You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

381

Saturday, August 27th 2016, 5:28am

Miền Nam VN

Đấy là Vấn Đề Thiểu Số ở Miền Bắc, còn Vấn Đề Thiểu Số ở Miền Nam thì như sau:

Dưới thời Pháp thuộc, Pháp thi hành chính sách chia để trị. Họ chia rẽ Kinh Thượng, gây thù hận giữa hai bên, người Kinh bị cấm lên Cao Nguyên, muốn lên phải có giấy phép. Tư bản Pháp độc quyền khai thác Cao Nguyên. Khi trở lại Cao Nguyên sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, ngày 27, tháng 6,1946, Toàn Quyền D' Argenlieu biến Cao Nguyên thành một Miền Tự Trị riêng gọi là Pays Montagnards du Sud Indochine (PMSI), với một nền hành chánh riêng biệt trực thuộc Pháp.

Đến khi phải ký Thỏa Hiệp với Cựu Hoàng Bảo Đại ngày 8, tháng 3, 1949, trao trả Độc Lập cho Việt Nam, thì trong Thỏa Hiệp Pháp cũng buộc VN phải ban bố những Quy Chế Riêng Biệt cho những sắc tộc không phải người Kinh trên Cao Nguyên. Nội dung Quy Chế này phải được sự thỏa thuận của Pháp, và nếu có sửa đổi điều gì cũng phải có sự đồng ý và được phép của Pháp.

Ngày 25, tháng 7, 1950, Cựu Hoàng ra Sắc Lệnh tổ chức Cao Nguyên thành một Vùng riêng biệt gọi là Hoàng Triều Cương Thổ, trực thuộc Văn Phòng Quốc Trưởng đặt tại Đà Lạt. Ngày 21, tháng 5, 1951, Văn Phòng Quốc Trưởng ra Dụ số 10, ban hành Quy Chế Riêng Biệt nâng đỡ Đồng Bào Thượng.
Người Thượng rất hài lòng với Bản Quy Chế này, sau này họ cứ đòi hỏi phải tái lập lại Bản Quy Chế Riêng Biệt cho họ.


Sau một cuộc Trưng Cầu Dân Ý, ngày 26, tháng 10, 1955, Cựu Hoàng Bảo Đại bị truất phế, Tổng Thống Ngô Đình Diệm hủy bỏ Hoàng Triều Cương Thổ, và cũng không nhắc gì đến Quy Chế Riêng Biệt cho Đồng Bào Thượng. Các Quân Nhân Công Chức Thượng đang giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng trên Cao Nguyên đều bị mất chức và bị thay thế bởi người Kinh. Họ còn bị bắt buộc đồi tên họ từ tên họ Thượng sang tên họ Kinh. Tiếng Thượng không được dạy ở các trường trên Cao Nguyên nữa. Bao nhiêu sách dạy học bằng tiếng Thượng để ở trong kho các trường học thì theo lệnh Bộ Giáo Dục phải đem đốt hết cả đi. Các địa danh bằng tiếng Thượng cũng bị đổi thành địa danh Kinh.
Ví dụ Hdrung, tên một ngọn đồi ở Pleiku thì đổi thành Hàm Rồng. Hồ Lak thì đổi thành Hồ Lạc Thiện …v..v. .. Nhưng điều mà người Thượng phẫn uất nhất là quyền sở hữu đất đai của họ không được Chính Phủ công nhận. Năm 1958, Tổng Thống ký một Nghị Định ấn định rằng người Thượng không có quyền sở hữu đât đai mà chỉ có quyền hưởng dụng hoa màu canh tác.

Vì những biện pháp trên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên người Thượng đã chống đối, thành lập Phong Trào Bajaraka, họp Pleiku, năm 1958, để gửi kiến nghị lên Tổng Thống. Công An đã bắt hết đoàn viên của Phong Trào đem bỏ tù, và còn cho thuyên chuyển phần lớn công chức Thượng xuống các Tỉnh Duyên Hải Miền Trung, tạo nên một khoảng trống về lãnh đạo chỉ huy trong các sắc tộc.

Đây chính là cơ hội cho Cộng Sản Bắc Việt cho những cán bộ Thượng đã tập kết ra bắc, trở về nắm lấy các sắc tộc Thượng ở Cao Nguyên. Cũng vì thế tình trạng an ninh càng ngày càng tồi tệ, khiến cho dân chúng nhiều Buôn, Plei phải bỏ Buôn làng di cư tị nạn về những vùng có an ninh hơn.

Trước tình hình ấy CIA Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đã huấn luyện dân Buôn, phát vũ khí thành lập Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu Thượng để bảo vệ Buôn làng. Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ cũng huấn luyện và thành lập nhiều Trại Lực Lượng Đặc Biệt Thượn đóng dọc biên giới giáp với Lào, Miên để ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt theo Đường Mòn Hồ Chí Minh vào Cao Nguyên và xuống Duyên Hải Miền Trung.

Bất ngờ đã xẩy ra Biến Cố ngày 20, tháng 9, 1964, tại Tỉnh Darlak. 5 Trại Lực Lượng Thượng trong Tỉnh đã kéo về chiếm Đài Phát Thanh, bao vây Thị Xã, tuyên bố thành lập Miền Cao Nguyên Tự Trị. Theo lệnh Thủ Tướng Nguyễn Khánh, tôi và một số người Thượng có uy tín đã thuyết phục thành công họ buông súng trở về với chính phủ và tiếp tục đi chiến đấu trở lại.

Tình báo Thượng phát hiện ra kẻ chủ mưu cuộc phản loạn này là Tổ Chức FULRO do Sihanouk thành lập để đánh phá VN, chia cắt Miền Cao Nguyên ra khỏi VN, đồng thời tái lập lại nước Chàm, lấy Nha Trang làm Thủ Đô.

Sau khi dẹp yên cuộc phản loạn ấy Thủ Tướng Nguyễn Khánh đã ban hành một chính sách mới bảo đảm Dân Quyền và Nhân Quyền cho Đồng Bào Thượng nói riêng và cho toàn thể Đồng Bào Thiểu Số VN nói chung. Chính sách mới đã hứa sẽ ban hành nhiều chương trình nâng đỡ phát triển đời sống dồng bào mau chóng tiến kịp với đời sống chung của đồng bào toàn quốc. Chính Sách này đảm bảo được Chủ Quyền Quốc Gia và Sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ.

Nha Công Tác Xã Hội Thượng dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã được đổi thành Nha Đặc trách Thượng Vụ trực thuộc Bộ Quốc Phòng, do một Trung Tá người Kinh phụ trách. Sau Thủ Tướng lại bổ nhiệm Trung Tá Ya Ba, người sắc tộc Churu, ở Đà Lạt, về làm Giám Đốc Nha, và đặt Nha trực thuộc Phủ Thủ Tướng. Bây giờ thì trực thuộc Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.

