vọt (1958-60) không hề là một bài học đau đớn về kinh tế của Mao Trạch Đông. Vị hòang đế đỏ nầy lúc đó có 2 vấn nạn lớn cần phải giải quyết:

- Một là vấn đề kinh tế luôn luôn cấp bách về lương thực của TC.
- Hai là vấn đề chính trị là đối thủ tiềm năng : Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Đào Chú, Đặng Tiểu Bình…đang chờ đợi cơ hội sơ hở để hạ bệ ông ta.
Do đó về kinh tế ông ta phải chủ trương một kế họach gì đó, cho dù chỉ có tính cách khoa trương để mua thời gian. Hậu quả là có 40 triệu người chết đói ( trước sau gì và đằng nào thì họ cũng chết đói mà thôi ) và đó chính là giải pháp kinh tế duy nhất mà ông ta ( hay bất kỳ một lãnh đạo nào khác ) có thể làm .
Về chính trị thì Cách Mạng Văn Hóa đã giúp Mao hạ bệ tất cả các đối thủ của mình.
Tuy nhiên muốn giải quyết rốt ráo những vấn nạn như bom hẹn giờ đó TC phải bắt tay với Mỹ để canh tân.
Sự canh tân nầy không thể đến nhanh vì còn rất nhiều lực cản mà Mao Trạch Đông không thể giải quyết ngay khi còn sống. Phải đợi đến sau khi ông ta chết thì cuộc tranh dành quyền lực và đấu đá nội bộ mới bắt đầu nổ ra.
Và lịch sử chỉ có một chiều hướng duy nhất là đi tới và bất khả phản hồi.
Kết cục lực cản ( phản động ? ) đã bị bẻ gẩy, Tứ Nhân Bang đã bị thanh trừng !

Bài học lịch sử nầy đắt giá lắm đấy !!!

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 9th 2015, 7:13am)


33

Wednesday, June 10th 2015, 3:41am

Nếu nói Reagan không để ý tới Trung Quốc mà chỉ lo chú tâm tới kinh tế Nhật Bản thì có phần đúng.
Nhưng nếu nói các chính phủ Mỹ, từ Nixon tới Clinton, đều không nghĩ là một ngày nào đó Trung Quốc có thể ngang vai cùng Mỹ là có phần ngộ nhận, bởi vì cho tới bây giờ TC vẫn chưa phải là đối thủ của Mỹ cả về kinh tế lẫn quốc phòng.
Còn về vịêc Mỹ có áp lực Nhật thả nổi tỉ giá của đồng Yen thì cũng giống như Mỹ đã nhiều lần áp lực TC thả nổi tỉ giá của đồng Yuan. Nếu như một nước cứ khư khư qui định tỉ hối của đồng tiền mình dưới giá trị thật của nó trên thị trường tiền tệ thì đó là một thủ thuật lường lận trong trao đồi mậu dịch ( đồng tiền rẽ nên hàng sẽ được mua nhiều hơn ). Mỹ chỉ muốn điều chỉnh cán cân thương mãi giửa hai nước cho công bằng hơn.

Đúng là từ khi TC " mở cừa " và " đổi mới " thi kinh tế của TC có chiều hướng đi lên.
Thế nhưng hảy khoan ca tụng nhà cầm quyền TC vì có những điều họ làm đúng và có lợi ích trong ngắn hạn. Nhưng quyết sách của họ có quá nhiều bất cập sẽ gây ra hậu quả tai hại trong dài hạn. Điển hình như khu vực quốc doanh và kinh doanh bè phái có quá nhiều đầu tư và dự án thất bại thua lổ. Khu vực ngân hàng có cả núi nợ xấu nhưng vẫn phải tài trợ cho những công trình do chính quyền quy họach hay đở đầu. Chính sách kinh tế dựa trên xuất cảng. Rất nhiều công trình địa ốc không thể triển khai tiếp tục, hoặc bị bỏ hoang ... Thử hỏi TC lấy tiền ở đâu mãi mà đổ sông đổ biển ?

Rồi còn đại nạn ô nhiễm môi sinh mà có dư luận ước tính rằng:
Dù cho TC có tiêu hết tất cả những số tiền dành dụm được, do thời kỳ kinh tế phát triển vừa qua mang lại, cũng không thể " làm sạch " được nước Tàu như xưa.
Bài học nầy VN ta nên lấy đó làm gương !

" Ngày nay hàng hóa của Mỹ lại bị hàng Trung Quốc cạnh tranh " ? " So với Nhật Bản trước kia (1970-80) quy mô cạnh tranh lớn gấp bội " ?
Nhìn kỷ lại thì chẳng có sự cạnh tranh nào cả. Thật ra là Mỹ đã thôi không còn sản xuất nhiều lọai hàng hóa tiêu dùng trong nội địa, mà họ đã giao việc ấy cho TC gia công, rồi gắn nhản mác của Mỹ để đi bán và thu lấy phần lợi nhuận gấp bội. Ai lập ra hảng Apple ? Ai chế ra iphone ? Ai sản xuất ra linh kiện và lấp ráp nó ? Cuối cùng thì ai đem bán nó để kiếm lời ? Lợi nhuận thu được vào tay ai ?
Người Tàu cũng tự mình chế ra nhiều hiệu smartphone lắm, nhưng có hiệu nào đã dành được ngôi bá chủ của iphone chưa ? Mà cho dầu TC có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm giá rẻ nhưng không có ai mua ( vì kém phẩm chất và độc hại ) thì làm sao xuất cảng ?
Đó là đầu ra, còn nếu đầu vào cũng bị ngưng trệ ( vì hảng xưởng và nguồn đầu tư ngọai quốc bị dời qua nước khác ) thì kinh tế TC sẽ ra sao ?

Vâng, nước Mỹ quả là đã có những năm kinh tế suy trầm, nhưng nước Mỹ luôn luôn vượt qua được vì nền kinh tế của Mỹ luôn năng động nên có khả năng tự điều chỉnh để đi lên. Điều gì đã giúp cho nền kinh tế nầy năng động ?