Nha Đặc Trách Thượng Vụ là một cơ quan nhỏ, nhân viên ít, ngân sách eo hẹp, không thể có những chương trình phù hợp với nhu cầu phát triển đồng bào. Nha cũng không có thẩm quyền để phối hợp và cố vấn cho các Bộ, các Tổng Nha thực hiện những chương trình chuyên môn trên Miền Thượng. Thí dụ chương trình Kiến Điền cấp phát bằng khoán đất đai cho đồng bào. Quan trọng nhất là Nha cũng chưa xúc tiến được việc thuyết phục thành phần Thượng võ trang trong Tổ Chức FULRO hiện đóng ở Mondulkiri.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 5:39am)


382

Saturday, August 27th 2016, 5:40am

Nếu không sớm thực hiện được những điều ghi trong Chính Sách mới, đồng bào sẽ nóng lòng, hoài nghi những lời hứa của Chính Phủ, và tôi e rằng Tổ Chức FULRO ở Phnom Penh lại có thể xúi dục binh lính Thượng gây ra những cuộc bạo loạn khác. Nếu Cộng Sản lợi dụng khai thác tình trạng bất ổn này mà lấy được Cao Nguyên thì chắc chắn cũng khó mà giữ được Miền Nam!

Phần trình bày của tôi đến đây là hết. Trung Tướng cần hỏi thêm điều gì, tôi sẽ trình bày tiếp. Mới đấy đồng hồ treo trên tường đã chỉ 1 giờ trưa, tuy nhiên không thấy Trung Tướng có vẻ gì là mệt mỏi. Trung Tướng tươi cười rất hài lòng, Ông nói:

“Anh đã trình bày rất rõ ràng, tôi không hỏi gì thêm. Anh đã thuộc hết vấn đề rồi, Anh không cần những tài liệu này nữa. Anh để hết lại đây cho tôi, tôi cần phải nghiên cứu thêm.”

Trung Tướng, Thiếu Tướng Phạm Quốc Thuần và Sĩ Quan Tùy Viên dời Phòng Họp. Đại Tá Chánh Văn Phòng sang tiễn tôi và thu dọn chồng sách, bản đồ và những tài liệu trên bàn.

Tôi ra về với sự tiếc nuối lớn lao số tài liệu sưu tầm công phu từ nhiều năm qua, đồng thời trong lòng cũng đầy thắc mắc. Không biết vì sao Trung Tướng biết tôi? Và tại sao Trung Tướng lại muốn tìm hiểu cặn kẽ vấn đề này?...

Phủ Đặc Ủy Thượng Vụ

Trở về Sư Đoàn 7 tại Mỹ Tho, tôi trình lên Thiếu Tướng Tư Lệnh mọi diễn tiến trong cuộc gặp Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Thiếu Tướng ghi nhận có vẻ suy tư, nhưng không nói gì.

Bẵng đi vài tháng, vào một ngày Chủ Nhật, em Ksor Hip từ Trường Sư Phạm Long An xuống thăm tôi. Em báo một tin quan trọng:

Có 2 tên Thượng theo Les KosemPhnom Penh đã theo lệnh của Les Kosem, lén lút giả danh nghĩa của Ông Y Bhăm ra lệnh cho các toán võ trang Fulro, gây bạo loạn ở Pleiku và Phú Bổn vào ngày 17, tháng 12, 1965. Tại Quận Phú Thiện, Phú Bổn, cuộc bạo loạn đã gây thiệt hại một số mạng người cả Kinh lẫn Thượng. Trung Tướng Vĩnh Lộc Tư Lệnh Quân Đoàn II, và Vùng II Chiến Thuật đã cho Quân Đội đàn áp thẳng tay. Một số kẻ phản loạn đã bị băt tại trận. Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng II đã họp tại Pleiku ngày 27, 28, tháng 12, 1965, và tại Banmêthuột ngày 10 tháng 2, 1966. Một số kẻ FULRO phản loạn đã bị tử hình, một số bị kết án tù nhiều năm.

Tôi rất buồn trước những tin như vậy!

Một ít ngày sau, bỗng lại có Touneh Hàn Thọ xuống gặp tôi gấp. Em phấn khởi cho biết, Anh Paul Nưr, người Bahnar, Phó Tỉnh Trưởng Thượng Kontum đã tổ chức biểu tình ở Kontum lên án cuộc bạo động của FULRO ở Pleiku, Phú Bổn. Sau đó Anh lại cho tổ chức Đại Hội Kinh Thượng ở trong Tỉnh ngày 12, tháng 2 1966, phản đối mọi hành động bạo loạn gây mất đoàn kết Kinh Thượng.

Để giải quyết vấn đề trên Cao Nguyên, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, cho lệnh Anh Ya Ba, Giám Đốc Nha Đặc Trách Thượng Vụ, đạt giấy mời Anh Paul Nưr, Anh Y Chôn Mlô, Em Touneh Hàn Thọ, cùng với Anh Ya Ba sang Văn Phòng Thiếu Tướng họp.

Sau khi đã kiểm điểm tình hình trên Cao Nguyên, Thiếu Tướng hỏi anh em có nguyện vọng gì không?

Anh Paul Nưr đại diện mấy anh em xin 3 điều:

1. Xin nâng Nha Đặc Trách Thượng Vụ lên thành Phủ Đặc Ủy Thượng Vụ, trực thuộc Hội Dồng Nội Các, dể có đủ phương tiện và thẩm quyền để thi hành công tác.

2. Xin cho Phủ Đặc Ủy Thượng Vụ được toàn quyền phối hợp với Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật, thuyết phục nhóm FULRO Thượng do Ông Y Bhăm cầm đầu trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia.

3. Trả lại cho người Thượng chúng tôi Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm. Anh ấy là người thường giúp đỡ học sinh, sinh viên Thượng, bị An Ninh Quân Đội bắt và bị chuyển về Vùng IV Chiến Thuật.

Thiếu Tướng nói OK tất cả 3 điều. Đổng Lý Văn Phòng sẽ làm giấy tờ. Mấy Anh Paul Nưr, Ya ba, và Y Chôn bảo em Touneh Hàn Thọ xuống cho biết tin ngay để. tôi chuẩn bi khi nhận được giấy thuyên chuyển thì về ngay, Tôi rất mừng, và tràn đầy hy vọng.
Tuy nhiên tôi vẫn thắc mắc chuyện Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu hỏi tôi Vấn Đề Dồng Bào Thượng để làm gì?
Chođến nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Bất ngờ một hôm có một anh bạn thân đến thăm. Anh tên Khu Đức Hùng, Khóa 4 Đà Lạt, hiện đang là Trung Tá, giữ chức vụ Sĩ Quan Tùy Viên Quân Sự ở Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Lào. Anh là bạn thân với Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị, và cũng quen thân với tôi. Nghe nói anh lấy được một người vợ thuộc họ hàng Hoàng Gia Lào. Anh cho biết, tuy ở Vạn Tượng nhưng anh vẫn theo dõi những việc tôi thực hiện ở Cao Nguyên, và nhất là đã xin Thủ Tướng chấp thuận một Chính Sách Mới cho Đồng Bào Thượng. Anh đã đem những chuyện tôi làm nói với Cựu Thủ Tướng Boun oum. Sau năm 1962, Ông đã lui về sống ở Vương Quốc Champasak của Ông ở Nam Lào. Ông đã yêu cầu Chính Phủ Lào gửi giấy sang cho Chính Phủ Việt Nam, xin cho tôi sang làm cố vấn cho Chính Phủ Lào để phát triển Vùng Champasak Nam Lào của Ông. Rất tiếc Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã trả lời không chấp nhận vì lý do ở Việt Nam đang cần Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm.

Câu chuyện của Anh Hùng đã giải đáp mọi thắc mắc của tôi. Thì ra, những việc tôi làm trên Cao Nguyên Việt Nam đã có tiếng vang sang đến Vạn Tượng (Vientiane), Thủ Đô Nước Lào!!!

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Aug 27th 2016, 5:52am)


383

Thursday, September 22nd 2016, 6:39pm

Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt
Posted on 11/09/2016 by The Observer
Tác giả: Trần Gia Ninh
Nguồn: Tạp chí Tia Sáng


Khi đọc những câu hỏi:
“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”.
Hoặc:
“Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây? (1),
nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt. Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này:
Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào?
Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam ?…

Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không?
Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa.
Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt là một cách ôn cố tri tân hữu ích.
Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.


Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ.
Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粤互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.
Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng:
- Chữ Việt bộ tẩu là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu ViệtLạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây …
- Chữ Việt bộ mễ ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.
Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt:
-Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越,
- Đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越,
- Đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越,
- Từ thời Chiến Quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết:

“Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú, Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.”

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 25th 2016, 4:39am)


384

Friday, September 23rd 2016, 6:06am

Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán.
Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách.
Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN).

Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến Quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu ThànhVương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước
Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇,Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam.

Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước
Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.



Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi.

Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜).

Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống.
Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết:
Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương
(Nhượng Tống dịch thơ).
Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào?
Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế Gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di
7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến).
Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.


Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!).
Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo thành phần tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ.

Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa.

This post has been edited 16 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 23rd 2016, 7:00am)


385

Saturday, September 24th 2016, 7:01am

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi.


Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19

“… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”.

Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20
“Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”.

Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt.
Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc.


Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép:
“Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23.

Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước NamViệt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán.

Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam ViệtViệt Nam đến tận ngày nay.
Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

[font='&quot'] [/font]

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 24th 2016, 7:38am)


386

Saturday, September 24th 2016, 7:42am

Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm:

1– Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người.

2– Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27

Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

- Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

- Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

- Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

- Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

- Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

- Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

- Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

- Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

1. Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

3. Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội, khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 25th 2016, 4:45am)


387

Saturday, September 24th 2016, 7:50am

Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3:

1. Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú,tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

2. Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

3. Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh.

Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi

Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.

Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 25th 2016, 4:50am)


388

Saturday, September 24th 2016, 4:57pm

CHÚ DẪN

1. 为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml 越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”
http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html


2. Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵 âm đọc giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán
Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.


3. “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳,雒越, 瓯越瓯皑, 且瓯, 西瓯,供人, 目深, 摧夫,禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西 版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

4. http://www.sino-platonic.org/complete/sp…ory_of_yue.html The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

5. 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

6. 屈原在《离骚:帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

7. 《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịchư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥-Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

8. JerryNorman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

9. 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

10. ChữLạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ 雒,骆 thường dùng nhưnhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọclok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do ngườiHán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

11. 《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử.Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

12. 《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói đóng khố cởi trần).

13. 《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。” Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

14. 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

15. “华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 24th 2016, 5:13pm)


389

Saturday, September 24th 2016, 4:59pm

16. 叶榆水

17. 岱依人

18. 《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi, thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

19. 《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách
“Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

20. 《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu ĐườngThư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưacó vua gọilà Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

21. So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo sách cổ nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy
trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt
Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

22. Cácsách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览.Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lạitừ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

23. 《交州外域记:“南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

24. 《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

25. Ngườiviết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 24th 2016, 5:18pm)


390

Saturday, September 24th 2016, 5:04pm

26. Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán, thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

27. Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? –
http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/vi…h.0FZriY2F.dpuf.

28. Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.


Nhận định:

Như toan tính của Thiên Hạ Đệ Nhứt Ác Mao Vương TC là phải dọn sạch đất để trống chổ cho 500 triệu di dân Tàu tràn xuống Đông Nam Á, bọn cầm quyền cùng hung cực ác của chúng đã trước hết dùng Khờ Me Đỏ để tàn sát 2 triệu dân Cam Pu Chia và sau đó là đẩy mạnh tiến trình diệt chủng dân Việt. Tội ác của chúng rành rành ra đó, chỉ có những tên bán nước, đâm cha chém chú, sát phụ tru huynh, trảm thê diệt tử, mới hùa theo bọn tội phạm chống lại nhân lọai nầy mà thôi. Bọn tội phạm cầm quyền TC nầy còn nguy hiểm gấp vạn lần bọn buôn bán ma túy của Philippines đang bị đuổi tận giết tuyệt. Bọn tội phạm cầm quyền TC nầy còn tàn bạo gấp vạn lần bọn Đức Quốc Xã vì chúng đã và đang ra tay nhằm hủy diệt không phải chỉ riêng dân tộc VN mà còn là tất cả những chủng tộc nào nằm trên hướng tiến quân của chúng.
Bọn tội phạm cầm quyền TC nầy nếu cần sẽ tàn sát tất cả các chủng tộc trên thế giới để chiếm lấy "không gian sinh tồn" cho hơn 1 tỷ rưỡi dân của chúng. Nếu cần chúng sẽ không ngần ngại biến trái đất nầy trở thành một thế giới độc chủng da vàng.

Lời buộc tội nầy có vẻ hoang đường và qúa khích phải không ???

- Thế ai đang ra tay đầu độc cả thế giới này vậy ???
- Thế ai lập ra công ty Formosa và nhà máy thép Formosa ở Hà Tỉnh như một cơ sở công nghiệp trá hình để lén lúc nhập cảng các chất cực độc mà đổ xuống biển để hủy diệt môi trường sống ở VN và nhiều nơi trên thế giới ???
- Thế ai đang đấp nhiều đập trên thượng nguồn sông Mekong để ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường sinh thái của hơn 600 triệu người đang sống ở khu vực hạ lưu của con sông nầy ???
- Thế ai đang thực hiện đường lối ngọai giao "thực dân da vàng" và xuất cảng chiến tranh cách mạng ở Phi Châu làm cho bao nhiêu triệu người phải chết đói ???
- Thế ai đang ra sức đồng hóa người Tây Tạng và hủy diệt nền văn hóa của họ ???
- Thế ai đang ra sức đàn áp người Duy Ngô Nhỉ ???

Bọn tội phạm cầm quyền TC nầy và bọn bán nước VN đúng là trời cũng không thể dung mà đất cũng không thể tha, thì người VN làm sao có thể ngồi yên để chịu chết như một bầy súc vật bị lùa vào lò sát sinh ????
Nên nhớ, chủ trương của Bọn tội phạm cầm quyền TC nầy hiện nay là: "Đã không thể đồng hóa dân tộc VN thì phải diệt chủng dân VN"

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Sep 25th 2016, 4:03pm)


391

Tuesday, October 4th 2016, 1:41am

Thảm hoạ môi trường
Từ Vịnh Minamata (Nhật Bản) đến Vũng Áng, Hà Tĩnh
Nguyễn Lương Tuyền (Danlambao)


Cả quê hương đã bị TC biến thành 1 vùng bao la bị nhiễm độc: nước Việt Nam. hơn 3 triệu người đã bỏ mình, quê hương bị tan nát, văn hóa bị hủy diệt vì Chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Qủy Vương. Quả thực TC rất là tàn ác không bút nào tả xiết đối với dân Việt.

Trong hơn 4000 năm lịch sử của dân tộc Việt, đây là thời điểm mà tương lai đất nước, tương lai của giống nòi Việt đang bị hủy họai nặng nề hơn bao giờ hết. Dân tộc VN, ngoài cái họa ngoại xâm TC với sự đồng lõa của bọn bán nước, đang bị họa diệt vong.