Đó chính là thị trường " tự do ", có nghĩa là không bị lệ thuộc vào những họach định, vào những kế họach kinh tế ngắn hạn hay dài hạn của chính phủ. Dĩ nhiên những quyết sách sách kinh tế và tài chánh của chánh phủ sẽ có ảnh hưởng lên khu vực tư, nhưng chính phủ sẽ không tìm cách điều khiển nền kinh tế theo một xu hướng chính trị nào cả. Tất cả là do từng cá thể kinh tế và tư nhân quyết định lấy. Và đó chính là " dân chủ ".

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 10th 2015, 5:46am)


34

Wednesday, June 10th 2015, 5:50am

ĐÁNH THỨC RỒNG
Nguyễn Văn Nhã
( Tiếp theo )


Từ đó, các nhà bình luận kinh tế, chính trị đổ dồn con mắt về Trung Quốc. Tuy GDP đầu người còn thấp (khoảng 8.000 USD vào năm 2011, nếu tính theo mãi lực tương đương) nhưng vì dân số Trung Quốc lớn gấp gần 4 lần của Mỹ, cho nên GDP toàn quốc của Trung Quốc tiến tới gần ngang với Mỹ. Tình hình này đã làm nhiều học giả Mỹ lo ngại là sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ nổi lên tương xứng với sức mạnh kinh tế.

Ví dụ, ngân sách quốc phòng của Mỹ vào năm 2012 là 550 tỉ USD. Của Trung Quốc chỉ có 650 tỉ nhân dân tệ, xấp xỉ 106 tỉ USD. Nhưng vì chi phí quân đội, và giá cả vũ khí sản xuất ở Trung Quốc rất rẻ, cho nên ngân sách quốc phòng Trung Quốc có thể được coi ngang với Mỹ.

Người Mỹ vẫn muốn hợp tác với Trung Quốc, để có hàng giá rẻ, và tiền vay lãi suất thấp; nhưng cùng lúc họ lo sợ sức mạnh của Trung Quốc sẽ thay thế sức mạnh quân sự của Mỹ, để tạo những vùng ảnh hưởng, ví dụ tại châu Á. Nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi đã được tổ chức ở Mỹ trong những năm qua, để tìm hiểu xem Trung Quốc liệu có khả năng trở thành siêu cường thế giới hay chỉ là đại cường khu vực.

Người Mỹ lo lắng là Trung Quốc, với một nền văn hóa khác biệt, một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, có thể đe dọa tới bá quyền của Mỹ tại châu Á. Nhất là với một tư duy triết lý về chính trị còn đơn giản, họ có thể gây ra chiến tranh với các nước lân bang vì các vụ tranh chấp lãnh thổ hay lãnh hải. Hầu hết các quốc gia lân bang của Trung Quốc đều sợ hãi Trung Quốc, không những vì sức mạnh quân sự mà còn vì tính không minh bạch trong chi phí quốc phòng cũng như trong chiều hướng chiến lược.

Trong một cuốn sách xuất bản năm 2012, Wang Jisi, một chuyên gia người Trung Quốc về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đã cho biết :

Giới lãnh đạo Trung Quốc đã không còn coi Mỹ là một quốc gia đáng sợ, hay đáng tin nữa. Những tấm gương Mỹ đưa ra cho thế giới, cũng như những lời Mỹ cảnh báo Trung Quốc do đó mất giá trị ”.

Ngược lại Trung Quốc rất tự tin về sự tiến bộ kinh tế và quân sự của họ, nhất là họ đã lấp đầy hố cách biệt (GDP) giữa hai quốc gia, kể từ khi bắt đầu chiến tranh Iraq (2003). Lúc đó, GDP của Mỹ lớn gấp 8 lần Trung Quốc. Nhưng ngày nay, chưa tới 3 lần”.

Đây là một thái độ của những phú ông nông dân.
Khi tài sản sung túc, nghĩ ngay là mình có thể đứng đầu thiên hạ. Họ quên một điều, muốn thiên hạ quy phục, sức mạnh kinh tế, quân sự không đủ, mà phải có quyền lực mềm, một thể chế, một triết lý xã hội mà ai cũng có thể chấp nhận được.

Khi Trung Quốc đưa Khổng Giáo ra như một quyền lực mềm để thu hút thiên hạ, họ đã quên đi có một thời, từ đầu thế kỷ 20, Khổng giáo đã bị giới sĩ phu Trung Quốc coi là nguồn gốc của tình trạng chậm tiến của đất nước. Họ quên mất trong khoảng thời gian 2000 năm qua, tư duy nhân loại đã phát triển ghê gớm trong chiều hướng duy lý. Quay trở lại với những quan niệm cổ truyền, dù rất đẹp đẽ, có thể làm tăng thêm tinh thần dân tộc của người Trung Quốc, nhưng không lãnh đạo được những quốc gia nào khác.

Nhưng chính cái trình độ duy lý của những người Trung Quốc bảo thủ này là mối nguy cho nhân loại.
Có thể Kissinger bào chữa là khi kinh tế khá lên, người Trung Quốc sẽ có cái nhìn thế giới một cách hợp lý hơn. Nhưng không có gì cấm cản một Hitler có máu phục thù chủng tộc, dù kinh tế Đức lúc đó khấm khá hơn những cường quốc châu Âu khác, vẫn có thể gây ra chiến tranh. Còn chưa nói tới, mối thù của Trung Quốc đối với Nhật Bản vẫn chưa được hóa giải, và tinh thần khinh thị đối với các nước lân bang nhỏ yếu không được xóa bỏ. Lòng tự tôn và tự ái dân tộc có nguồn gốc sâu xa từ hàng trăm năm bị chèn ép, không dễ gì trong một thời gian ngắn có thể chuyển qua sự bao dung, thông cảm.