Toàn thể quê hương đang bị người Tầu đánh thuốc độc bằng các thực phẩm độc hại. Sông Cửu Long, mạch máu của Quê hương VN đang bị cắt đứt nên cạn dòng. Đồng bằng miền nam thì đang bị ngập mặn, đồng lúa đang chết héo. Biển đông thì bị bị chiếm đọat, ngư dân Việt thì đang bị sát hại, bờ biển VN thì đã bị nhiểm độc nặng nề, nguồn hải sản ở bờ bể Thái Bình Dương đang bị hủy hoại vì các chất độc của Formosa.

Dân tộc và đất nước VN đang bị xô xuống vực thẳm...

Thảm họa môi trường ở Miền Trung VN bắt đầu từ Vũng Áng, Hà Tĩnh. Các chất độc lan ra vùng biển của 4 tỉnh ở Miền Trung làm cá chết hàng loạt, hệ thống sinh thái bị phá hủy.

Tới giờ phút này, có lẽ chất độc do Formosa thải ra đang lan tràn khắp bờ biển Việt Nam, từ Bắc chí Nam.

Công Ty Formosa, thủ phạm gây ra thảm họa ''cá chết hàng loạt'' hay thảm họa môi trường ở 4 tỉnh thuộc Miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, đã thỏa thuận với chính phủ VN ở Hà Nội để bồi thường 500 triệu Mỹ Kim. Số tiền này đã được Formosa giao làm 2 đợt.

Thảm họa do Formosa gây ra không chấm dứt với số tiền gọi là tiền bồi thường. Ảnh hưởng khốc hại của nó còn kéo dài như thảm họa mội trường tại Vịnh Minamata ở Nhật Bản năm 1956.

Thảm họa môi trường Minamata

Vịnh Minamata xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto (Nhật Bản) là nơi xảy ra thảm họa môi trường vào thập niên 50. Thủ phạm là Công Ty Nhật Bản Chisso đã đổ chất thải vào vịnh Minamata. Chisso là một Công Ty được thành lập từ đầu thế kỷ tại Nhật Bản. Chất độc Methyl Mercure, theo dòng nước biển, đã tràn ra vùng biển ngoài Vịnh Minamata. Cho tới ngày nay, người dân ở vùng chung quanh Vịnh Minamata vẫn còn người bị nhiễm độc theo cường độ khác nhau.

Năm 1956, bệnh Minamata lần đầu được xác nhận.

Năm 1968, Nhật Bản chính thức nhìn nhận thảm họa môi trường là nguyên nhân của bệnh Minamata. Việc làm sạch biển ở vùng Vịnh được bắt đầu từ mấy năm trước đó

Tính đến ngày 30/4/1994, đã có hơn 17, 000 người bị mắc bệnh trong đó có 1484 người đã qua đời tính đến năm 2003.

Theo một thống kê mới nhất của Japan Times, ngày 20/4/2016, chỉ còn khoảng hơn 3000 người được xác định là bị bệnh Minamata, nhưng 33.540 người quả quyết là họ bị bệnh này. Tất cả còn chờ các Cơ Quan Y Tế xác nhận.

Tẩy độc vùng Vịnh Minamata

Sau khi đã xác định được nguyên nhân, Nhật Bản với phương tiện kỹ thuật dồi dào, đã bắt tay ngay vào việc tẩy độc vùng Vịnh Minamata:

* ở vùng Vịnh - tức là cá đã nhiễm độc - bị bắt hết để bị tiêu hủy. Việc ăn cá nhiễm độc kinh niên là nguyên nhân gây ra bệnh Minamata.
* Người Nhật đã vét đáy biển, làm sạch môi trường. Người Nhật nhận biết rằng các chất độc thủy ngân lắng đọng ở đáy biển, sẽ bị các đợt sóng ngầm đưa lên các lớp bề mặt của nước biển.

Nước biển có vẻ sạch, nhưng các sóng ngầm sẽ đưa các chất độc lên mặt biển, Methyl Thủy Ngân ở mặt nước sẽ tác hại lên mọi sinh vật.
Với sự làm việc chăm chỉ, đầy ý chí cùng nhũng phương tiện hiện đại, người Nhật đã mất 23 năm để tẩy độc Vịnh Minamata, cố gắng bắt toàn thể số cá bị nhiễm độc Methyl Mercure.

Nhật Bản mất 14 năm ròng rã để nạo vét đáy đại dương (một công việc cực kỳ khó khăn) ở vùng Vịnh Minamata. Kinh phí của các hoạt động tẩy uế này lên tới hàng tỷ Mỹ Kim.

Dù việc tẩy độc biển tốn phí và công phu như vậy, Nhật Bản đã không thể nào ngăn chặn hậu quả của việc nhiễm độc kinh niên:

Thần kinh não bộ (Central Nervous System) và thần kinh ngoại biên (Peripheral Nerves) bị nhiễm độc thủy ngân, cyanure... khiến người bị nhiễm nặng có thể bị chết rất sớm hay sống tàn tật một đời. Như vậy, tùy theo cường độ nhiễm độc nặng hay nhẹ, độ nặng nhẹ của bệnh cũng thay đổi tùy người bị nhiễm độc. Máu của người tắm biển nhiều lần, ăn các con cá đã bị nhiễm độc tố kinh niên... Người dân Nhật nhất là người dân sống trong vùng Vịnh Minamata bị nhiễm độc nhưng họ không có mảy may ý niệm là họ đang bị nhiễm độc từ từ cho đến ngày phát bệnh.

Một thời gian không lâu sau, tùy theo độ nhiễm độc nhiều hay ít, người dân của vùng Vịnh Minamata xinh đẹp, thơ mộng bỗng phát bệnh: tay chân bị liệt, run lẩy bẩy, mắt mờ, nói lắp bắp cùng những cơn đau tàn khốc.

Những đứa bé sơ sinh bị liệt não, điếc, mù... thoi thóp cùng những dị dạng về thân thể, tay chân.

Thảm họa Minamata, một thảm họa khủng khiếp đã hằn in vết trong lịch sử của dân tộc Nhật Bản. Bệnh Minamata do thảm họa môi trường gây ra là một bệnh không có thuốc chữa.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Oct 4th 2016, 2:02am)


392

Tuesday, October 4th 2016, 2:30am

Thảm họa môi trường tại 4 tỉnh Miền Trung VN.

Thảm họa môi trường ở 4 tỉnh Miền Trung (Việt Nam) sẽ kéo dài hàng 50-100... năm. Thảm họa đó to lớn gấp 2 thảm họa tại Vịnh Minamata.

Đời sống của hàng triệu, triệu người bị ảnh hưởng nặng nề. Rồi đây chất độc thủy ngân, cyanure... sẽ theo dòng nước để trôi ra ngoài vùng biển thuộc 4 tỉnh để tràn ngập bờ biển VN từ Nam chí Bắc khiến hàng triệu, triệu ngư dân phải bỏ nghề.