Sự thành công kinh tế Trung Quốc trong cơn khủng hoảng 2008 đã làm rúng động các nhà “thông thái Mỹ”.
Lý do vì trước đó, nhiều người đã tiên đoán là kinh tế Trung Quốc sẽ suy sụp.
Nào là vì Nhà nước đưa ra gói kích cầu quá lớn, mà chỉ tập trung vào hạ tầng cơ sở, như vậy Trung Quốc không nâng được mức cầu hàng tiêu dùng; nào là chính sách cho các ngân hàng vay ào ạt (hơn 1.500 tỉ USD) trong năm 2009, sẽ làm bùng lên bong bóng bất động sản, nhưng cuối cùng cho tới 2012, chưa thấy bong bóng nổ.
Nào là chính sách Nhà nước vơ vào tay mọi thặng dư giá trị của xã hội: lương nhân công rẻ, người dân không được hưởng các nguồn lợi nhuận khi giá đất tăng cao, Nhà nước không lo việc mở mang mạng lưới an sinh xã hội, tất cả những chuyện này làm người tiêu dùng Trung Quốc không dám tiêu xài, và họ giữ chặt số tiền tiết kiệm.
Ngoài ra, các xí nghiệp quốc doanh đầu tư thái quá, nào các kho dự trữ thép, đồng, xi măng tăng vọt ….

Tất cả những động tác này báo hiệu bong bóng sẽ nổ lớn.
Nhưng cuối cùng, bong bóng vẫn chưa nổ, và số xuất khẩu vào năm 2012 của Trung Quốc vẫn vượt mức 1.200 tỉ USD, và quỹ dự trữ, nằm trên 3.200 tỉ USD, tăng mỗi năm hơn 400 tỉ USD.

Trong một cuốn sách mới xuất bản đầu năm 2012, học giả Nicholas R.Lardy cho biết chính phủ Trung Quốc đã cho thi hành các biện pháp để sửa chữa hầu hết sự bất cân đối trong các chính sách kể trên :
Tăng lương lao động, tăng giá đền bù đất đai, ngân hàng xuất tiền cho tư nhân vay để kinh doanh, giới hạn hoạt động đầu cơ bất động sản, thúc đẩy mạng lưới an sinh xã hội, khuyến khích người tiêu dùng, và thúc đẩy khu vực dịch vụ.

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 17th 2015, 5:28am)


35

Thursday, June 11th 2015, 7:47am

Nhận định:

Trước hết là thực chất của chỉ số GDP tính theo đầu người mà các nước như TC hay VN hay đem ra khoe mẽ như là một bằng chứng hùng hồn của một nền kinh tế đang phát triển và phồn thịnh.

Theo Wikipedia Tiếng Việt:

Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).

Có nhiều cách tính GDP, chẳng hạn:
Theo phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí, tổng sản phẩm quốc nội bằng tổng thu nhập từ các yếu tố tiền lương (wage), tiền lãi (interest), lợi nhuận (profit) và tiền thuê (rent); đó cũng chính là tổng chi phí sản xuất các sản phẩm cuối cùng của xã hội.

GDP=W+R+i+Pr+Ti+De

Trong đó
  • W là tiền lương
  • R là tiền thuê
  • i là tiền lãi
  • Pr là lợi nhuận
  • Ti là thuế gián thu ròng
  • De là phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định
Và từ đó ta có:GDP tính theo đầu người

GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất định là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó.

Nói một cách bình dân dễ hiểu của NP thì:

GDP là tổng số của cải hay lợi tức ( nếu quy thành tiền ) mà một nước có được ( làm ra được ) trong một năm.

Như vậy GDP tính theo đầu người là đem tổng số của cải hay lợi tức đó ( nếu quy thành tiền ) ra chia đều cho mỗi người dân trong nước là sẽ được bao nhiêu, tức là lợi tức đồng đều của một người dân xứ đó trong một năm.

Hảy bỏ qua tính xác thực của con số GDP của TC hay VN, mà chỉ nói về chỉ số GDP tính theo đầu người.

Đây là một con số được tính từ một khái niệm hòan tòan giả tạo. Vì sao ?
Vì trên thực tế chưa từng có một chính phủ nào, kể cả chính phủ của các nước Cộng Sản, thực sự làm điều nầy ( đem tiền của mà quốc gia có được trong một năm ra chia đều cho từng người dân ). Bởi vậy mới có cảnh " kẻ ăn không hết, người lần không ra ". Bởi vậy mới có Cách Mạng Vô Sản, bởi vậy mới có chủ trương " làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu ".
Thế nhưng giấc mơ ấy cho đến ngày nay lòai người vẫn chưa đạt được, mà " không biết đến hết thế kỷ nầy có đạt được hay không ? " ( trích lời của TBT Nguyễn Phú Trọng ).

Tư Bản Chủ Nghĩa thì trái lại đặt vấn đề " tái phân phối lợi tức ", nghĩa là qua những chính sách như Thuế Lợi Tức, An Sinh Xã Hội làm sao để mọi thành phần, mọi người dân trong xã hội đều được hưởng những lợi ích tối thiểu như nhau, ít ra là sẽ không có ai phải chết đói. Đó chính là " lấy bớt của người giàu đem ra phân phát lại cho người nghèo ", đó !!!

Nước nào đã thực hiện được điều đó ? xin thưa đó là " các nước tư bản đang dẫy hòai mà không chết " như Mỹ, Canada, Úc, Anh, Pháp ... mà các " khúc ruột ( thừa ) ngàn dặm " đang được hưởng.

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 11th 2015, 6:24pm)


36

Friday, June 12th 2015, 7:34am

Cũng xin nói thêm:
Bằng một cách tính nào đó, GDP của TC có thể được chấp nhận ngang ngữa với GDP của MỸ nhưng không phải vì đó mà ta cho rằng TC có một sức mạnh kinh tế như MỸ. Để rồi từ đó suy ra sức mạnh quốc phòng của TC cũng bằng hay có thể đối chọi với Mỹ.
Xin đừng hiểu lầm là NP đánh giá sức mạnh tổng thể của TC là con số không. Vâng TC có một vị thế và một sức mạnh đáng để cho VN ta phải nể nang và dè chừng. Nhưng để làm một đối thủ của MỸ thì còn hơi "bị ' lâu mới đạt được. Chứ chưa nói đến việc TC sẽ đánh bại MỸ.Muốn cân nhắc việc nầy thì ta hảy bắt đầu với một công thức rất sơ đẳng trong kế toán mà ai cũng biết:

Tài sãn = Tích sãn ( mang dấu dương ) + Tiêu sản (mang dấu âm )

Nếu một người có $10 ( tích sãn ) mà nợ người khác $10 ( tiêu sãn ) thì coi như tài sãn của người ấy là $0. Mà nếu người ấy nợ người khác $15 thí coi như tài sãn của người ấy là con số âm: - $5.