1. Nhà nước VN, không có khả năng, ý chí, cộng với sự nghèo nàn về phương tiện để tẩy độc vùng bờ biển Thái Bình Dương như Nhật Bản đã làm để tẩy sạch Vịnh Minamata vào thập niên 70,80.
2. Hậu quả của việc hủy hoại môi trường sẽ ảnh hưởng tới con người Việt Nam trong nhiều năm tới. Tẩy sạch một vùng biển rộng lớn gấp đôi Vịnh Minamata, ngoài khơi VN là chuyện ''đội đá vá trời'' cho nhà nước Việt Nam.
3. Nghề đanh cá ở Miền Trung nói riêng, trên toàn vùng bờ biển của VN sẽ biến mất trong tương lai vì biển bị nhiễm độc chưa biết đến bao giờ mới hết.
4. Bệnh Minamata sẽ xuất hiện ở VN trong vòng 10 năm nữa. Chắc chắn VN không đủ phương tiện săn sóc những người bị bệnh đó. Có người lại cắc cớ nhận định: những người bệnh đó sẽ là 1 gánh nặng cho Trung Hoa Cộng Sản vì vào thời điểm bệnh xuất hiện, Việt Nam đã thành một tỉnh của Tầu.

Cá chết hàng loạt được phát hiện tại Hà Tĩnh ngày 6/4/2016. Những ngày kế tiếp, ở nhiều nơi tại 4 tỉnh ở Miền Trung cũng xuất hiện hiện tượng cá chết hàng loạt.
Ngư dân, sau khi lặn xuống biển thăm dò, đã phát hiện một đường ống thải khổng lố của Công Ty Formosa, đổ các chất thải một cách vô tội vạ (déversement délibéré) ra ngoài khơi Thái Bình Dương. Các quan to cố lèo lái dư luận, tuyên bố cho rằng hiện tượng cá chết hàng loạt không bắt nguồn từ các chất thải của Formosa...


Họ tuyên bố ống khổng lồ đưa chất thải ra biển là hợp pháp, ''đúng qui trình'' theo ngôn ngữ của các đồng chí, giống như lập luận của của ông Võ Tuấn Nhân, Thứ Trưởng Môi Trường & Tài Nguyên. Người ta lại đổ cho hiện tượng ''thủy triều đỏ'' là nguyên nhân cá chết hàng loạt. Quả thực la ''đồng đổ cho bóng, bóng đổ cho đồng".

Các quan to còn đóng kịch tắm biển và ăn cá tại Hà Tĩnh để trấn an mọi người.

Ai cũng biết phải ăn cá bị nhiễm độc kinh niên, ăn trong nhiều ngày mới bị nhiễm độc. Ăn biểu diễn trong vài giờ, không bị nhiễm độc nặng để có thể gây bệnh được.
Xin các ngài đừng tiếp tục dối gạt người dân như đã từng làm trong quá khứ.

Ngày 29/6/2016, sau các vụ biểu tình tại khắp mọi nơi kể cả ở Đài Loan, ở Nhật Bản, Công Ty Formosa nhận lỗi hoàn toàn.

Sau ''nhiều thương thảo'' Formosa xin bồi thường 500 triệu Mỹ Kim. Phía VN chấp nhận ngay số tiền 500 triệu.

Dân số của 4 tỉnh gần 4 triệu người. Nếu chia đều ra, mỗi người dân được độ 125 tới 150 dollars. Một sự ''bố thí cho ăn mày'' không hơn không kém trước một tương lai mờ mịt, kéo dài không biết đến bao giờ...
Chuyện chưa chấm dứt ở số tiền bồi thường 500 triệu Mỹ Kim:

* Người ta đã khám phá ra các địa điểm ở Hà Tĩnh được Formosa dùng để chôn các phế thải. Như vậy Formosa, ngoài việc đưa chất thải độc hại ra biển, đã chôn dấu chất thải trong nội địa tỉnh Hà Tĩnh.

* Báo Hoa Văn ở Hồng Kông đã tiết lộ về số tiền do Formosa thỏa thuận bồi thường là 2 tỷ 4 Mỹ Kim, không phải chỉ có 500 triệu Mỹ Kim. Số sai biệt 2 tỷ 4 - 500 triệu = 1 tỷ 9 đã đi về đâu?.

* Thảm họa môi trường ở 4 tỉnh ở Miền Trung không chỉ đơn thuần là làm cá chết hàng loạt mà cả các hệ sinh thái (systèmes écologiques, eco-system) ở vùng biển bị nhiễm độc nhất là hệ thống san hô đều bị tiêu hủy.
Có thể nói san hô là căn nhà chung của các loại hải sản. Nhờ các rặng san hô dưới đáy biển, hàng ngàn các loại hải sản có thể sinh sôi nẩy nở được. Mất san hô, các loại hải sản khó tồn tại được. Để tái tạo toàn thể rặng san hô ở ngoài khơi 4 tỉnh ở Miền Trung, các nhà khoa học cho rằng phải mất ít nhất 50 năm.
Tái tạo san hô không khó lắm nhưng đáy biển phải được tẩy sạch các chất độc như thủy ngân, cyanure... một công việc không phải dễ thực hiện.

Montréal, Canada, 1.10.2016

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Oct 17th 2016, 7:09pm)


393

Wednesday, October 5th 2016, 7:12pm

Nhận định:

Quyền lực chính là vũ khí sát thương hàng lọat. Nhà cầm quyền là một nhóm người đang xử dụng thứ vũ khí sát thương hàng lọat nầy, một thứ siêu vũ khí bao trùm mọi thứ vũ khí khác. Nhóm người cầm quyền nầy không cần phải cầm vũ khí trong tay vì họ đã có vũ khí tối thượng ở trong lòng. Không lạ gì những kẻ có tham vọng trước tiên là phải tranh đọat quyền lực. Bởi vì có quyền lực là có tất cả và có thể làm tất cả mọi chuyện. Có những kẻ trong bọn họ rất thích cái trò chơi làm Thượng Đế; muốn cho ai sống thì sống, muốn cho ai chết thì chết.

Cái bọn cầm quyền TC ngày nay cũng giống như cái bọn vua chúa Trung Hoa ngày xưa đang chơi cái trò chơi đó với dân tộc của các nước khác và với chính dân tộc của họ:
- Làm cỏ các dân tộc láng giềng bằng mọi cách. Mãn, Hồi, Mông, Tạng, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia, Việt Nam, Philippine...đều cũng nằm trong mưu toan tận diệt của chúng.... Chỉ có lâu hay mau, sớm hay muộn mà thôi !

Khổ nổi những nước nhỏ bé như Việt nam, Lào, Cam Pu Chia... kể cả Philippine thì thà chọn thái độ chui đầu vào rọ hơn là tìm đường sống trong cái chết. Và đó chính là ý muốn của cái bọn cầm quyền TC ngày nay: lùa tất cả con mồi vào rọ để từ từ xẻ thịt, như trăn nuốt mồi.

Tại sao Tổng Thống Philippine Rodrigo Duterte muốn bỏ Mỹ mà đi với TC ?
Có người cho rằng ông ấy là người của TC dựng lên. Điều nầy không có vẻ thuyết phục lắm vì xem ra tính khí của ông ấy là một con ngựa bất kham, khó lòng mà điều khiển được dù là Mỹ hay TC. Chẳng qua là ông ta bất mãn vì sự lừng khừng của Mỹ. Ông ấy cũng không tin Mỹ vì Mỹ có thể bán đứt đồng minh bất cứ lúc nào vì quyền lợi của mình. (Xem ra ông ấy có vẻ rất ác cảm với thế lực tài phiệt Do Thái)
Vậy thì tại sao phải để cho Mỹ "đi đêm" với TC bất chấp quyền lợi của Philippine ?
Tại sao Philippine không dành lấy quyền đối ngọai của mình để thương lượng trực tiếp với TC ?
Philippine có thể làm việc nầy vì nước của họ chưa bao giờ lệ thuộc TC, còn VN thì không thể.
Tuy nhiên, dù được cả thế gian mà "mất linh hồn cho qủy dữ TC" thì có ích chi ? vì cũng sẽ tiêu đời thôi !