Vậy thì GDP là tích sãn của TC có được trong một năm, thế còn nợ ( vốn + lãi ) của TC ( phải vay của nước ngoài ) là bao nhiêu ? Thế còn nợ xấu ( món nợ của các công ty quốc doanh thua lỗ không đòi được ) của hệ thống ngân hàng nhà nước TC là bao nhiêu ? Nghe nói là khoảng 28 ngàn tỉ Đô La. Kinh khũng nhĩ ? thật là một mớ bòng bong mà có khi nhà nước TC còn chưa " nắm " được.

Còn nếu nói về sức mạnh quốc phòng thì không chỉ đơn thuần nói về ngân sách chi tiêu dành cho quốc phòng, mà phải nói về kho vũ khí mà một nước đang có bao gồm Hải, Lục, Không quân. Mà nói đến vũ khí là nói đến khoa học kỷ thuật để chế tạo vũ khí ( tính ưu việt ) chứ không phải là chỉ nói về số lượng ( vì giá thành rẽ ). TC đã có những loại vũ khí nào có thể khống chế hay " qua mặt " vũ khí của Mỹ chưa ? xin thưa là chưa, nếu không muốn nói là còn lâu mới bắt kịp vũ khí của Mỹ.

Như vậy thì kho vũ khí và quân số của TC chỉ hữu dụng để gây ra bất ổn toàn vùng Đông Nam Á ( hoặc để lấn chiếm biển đảo hay xâm lăng VN ).

Vâng, TC chưa suy sụp và sẽ không suy sụp, chừng nào mà TC chưa phát động chiến tranh, mà chỉ chơi cái trò láu cá là cướp cạn những biển đảo của các nước láng giềng. Thật ra khởi động một cuộc chiến thì cũng giống như một người đi buôn, phải tính toán lời lỗ: Được gì ? Mất gi ?. Nếu như tiêu hao một số vũ khí và nhân mạng mà cái chiếm được chả bù với phí tổn cho cuộc chiến thì đánh để làm gi ? Kho vũ khí vơi đi thì khó bù dắp lại được, nhưng mạng người thì rẽ mạt ( có khi cần phải cho chết bớt ) trong một nước nhân mãn như TC.

Vâng, vì thù hận, vì mặc cảm và vì tự ái dân tộc người dân TC đang đồng lòng với nhà cầm quyền. Thật là tội nghiệp, họ có biết đâu rằng không phải là họ hy sinh cho tổ quốc ( quyết tử cho tổ quốc quyết sinh ). Mà là nhà cầm quyền TC sẽ sẳng sàng hy sinh họ, nói trắng ra là " xài phí " họ như những món đồ rẽ mạt có thể vất vào lò lửa chiến tranh bất cứ lúc nào họ thích.

Còn thanh niên VN thì sao ?
Phần lớn thì mong là Mỹ sẽ giải quyết vấn đề biển đông cho VN, nghĩa là đánh cho TC một vố.
Đừng ảo tưởng các bạn trẻ ơi !
Mỹ nó không ngu như vậy đâu và TC cũng chẳng dám đối đầu với Mỹ đâu.
Nếu mai kia TC nổi giận mà xâm lăng VN thì các bạn sẽ chạy đi đâu ?
Cùng lắm Mỹ chỉ bán cho VN vũ khí sát thương để ta đưa đầu ra chịu trận, chứ họ sẽ không đổ máu cho chúng ta đâu !!!

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 12th 2015, 8:36am)


37

Saturday, June 13th 2015, 8:00am

Cả thế giới đang lo ngại vì tình trạng căng thẳng tại biển đông bởi vì không ai muốn thấy chiến chiến tranh bùng nổ.
Nhưng một khi tham vọng làm mờ lý trí TC có thể tính toán sai lầm mà phát động chiến tranh.
Chúng ta hảy thử " động não " một tí xem sao.
TC có thể tính toán sai lầm như thế nào ?
TC không dám đối đầu trực tiếp với Mỹ nhưng có nhất quyết " chinh phạt " VN không ?
Nếu có, thì TC sẽ tấn công VN như thế nào ?
NP thấy đôi khi cũng cần " gái góa ngõ việc triều đình ", bởi vì " Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách " nên ít ra ta cũng nên " trăn trở " và " tâm tư " một chút, phải không các bạn trẻ ? Đừng quên các bạn vẫn còn trong lứa tuổi xét tuyển cho nghĩa vụ quân sự đấy.

38

Sunday, June 14th 2015, 5:04am

TƯƠNG LAI QUAN HỆ TRUNG-MỸ
Xung đột là sự chọn lựa, chứ không phải là tất yếu
( Trích )
Henry A. Kissinger
Foreign Affairs, March/April 2012
(NGUYỄN VĂN NHÃ tập hợp và biên dịch)

Ngày 19-1-2011, vào cuối chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ở Washington, Tổng thống Mỹ Barack Obama và ông Hồ đã ra một thông cáo chung. Họ tuyên bố là cùng cam kết tán thành một “ quan hệ Trung Mỹ xây dựng, hợp tác và toàn bộ ”.
Nước Mỹ nhắc lại là nó chào mừng một nước Trung Quốc mạnh, phồn thịnh và thành công, để có thể giữ vai trò lớn hơn nữa trong những vấn đề của thế giới.
Trung Quốc chào đón nước Mỹ là một quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, đóng góp cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.

Từ đó hai chính phủ đã tìm cách thực hiện những mục tiêu kể trên. Các quan chức cao cấp Mỹ và Trung Quốc trao đổi những cuộc viếng thăm và định chế hóa sự trao đổi trên các vấn đề lớn về chiến lược và kinh tế. Các cuộc gặp gỡ quân sự giữa hai bên cũng được khởi động lại, mở những kênh liên lạc quan trọng.
Và trong tầm mức bán chính thức, những nhóm vẫn được gọi là “ Kênh thứ 2 ” đã tìm hiểu thêm khả năng diễn biến của quan hệ Trung Mỹ.

Tuy nhiên, khi hợp tác tăng lên, sự tranh cãi cũng tăng lên. Nhiều nhóm tại cả hai nước đều cho là sự tranh đua để giữ vai trò thống lĩnh giữa Trung Quốc và Mỹ là không tránh khỏi, và có lẽ đã bắt đầu. Trong viễn cảnh này, kêu gọi hợp tác Trung – Mỹ có vẽ là lỗi thời, ngay cả ngây thơ.
Sự thù địch lẫn nhau nổi lên từ những phân tích song song tại mỗi quốc gia.

Một số nhà chiến lược Hoa Kỳ cho rằng chính sách của Trung Quốc theo đuổi hai mục đích :

- Thay thế vai trò cường quốc nổi trội của Mỹ ở miền Tây Thái Bình Dương,

- Củng cố châu Á thành một khối riêng biệt phục vụ cho quyền lợi kinh tế và chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Trong quan niệm này, mặc dù khả năng quân sự của Trung Quốc chính thức chưa bằng với Mỹ, Bắc Kinh đã có khả năng tạo ra những môi nguy cơ không chấp nhận được trong cuộc xung đột với Washington, và họ đang triển khai những phương tiện tinh vi để xóa bỏ lợi thế truyền thống của Hoa Kỳ.
Khả năng trả đũa lần thứ hai bằng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc (2), cùng với việc mở rộng tầm bắn của các loại tên lửa đạn đạo chống chiến hạm, và khả năng trong lĩnh vực không gian và không gian mạng. Trung Quốc có thể tạo lập vị thế thống trị hải quân của họ thông qua một loạt các dãy hải đảo ở xung quanh nước họ.

Một số người lo sợ là một khi tạo lập được các căn cứ rồi, các nước lân bang của Trung Quốc, vì phụ thuộc vào thương mại với Trung Quốc, và vì họ nghi ngờ khả năng Mỹ không phản ứng kịp, có thể điều chỉnh lại chính sách của họ theo ý muốn của Bắc Kinh. Như thế, sẽ dẫn tới việc thành hình một khối châu Á hướng tâm về Trung Quốc, thống trị miền Tây Thái Bình Dương. Những báo cáo gần đây nhất của chiến lược quốc phòng của Mỹ, đã phản ánh một số quan ngại này.
Không có một quan chức Trung Quốc nào lại tuyên bố một chiến lược như vậy. Tuy nhiên, có hầu như đầy đủ tài liệu trong hệ thống báo chí bán chính thức ở Trung Quốc và các viện nghiên cứu hỗ trợ cho lý thuyết là quan hệ hiện nay giữa hai nước sẽ dẫn tới đụng độ thay vì hợp tác.

Nhưng nỗi lo ngại chiến lược của Mỹ lại được tăng lên vì những vấn đề ý thức hệ để đấu tranh với toàn bộ thế giới phi dân chủ. Các chế độ toàn trị, một số người lý luận, tự nó mong manh, bị bó buộc phải tạo nên sự ủng hộ ở trong nước bằng những lời nói mỹ từ và những hành động mang tính dân tộc chủ nghĩa và bành trướng chủ nghĩa. Về lý thuyết – quan điểm này được chấp thuận ở Mỹ kể cả bên tả lẫn bên hữu – căng thẳng và đụng độ với Trung Quốc nẩy sinh ra từ cơ cấu nội bộ của Trung Quốc.
Họ đã xác định là, hòa bình phổ quát sẽ tới từ sự chiến thắng của nền dân chủ, hơn là từ lời kêu gọi hợp tác. Ví dụ, nhà khoa học chính trị Aaron Friedberg đã viết :

“ Một nước Trung Quốc tự do dân chủ không có lý do để sợ hãi các quốc gia dân chủ khác, và càng ít có khuynh hướng sử dụng vũ lực chống lại các quốc gia này ”.

Từ đó,

“ Bỏ qua sự mềm mỏng ngoại giao, mục tiêu cuối cùng của chiến lược của Mỹ (phải là) thúc đẩy cách mạng, dù là ôn hòa, để xóa bỏ nhà nước độc đảng toàn quyền của Trung Quốc, và để cho nền dân chủ tự do lên thay thế ”.

Về phía Trung Quốc, lý thuyết đối đầu dựa trên một lô gich ngược lại.

Họ nhìn Hoa Kỳ như một siêu cường đã bị trọng thương, quyết tâm phá đám sự nổi lên của bất cứ đối thủ nào, trong đó Trung Quốc là đối thủ quan trọng nhất.
Dù Trung Quốc tiếp tục hợp tác thế nào chăng nữa, một số học giả Trung Quốc vẫn tin rằng mục đích của Washington là tìm cách ngăn chặn sự tăng trưởng của Trung Quốc bằng sự triển khai quân sự và những hiệp định cam kết, như thế sẽ ngăn cản Trung Quốc, không cho nó trở lại vai trò của Vương quốc Trung tâm xưa kia. Trong viễn cảnh này, mọi hợp tác lâu dài với Mỹ là tự đánh bại mình, vì nó chỉ giúp cho Mỹ đạt nhanh tới mục tiêu và làm tê liệt Trung Quốc.