Nhưng Mỹ chắc chắn sẽ "can thiệp thô bạo" vào nội bộ của Philippine để tìm cách "xử đẹp" ngài Tổng Thống tàn bạo nầy, dù trên nguyên tắc chính quyền Mỹ bị cấm âm mưu lật đổ một chính phủ nước ngòai. Như một hệ quả Mỹ sẽ cố hết sức để biến VN thành một "đồng minh" của họ. Tuy nhiên dù " thèm nhỏ dãi", VN cũng không dám nắm bắt cơ hội nầy để thay thế vai trò của Philippine. Vì sao ?
Đơn giản là vì TC đã cấy "sinh tử phù" vào VN từ lâu rồi !!!
" Bởi sa cơ giửa chiến trường (Vỏ Đông Sơ không đánh mà) thọ tiển"
Vậy thì người VN hảy tự mình nhổ lấy mủi tên nầy đi, kẻo không thôi dù có mọp sát đất thì "Vỏ Đông Sơ (cũng phải) đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà".
;( ;( ;( ;(

This post has been edited 7 times, last edit by "nguoi pham" (Nov 8th 2016, 6:51pm)


394

Friday, October 14th 2016, 6:25pm

John Kerry: 'Chỉ có chủ nghĩa tư bản' ở Việt Nam
BBC Tiếng Việt
13 tháng 10 2016


Hôm 29/9, phát biểu tại Washington DC, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry lại nhắc đến Việt Nam:

"Những gì đang diễn ra tại đây là không thể tin được. Hiện nay nhà cao tầng khắp mọi nơi, giao thông, người dân mặc quần jean xanh, đồ phương Tây, mong muốn giao lưu với thế giới. Lối sống thay đổi nhanh, có tầng lớp trung lưu, cơ hội đầu tư."

Ông John Kerry nhấn mạnh đến chuyển hóa thông qua ngoại giao:

"Nếu anh tiến hành chiến tranh, thì phải đánh nhau cho đúng, và sau chiến tranh thì cũng phải làm cho đúng. Tôi nghĩ chúng ta đã làm sai phần đầu, và làm đúng phần sau, và tôi rất tự hào về điều đó."


Nhận định:

Những lời lẽ của John Kerry nếu không dối trá thì cũng xảo quyệt, người Mỹ gọi là " full of bullshit" (tiếng ta gọi là thối mồm đấy).
Đúng, ở VN bây giờ là chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt (hay là hoang dã ?), có internet mà người dân được tiếp cận (thông tin lề phải?). Nhưng chính quyền Mỹ đã làm đúng cả phần đầu và phần sau, nếu xét theo quyền lợi của nước Mỹ. Hay nói đúng hơn là nếu xét theo quyền lợi của các thế lực tài phiệt của Mỹ ( trong đó thế lực tài phiệt Do Thái là mạnh nhất).
Các thế lực tài phiệt và các thế lực chính tri của Mỹ chỉ biết có quyền lợi của họ mà thôi. Họ chưa bao giờ cọi trọng quyền lợi của người dân VN ở VN, nếu điều nầy không phù họp với quyền lợi của họ. Chính trường quốc tế chính là chiến trường mang một bộ mặt khác mà mục tiêu tối thượng là làm bá chủ thế giới. Để dạt được ngôi vị bá chủ võ lâm nầy thì các cao thủ sẽ sẳn sàng tạo ra một trường gió tanh mưa máu. Cho nên những băng đảng lòng tong lột chốt sẽ bị tận diệt nếu lở thờ sai minh chủ.
Mà trước khi tranh hùng thì làm sao biết ai thắng ai bại ???
Nếu lỡ mà mình khi đắc thời đã gây nhiều nợ máu với thiên hạ thì khi gió đổi chiều mình phải trả nợ máu mà thôi !!!
Không thể trốn sang Tàu, mà qua Mỹ qua Tây thì cũng chưa chắc đã yên thân. May ra ở một nơi nào không có bóng dáng con người thì mới không sợ bị tầm cừu tuyết hận, tánh mạng của cả gia đình còn chưa giử được thì nói chi đến của cải tiến bạc.
Vậy tại sao không tỉnh ngộ mà ăn ở cho tử tế hơn ???

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Oct 17th 2016, 7:15pm)


395

Wednesday, October 26th 2016, 6:15pm

Những nghịch lý quyền lực của Tổng thống Duterte
Posted on 25/10/2016 by The Observer
Nguồn: Richard Javad Heydarian, “Contradictions of Duterte’s Presidency”, East Asia Forum, 04/10/2016.
Biên dịch: Trịnh Ngọc Phương Nguyên | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nhậm chức chưa đầy ba tháng, tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã phải đối mặt với một nghịch lý quyền lực. Duterte đã tập trung đủ quyền lực chính trị để tái cơ cấu và làm hồi sinh các thể chế yếu kém của nhà nước này. Ông nhanh chóng mở rộng quyền kiểm soát lên hệ thống chính trị, biến bản thân mình thành tổng thống quyền lực nhất tại Philippines kể từ khi chế độ Ferdinand Marcos sụp đổ.

Không lâu trước đó, Duterte từng bị coi là một kẻ ngoại đạo, không có chỗ đứng trong nền chính trị dòng chính của Philippines. Giờ đây ông đang nắm thế “siêu đa số” trong quốc hội, điều theo nhiều nhà phê bình đã biến quốc hội thành cơ quan “đóng dấu” cho các quyết định của tổng thống. Nhà lãnh đạo Philippines cũng đã “bẻ nanh vuốt” của một hệ thống tòa án vốn lâu nay thiếu ngân sách và yếu ớt, một cơ quan vốn đang nỗ lực nhằm kìm hãm chiến dịch chống ma túy triệt để của ông (trong đó có việc tiêu diệt tội phạm không qua xét xử – NBT).

Thật ra, trong vòng vài năm tới, Duterte sẽ bổ nhiệm đa số các thẩm phán tại Tòa án Tối cao, làm gia tăng ảnh hưởng của nhánh hành pháp đối với những người bảo vệ hiến pháp.

Với vai trò tổng chỉ huy quân đội, vị tổng thống Philippines mạnh mẽ cũng đã thực hiện một chiến dịch lôi kéo quân đội và các cơ quan hành pháp.

Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Philippines (PNP) đã hoan nghênh luận điệu chống tội phạm không khoan nhượng và sự hậu thuẫn vô điều kiện của ông dành cho cơ quan này. Ronald Dela Rosa, cựu phó thị trưởng thành phố Davao, hiện đang lãnh đạo Cơ quan này. PNP cũng đã hứa hẹn sẽ đem lại sự tiến bộ trong vấn đề lương bổng, trang thiết bị, đào tạo và bảo vệ nhân viên về mặt pháp lý.