Sự hiềm khích có hệ thống đôi khi được coi là đi liền với ảnh hưởng văn hóa và công nghệ của Mỹ. Những ảnh hưởng này tạo ra áp lực cố ý để xói mòn sự đồng thuận nội bộ của Trung Quốc và những giá trị cổ truyền. Những tiếng nói mạnh mẽ nhất cho rằng Trung Quốc quá thụ động trước chiều hướng chống đối của Mỹ (ví dụ, vấn đề lãnh thổ ở biển Nam Trung Hoa). Trung Quốc phải đối chọi lại các nước láng giềng đang tranh chấp với nó, và rồi nói theo lời nhà chiến lược Long Đào (Long Tao) :

“ Suy nghĩ, suy nghĩ trước, và đánh trước khi sự việc vuột khỏi tầm tay… đánh vài trận nhỏ sẽ răn đe bọn khiêu khích không dám đi xa hơn nữa ”.


( Lời bàn của NP: Trong suy nghĩ của TC là phải ra tay trước khi quá muộn, trước khi Mỹ đat được mục tiêu làm tê liệt TC. Nghĩa là trước khi sự can thiệp của Mỹ có thể làm vở tan mộng bành trướng của TC, thì TC phải đem quân chinh phạt một vài nước nhỏ để thị uy. Liệu VN có đang nằm trong tầm ngắm của TC không ?)

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 16th 2015, 5:44am)


39

Tuesday, June 16th 2015, 5:47am

Quá khứ không phải là lời dẫn đầu

Như thế, liệu có cần tới một quan hệ hợp tác Trung-Mỹ, và những chính sách để đạt được mục tiêu đó ?

Nói rõ ra, sự nổi lên của một cường quốc trong lịch sử thường dẫn tới xung đột với một cường quốc đã có sẵn. Nhưng tình hình đã thay đổi. Người ta nghi rằng các nhà lãnh đạo đã gây ra chiến tranh 1914 sẽ không làm như vậy nếu họ biết rõ là thế giới sẽ trở nên như thế nào vào cuối chiến tranh. Các nhà lãnh đạo ngày nay không có những ảo tưởng như vậy. Một cuộc chiến tranh lớn giữa các cường quốc hạt nhân sẽ tạo ra thương vong và tàn phá không thể so sánh nổi với những mục tiêu đề ra.

Các cú đánh phủ đầu (1) phải bị loại trừ, nhất là đối với những nền dân chủ đa nguyên như nước Mỹ.

Nếu bị khiêu khích, Hoa Kỳ sẽ làm tất cả những gì cần phải làm để bảo vệ an ninh của mình. Nhưng nó không nên coi đối đầu là một chiến lược nên lựa chọn.

Tại Trung Quốc, nước Mỹ sẽ gặp một đối thủ có bản lĩnh từ hàng thế kỷ lấy chiến tranh trường kỳ làm chiến lược, và học thuyết của họ nhấn mạnh tới sự cạn kiệt tâm lý của đối phương. Trong một cuộc tranh chấp, cả hai bên đều có đủ khả năng và kỹ thuật để giáng những đòn thiệt hại kinh khủng lên nhau. Vào phút cuối cùng của cuộc chiến tranh giả tưởng này, mọi người tham chiến đều kiệt quệ. Lúc đó cả hai bên sẽ bị bó buộc đối mặt với nhiệm vụ mà họ đang phải giải quyết vào ngày hôm nay :

“ xây dựng lại một trật tự quốc tế, trong đó cả hai quốc gia đều là thành viên lớn ”.

Kế hoạch “ bao vây ” có từ thời chiến tranh lạnh do cả hai quốc gia đã sử dụng để chống lại Liên Xô, không thể áp dụng được cho tình hình hiện nay. Kinh tế của Liên Xô lúc đó còn yếu (ngoại trừ sản xuất vũ khí) và không ảnh hưởng gì tới kinh tế toàn cầu. Một khi Trung Quốc đã cắt đứt quan hệ và xua đuổi các nhà cố vấn Nga, có rất ít quốc gia khác (ngoại trừ những nước vệ tinh) có liên hệ kinh tế lớn với Liên Xô.

Ngược lại, Trung Quốc hiện nay là một nhân tố năng động của kinh tế thế giới. Nó là đối tác thương mại chính của tất cả các quốc gia lân bang và của hầu hết các cường quốc kinh tế Tây phương, kể cả Mỹ. Một cuộc chiến tranh lâu dài giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ làm sụp đổ nền kinh tế thế giới với những hậu quả khó lường được cho tất cả mọi người.

Cũng thế, Trung Quốc sẽ thấy họ không thể sử dụng cùng một chiến lược trong cuộc chiến trước kia với Liên Xô để đối phó với Hoa Kỳ. Chỉ có một số ít quốc gia – không có quốc gia Á Châu – sẽ coi sự hiện diện của Mỹ ở châu Á là những “ ngón tay ” cần phải chặt cụt đi (như Đặng Tiểu Bình đã nói về các căn cứ tiền phương của Liên Xô).

Ngay cả những quốc gia châu Á không phải đồng minh của Hoa Kỳ cũng tìm sự trấn an bằng sự hiện diện chính trị của Mỹ tại khu vực này, và coi hạm đội Mỹ đồn trú tại vùng biển gần đó như là một bảo lãnh cho thế giới mà họ đã quen thuộc. Có một quan chức Indonesia đã nói với một đồng nghiệp Mỹ :

“ Đừng bỏ chúng tôi, và đừng bắt chúng tôi phải chọn lựa ”.

Sự xây dựng quân sự gần đây của Trung Quốc không phải là một hiện tượng mới mẻ : vấn đề bất bình thường là một nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và một nước nhập khẩu nguyên liệu lớn nhất thế giới lại không diễn dịch sức mạnh kinh tế của mình thành một khả năng quân sự lớn mạnh. Vấn đề là liệu sự xây dựng này có bỏ ngỏ (open ended), và mục tiêu của nó là gì ?