Quân đội Philippines – thế lực trước đây thường có mối quan hệ căng thẳng với chính phủ – có vẻ như đã nghiêng về phía cựu thị trưởng Davao, người hứa sẽ tăng cường quyền lợi y tế và dịch vụ chăm sóc khẩn cấp, đồng thời tăng gấp đôi lương và đảm bảo chăm lo cho gia đình họ.

Trong một tháng, Duterte đã thăm 14 doanh trại quân đội, nhấn mạnh tầm quan trọng mà ông dành cho việc chiếm lấy trái tim và khối óc của những người lính. Gần như toàn bộ những bài diễn văn quan trọng của Duterte đều được phát biểu trước quân đội, rất nhiều trong số họ đã bị thuyết phục bởi lối nói chuyện cứng rắn của ông. Ông khẳng định rằng quân đội sẽ không bị bỏ qua khi bàn luận các vấn đề liên quan đến quốc gia, cụ thể là cuộc tấn công kiểu gây sốc của Duterte chống ma túy và tội phạm có tổ chức.

Duterte cũng đã gầy dựng quan hệ với xã hội dân sự, đa phần nhờ vào việc ông bổ nhiệm các nhà hoạt động môi trường hàng đầu và các nhà vận động cánh tả vào nội các.
Thành phần tiến bộ của xã hội dân sự giờ đây sở hữu tầm ảnh hưởng chưa từng có trong một số Bộ, bao gồm Bộ Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, và Bộ An sinh và Phát triển Xã hội.


Một điều rõ ràng là Duterte cũng rất nhận được nhiều ủng hộ của cử tri. Cuộc thăm dò gần đây nhất cho thấy mức độ ủng hộ đối với ông đang ở mức 91%, một mức cao kỷ lục. Mặc dù chỉ số ủng hộ của ông khó duy trì mức cao như thế trong tương
lai, việc Duterte quyết tâm triệt hạ nạn buôn bán ma túy đã nhận được sự ủng hộ của số đông, những người đã luôn mong mỏi một phong cách lãnh đạo kiên quyết hơn, nếu không muốn nói thậm chí là độc đoán hơn.


Tuy nhiên phong cách lãnh đạo dân túy kiểu chuyên quyền của Duterte lại vấp phải nhiều căng thẳng trong lĩnh vực đối ngoại, cụ thể là đối với phương Tây. Trong vài tuần qua, vị tổng thống Philippines hay vạ miệng đã lâm vào hết vụ tranh cãi này lại đến vụ tranh cãi khác về mặt đối ngoại, đầu tiên là với đại sứ Hoa Kỳ, tiếp theo là Tổng thống Mỹ Barack Obama, và gần đây nhất là Ủy ban Liên minh Châu Âu.

Tâm điểm của sự tranh luận là mối quan ngại ngày càng tăng của quốc tế đối với tình trạng nhân quyền của quốc gia trong bối cảnh Duterte đang quyết tâm loại bỏ vấn nạn ma túy trong nhiệm kỳ của mình.

Washington và Brussels – cùng với những nhóm bảo vệ nhân quyền, các cơ quan truyền thông quốc tế và địa phương, cùng giới trí thức theo tư tưởng tự do – ngày càng chỉ trích mạnh mẽ bất kỳ chính sách tận diệt nào để chống ma túy.

Thay vì nhượng bộ, chính quyền Duterte đã thề sẽ chuyển hướng các mối quan hệ quốc tế của Philippines khỏi phương Tây và hướng về các cường quốc phương Đông. Trước chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 10 của mình, Duterte đã bóng gió về khả năng gia tăng hợp tác quân sự với cường quốc châu Á này, trong khi xóa bỏ việc tuần tra chung cùng Mỹ trên Biển Đông.

Nhà lãnh đạo Philippines thậm chí đã đe dọa trục xuất Lực lượng Đặc biệt Mỹ khỏi đảo Mindanao vốn vẫn còn nhiều xung đột, nơi binh sĩ Philippines đang leo thang cuộc chiến chống các nhóm cực đoan.

Giữa những biến động ấy, thị trường chứng khoán đã rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều tháng vì sự gia tăng bất định chính trị, với việc các tập đoàn lớn cảnh báo về những hệ lụy kinh tế gây ra bởi cuộc chiến chống ma túy của Duterte và sự đối đầu với phương Tây.
Các cơ quan xếp hạng tín dụng hàng đầu như Standard & Poor đã ra cảnh báo về tình trạng suy giảm mức độ dự đoán được trong chính sách của chính quyền mới vốn đang cố gắng tập trung vốn liếng chính trị vào những ưu tiên khẩn cấp nhất.

Tuy nhiên, chính quyền Duterte được dự đoán sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ lớn của công chúng cũng như có được ảnh hưởng lớn lên các thể chế trong tương lai.

Nhiều người hy vọng rằng Duterte sẽ dần chuyển hướng sự chú ý sang những thách thức then chốt như phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư và xóa đói giảm nghèo khi ông bắt đầu hiểu hơn về những yêu cầu trong việc điều hành đất nước.

Richard Javad Heydarian là Giáo sư Trợ lý về Khoa học Chính trị tại Đại học De La Salle, Manila.
[font='&quot'][/font]

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Oct 26th 2016, 6:24pm)


396

Wednesday, October 26th 2016, 7:19pm

Nhận định:

Trong cuộc sinh tồn, con người phải đối diện với nhiều nan đề của đời sống mà mục tiêu không phải là làm sao để sẽ không còn một nan đề nào trong tương lai. Ước muốn nầy rất mãnh liệt nhưng không tưởng. Không bao giờ nhân lọai có có thể triệt tiêu mọi nan đề trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống tập thể. Nều nan đề không còn nữa tức là nhân lọai đã chấm dứt sự tiến hóa, tức là nhu cầu và khả năng thích nghi với môi trường biến đổi sẽ không còn tồn tại.

Vì vậy khi đứng trước một nan đề điều quan trong nhất là cách thức ứng xử mà ta đã lựa chon. Đó là gỉải pháp và thứ tự ưu tiên khi ta tiếp cận nan đề cũng như hiệu quả của nó.
Chuyện kể rằng:
Một bửa nọ Quỷ Cốc Tử (Gui Guzi-鬼谷子) đem hai cuộn chỉ rối đến cho Bàng Quyên và Tôn Tẩn và yêu cầu hai người làm thế nào để làm tháo chúng ra. Tôn Tẩn thì mày mò gở rối, còn Bàng Quyên thì cắt nát nó ra rồi vất đi. Khi thầy hỏi tại sao làm vậy thì Bàng Quyên trả lời rằng cuộn chỉ rối thì chằng còn dùng được việc gì nữa thi cắt nát mà vứt đi chứ tốn công mà làm gì .

Ma Túy là một nan đề lớn của Philippine và dẹp bỏ nó là một cuộc nội chiến thực thụ nhưng ở một cấp độ ít qui mô hơn.
Do đó cần phải quyết tâm và quyết liệt tiến hành không nhân nhượng, nhưng ngay cả trong chiến tranh, quy ước quốc tế là các bên xung đột phải tránh không gây thương vong cho thường dân và đối với tù hàng binh thì phải đối xử nhân đạo và tôn trong nhân phẩm của họ theo qui ước quốc tế về tù binh.