Nếu nước Mỹ coi mọi tăng tiến khả năng quân sự của Trung Quốc là một hành động thù nghịch, nó sẽ bị lôi cuốn vào những cuộc tranh chấp bất tận, dưới danh nghĩa những mục đích kỳ quái. Nhưng Trung Quốc cũng phải hiểu rằng, từ kinh nghiệm lịch sử của nó, có một đường phân chia rất mỏng manh giữa khả năng tự vệ và khả năng tấn công, và những hậu quả của một cuộc chạy đua vũ trang không kiềm chế.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có những lý lẽ của họ để bác bỏ những đề nghị nội bộ cho một chính sách đối đầu, như họ đã công khai tuyên bố. Sự bành trướng đế quốc trước kia của Trung Quốc được thực hiện bằng thẩm thấu hơn là chinh phục. Hay là đồng hóa những người chiến thắng bằng văn hóa Trung Quốc.

Thống trị châu Á bằng vũ lực là một sự nghiệp ghê gớm. Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô được bao quanh bởi một giải các quốc gia yếu kém kiệt quệ trong công việc quốc phòng của họ. Trung Quốc ngày nay phải đối mặt với nước Nga ở phía bắc, Nhật Bản, Hàn Quốc có liên minh quân sự với Mỹ ở phía đông ; Việt Nam, và Ấn Độ ở phía nam, và Mã Lai, Indonesia cũng gần đâu đó. Đây không phải là một chòm sao có mục tiêu để chinh phục.

Đúng hơn, nó có vẻ làm người ta sợ hãi về một chính sách bao vây. Mỗi quốc gia đều có truyền thống lâu đời về quân sự, và sẽ tạo nên những vật cản ghê gớm nếu đất nước hay nền độc lập của họ bị đe dọa. Một chính sách đối ngoại hiếu chiến của Trung Quốc sẽ làm cho các quốc gia này củng cố đoàn kết hơn nữa, làm cho Trung Quốc nhớ lại cơn ác mộng của lịch sử trước kia, như đã xảy ra vào thời kỳ 2009-2010.

Đối phó với một Trung Quốc mới

Một lý do khác cho sự kiềm chế của Trung Quốc trong trung hạn, là đất nước này đang đối mặt với sự thích ứng nội bộ. Sự khác biệt trong xã hội Trung Quốc, giữa các vùng bờ biển phát triển và các vùng phía Tây còn kém mở mang, đã làm cho Hồ Cẩm Đào đưa ra lý thuyết “ xã hội hài hòa ” vừa mang tính bó buộc, vừa mơ hồ.

Sự thay đổi văn hóa cũng là một thách thức. Thập kỷ sắp tới sẽ chứng kiến, lần đầu tiên, ảnh hưởng của chính sách một con lên xã hội người lớn ở Trung Quốc. Điều này điều chỉnh lại văn hóa trong một xã hội có truyền thống có gia đình lớn, để chăm sóc người có tuổi và người bệnh tật. Khi mà 4 ông bà tranh nhau sự phụng dưỡng của một đứa cháu…

Tình hình này càng phức tạp hơn nữa vào năm 2012, lúc đó sẽ có một Đại hội để thay đổi các lãnh đạo chủ chốt của Trung Quốc. Những người lãnh đạo mới hầu hết sẽ thuộc vào thế hệ đầu tiên của Trung Quốc được sống trong một đất nước hòa bình. Sự thách thức chính cho họ là tìm cách quản lý một đất nước đang làm một cuộc cách mạng về kinh tế chưa bao giờ có, một công nghệ thông tin mở rộng rất nhanh một nền kinh tế toàn cầu mong manh, và một cuộc di dân hàng trăm triệu người từ nông thôn ra thành thị.

Mô hình chính phủ lập ra có lẽ là một tổng hợp của những tư duy hiện đại và những quan niệm cổ truyền của Trung Quốc về chính trị và văn hóa. Và sự truy tầm sự tổng hợp này sẽ tạo ra màn kịch đang diễn ra ở Trung Quốc.

Sự chuyển biến xã hội, chính trị này đã được chú ý theo dõi với nhiều hy vọng ở tại Mỹ. Sự can thiệp trực tiếp của Mỹ không phải là thông minh cũng như không có hiệu quả...

Một biện pháp chiến lược giản dị nhất là nhấn mạnh vào khả năng lấn áp đối thủ tiềm ẩn bằng các nguồn lực và vật lực phong phú. Nhưng trong thế giới hiện đại, điều này khó thực hiện. Trung Quốc và Mỹ phải chắc chắn tiếp tục chấp nhận thực tế của nhau.

Không ai có thể nhờ người khác lo vấn đề an ninh cho mình. Từ lâu rồi, các đại cường không ai làm như vậy – và mỗi quốc gia sẽ tiếp tục đi theo quyền lợi của riêng mình, đôi khi có thể gây thiệt hại tương đối cho người khác. Nhưng cả hai phải có trách nhiệm để ý tới những cơn ác mộng của nhau, và cả hai phải cảnh giác những lời mỹ từ, cũng như những chính sách hiện nay của họ, có thể làm tăng sự nghi ngờ lẫn nhau.

Sự sợ hãi chiến lược lớn nhất của Trung Quốc là các cường quốc ngoại bang bố trí căn cứ quân sự ở vùng biên của Trung Quốc, có khả năng chiếm đóng lãnh thổ hay can thiệp vào tình hình nội bộ Trung Quốc. Trong quá khứ khi Trung Quốc nhận thấy họ phải đối mặt với những đe dọa như vậy, họ đã gây ra chiến tranh hơn là ngồi nhìn mối nguy hiểm đang tụ hội. Ở Triều Tiên vào 1950, chống Ấn Độ 1962, tại biên giới Liên Xô 1969, và chống lại Việt Nam năm 1979.

Sự sợ hãi của nước Mỹ, chỉ được phát biểu một cách gián tiếp, là bị đẩy ra khỏi châu Á bởi một khối chính trị độc quyền. Nước Mỹ đã tham gia Thế chiến II chống lại Đức và Nhật Bản để ngăn chặn một kết cục như vậy, và đã sử dụng chiến tranh lạnh (chính sách ngoại giao) để chống lại Liên Xô. Trong cả hai sự nghiệp này, cần phải ghi nhận những mối đe dọa bá quyền.

Các quốc gia khác ở châu Á cũng nhấn mạnh tới mục tiêu của họ là triển khai khả năng của họ để phục vụ quyền lợi quốc gia của họ, chứ không phải để tham gia vào sự tranh chấp giữa các đại cường ngoại bang. Họ cũng không muốn trở lại hệ thống triều cống xưa kia. Cũng như họ không tự coi mình là một bộ phận của chính sách bao vây của Mỹ, hay là của một dự án của Mỹ muốn thay đổi tình hình nội bộ Trung Quốc. Họ mong muốn có quan hệ tốt với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, và họ chống lại bất cứ áp lực nào bắt họ phải chọn lựa giữa hai cường quốc (3).

Liệu người ta có thể hòa giải được nỗi sợ hãi bá quyền với cơn ác mộng bị bao vây ?

Liệu có khả năng tìm được không gian trong đó cả hai bên đều đạt được những mục tiêu cuối cùng mà không cần phải quân sự hóa chiến lược của họ ?

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 16th 2015, 6:14am)


40

Tuesday, June 16th 2015, 6:16am

Đối với những quốc gia đại cường với khả năng toàn cầu và khác biệt nhau, ngay cả khi có nguyện vọng đối chọi với nhau một chút, đâu là biên giới giữa xung đột và nhịn nhục ?

Trong gần hai thế hệ, chiến lược của Mỹ về bảo vệ khu vực đã dựa vào bộ binh – để tránh hậu quả kinh khủng của một cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện. Trong những thập kỷ gần đây, dư luận của Quốc hội Mỹ và của quần chúng đòi hỏi chấm dứt những cam kết như vậy ở Việt Nam, Iraq và Afghanistan.

Bây giờ, khó khăn ngân sách lại hạn chế thêm khả năng sử dụng biện pháp này. Chiến lược của Mỹ đã được chuyển hướng từ việc bảo vệ lãnh thổ qua việc đe dọa trừng phạt ghê gớm những kẻ xâm lăng tiềm ẩn. Điều này đòi hỏi có một lực lượng phản ứng nhanh, và có phạm vi hoạt động toàn cầu, nhưng không lập căn cứ dọc theo biên giới Trung Quốc.

Điều mà Washington không nên làm là phối hợp chính sách quốc phòng có những hạn chế về ngân sách với một nền ngoại giao dựa trên những mục tiêu ý thức hệ vô giới hạn.

Cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc lên các quốc gia xung quanh có thể gây ra sự sợ hãi về việc thống trị, cho nên các nỗ lực theo đuổi quyền lợi quốc gia truyền thống của Mỹ có thể được hình dung là bao vây quân sự.

Cả hai phía nên hiểu là sự tinh tế theo đó các biện pháp có vẻ truyền thống hay có vẻ hợp lý, đều gây ra lo ngại cho nước kia. Họ nên tìm chung một không gian để khoanh vùng lại sự cạnh tranh kinh tế một cách hòa bình. Nếu được quản lý khôn khéo, người ta có thể tránh được sự đụng độ và đô hộ quân sự. Nếu không, căng thẳng leo thang là điều không tránh khỏi. Vai trò của ngành ngoại giao là phải tìm ra không gian này, mở rộng nó ra nếu có thể, và tránh để cho quan hệ giữa hai nước bị các nhu cầu chiến thuật hoặc nội bộ lấn át.

Cộng đồng hay xung đột ?

Hệ thống trật tự thế giới hiện nay phần lớn được xây dựng mà không có sự tham gia của Trung Quốc. Do đó, đôi khi Trung Quốc cảm thấy không bị ràng buộc lắm bởi các luật lệ của nó. Khi nào trật tự này không phù hợp với ý muốn của Trung Quốc,

Bắc Kinh đề nghị một cách dàn xếp khác. Ví dụ như những đường kênh tiền tệ riêng biệt đã được xây dựng với Brazil và Nhật Bản hay các quốc gia khác. Nếu cách làm này trở thành quen thuộc và lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác, sẽ gây ra sự cạnh tranh giữa các hệ thống trật tự thế giới.

Thiếu vắng mục đích chung, đi cùng với luật lệ đã được đồng ý về kiềm chế, sự ganh đua được định chế hóa sẽ leo thang vượt qua mọi tính toán và mọi dự tính của người khởi xướng. Trong một thời đại mà khả năng tấn công chưa từng có, và công nghệ xâm nhập được nhân lên, sự phạt đền những chính sách như vậy sẽ quyết liệt và có lẽ không đảo ngược được.

Sự quản lý khủng hoảng sẽ không đủ sức để chịu đựng một quan hệ mang tính toàn cầu như vậy, và dưới nhiều áp lực ở trong cả hai quốc gia, và ở giữa hai quốc gia. Đó là lý do tại sao tôi đưa ra quan niệm về một Cộng đồng Thái Bình Dương, và mong muốn là Trung Quốc và Hoa Kỳ có thể tạo ra mục đích chung hay ít nhất là trong một số vấn đề hai bên cùng quan ngại.

Nhưng mục tiêu cho một cộng đồng như vậy sẽ không đạt được nếu các bên quan niệm sự nghiệp này chủ yếu là một cách thức hữu hiệu để đánh bại hay làm yếu đối phương. Cả Trung Quốc và Mỹ đều không thể thách thức một cách có hệ thống mà không để lộ ra. Và nếu thách thức bị lộ ra, nó sẽ bị chống cự. Cả hai quốc gia phải tự mình cam kết cho một hợp tác thực sự, và tìm cách liên lạc và trao đổi quan điểm của mình cho nhau biết, và cho cả thế giới cùng biết.

Chú thích :

(1) Cú đánh phủ đầu : Ngôn ngữ dùng trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Quốc gia A tấn công quốc gia B bằng vũ khí hạt nhân , mà không tuyên bố trước.

(2) Khả năng trả đũa lần thứ hai : Khả năng của bên B, sau khi bị đánh phủ đầu, vẫn còn đủ lực lượng, dùng vũ khí hạt nhân để tấn công, trả đũa bên A.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 16th 2015, 6:42pm)


5 users apart from you are browsing this thread:

5 guests

Similar threads