Cảnh sát Philippine dưới quyền điều động của Tổng Thống Duterte có thể đối xử đúng đối những kẻ ra đầu thú. Nhưng ai biết được trong số những người bị giết chết trên đường phố với tội danh buôn bán ma túy có bao nhiêu người là dân thường vô tội ?
Nhỡ họ bị giết oan thì sao? ai sẽ đền bù được mạng sống của họ và thiệt hại vật chất cũng như tinh thần của gia đình họ ???

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Nov 8th 2016, 7:00pm)


397

Thursday, October 27th 2016, 5:35am

Cũng thế tham nhũng là một nan đề lớn và trở thành quốc nạn cho những nước theo chế độ độc tài tòan trị dù là cộng sản hay không cộng sản. Bởi vì ở những nơi đó quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một người hay một nhóm người mà không thể gặp một sự thách thức nào. Không có một cơ chế kiểm sóat nào mà cũng không có một sự cân bằng nào. Chỉ có những phe đảng thanh trừng lẫn nhau mà thôi. Vậy khi nhà cầm quyền của những nước nầy hô hào diệt trừ tham nhũng thì thuần túy chỉ là giành ăn và "thanh lý môn hộ" mà thôi! Thực đúng với những câu nói:
"Diệt hết tham nhũng thì lấy ai mà làm việc ?"
"Diệt tham nhũng là ta đánh vào ta"
Hóa ra tòan là một lũ tham quan ô lại. Tham nhũng cũng là ta, mà chống tham nhũng cũng là ta.
Vậy có thể nào ta bỏ tù ta hay ta xử bắn ta không ?
Rồi của cải tịch biên được của tham nhũng thì biết bỏ vào đâu ?
Hay của ta (khác phe) lại chạy vào túi của ta (cùng phe) ? giống như mỗi lần mà vua Càn Long sai Vi Tiểu Bảo đi diệt trừ nghịch tặc là một phen để cho hắn có dịp phát tài.

Vậy thì nước Nam ta hóa ra "tuy đất nước có lúc chia đôi, có khi thống nhất, nhưng tham nhũng thời nào cũng có !"
Nan đề vẫn còn đấy nhưng ngày một trầm trọng hơn. Tham nhũng cũng như mại dâm muôn đời vẫn còn tồn tại. Chỉ khác nhau là tham nhũng thì " bán miệng (tuyên truyền dối trá) để nuôi trôn (mua dâm, chơi bời sa đọa)".

Vậy thì điều quan trọng là các anh chọn phương cách nào để quản lý hay kiềm chế tham nhũng một cách hiệu quả ngòai việc "bán miệng" như bọn tham nhũng? ( cái đó Mỹ nó gọi là "lip service", còn người miền bắc gọi là "đĩ miệng" đó).

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Nov 2nd 2016, 6:45am)


398

Thursday, October 27th 2016, 5:52am

Những trợ thủ mới của Tổng thống Putin
Posted on 25/10/2016 by The Observer
Nguồn: Andrei Kolesnikov, “All the President’s Eunuchs”, Project Syndicate, 01/09/2016.
Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Tổng Thống Nga Vladimir Putin đã thanh lọc một cách bài bản các cố vấn thân cận và lâu năm nhất của mình.

Lần gần đây nhất – nhưng chắc chắn chưa phải là cuối cùng – nạn nhân là Sergei Ivanov, một cựu điệp viên KGB (giống như Putin) đồng thời là cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người vừa bị buộc phải rời khỏi vị trí Chánh văn phòng Điện Kremlin.

Ivanov, một nhà hoạch định chính sách tương đối quyền lực, đã bị thay thế bởi một nhân vật không quyền không lực: cựu lãnh đạo của Cục Lễ tân (Protocol Schedule Directorate), Anton Vaino.

Tương tự như vậy, Bộ trưởng Bộ giáo dục và Khoa học, Dmitry Livanov, đã bị sa thải và thay thế bằng một “cán bộ” không có gì nổi bật là Olga Vasilyeva, một nhân vật nữ hiếm hoi được bổ nhiệm vốn chỉ được biết đến nhờ quan điểm Stalinist của bà (hãy tưởng tượng Tổng thống Pháp trao một vị trí nội các quan trọng cho một quan chức cấp trung từ đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia).

Như thường lệ, ông Putin không đưa ra lời giải thích thực sự cho những thay đổi này, khiến các nhà nghiên cứu chính trị nội bộ Nga (Kremlinologists) – những người đã có mảnh đất mới để nghiên cứu dưới thời Putin – không phải làm gì nhiều ngoài việc chỉ ra một mô hình rõ ràng: những người có thể nói chuyện một cách ngang hàng với Tổng thống đang bị thay thế bởi những người do chính ông tạo ra, và đang mắc nợ ông sự nghiệp của họ.

Tại sao lại là bây giờ?

Theo một thành viên thân cận với Putin trong những năm đầu chế độ của ông, cuộc thanh lọc mới nhất đơn giản chỉ phản ánh ý tưởng về việc quản lý hiệu quả của Tổng Thống. Nhiều năm về trước, trong một cuộc họp giữa Putin và các “đại diện toàn quyền” tại các khu vực của ông- những người có nhiệm vụ thiết yếu là giám sát các thống đốc vùng- một người tham dự đã hỏi Tổng thống rằng ông sẽ mô tả thế nào về vai trò của các đặc phái viên này. Ông trả lời rằng:

“Ồ, họ có nghĩa vụ như một loại … sĩ quan liên lạc.”

Nói cách khác, Putin kỳ vọng các thành viên trong nhóm của mình phải trung thành, tuân theo mệnh lệnh như những người lính, và truyền tải hiệu quả nguyện vọng tối cao xuống cấp dưới. Điều này giải thích cơ cấu của những người mới được bổ nhiệm – gồm cá nhà kỹ trị và các sĩ quan từ lực lượng quân đội và an ninh, được gọi là siloviki– những người được Putin chuẩn bị để đóng vai trò là giới lãnh đạo tinh hoa của Nga sau cuộc bầu cử năm 2018.

Và đừng có nhầm lẫn: tuổi đời tương đối trẻ của giới tinh hoa mới của Putin không có nghĩa là họ sẽ dân chủ hơn. Không có người mới được bổ nhiệm nào của ông đi theo quan điểm dân chủ; trên thực tế, họ không thể hiện bất kỳ cam kết hay khát vọng nào về mặt lý tưởng cả. Họ đơn giản là điều mà nhà lãnh đạo Chechnya và người trung thành với điện Kremlin Ramzan Kadyrov gọi là “những người lính của Putin.”

Nhiều cộng sự cũ đang bị loại bỏ dưới những lý do và phương thức khác nhau. Ví dụ, Ivanov- nhân vật mà 10 năm trước được nhiều người cho là có khả năng kế vị Putin- đã được giao cho một công việc mới: “Đại diện đặc biệt của Tổng thống về Bảo vệ Môi trường, Sinh thái và Giao thông.”

Còn người đứng đầu Cục Hải quan Liên bang, Andrey Belyaninov, đã rời văn phòng trong sự tủi nhục sau khi cảnh sát khám xét tư dinh sang trọng của ông và phát hiện những hộp giầy chứa đầy tiền.

Putin hiểu rằng những tay chân cũ của mình đã mỏi mệt, kém hiệu quả, thường giàu có quá mứcthoải mái tham nhũng, đây không phải là điều ông cần cho một nhiệm kỳ Tổng thống mới.

Điều ông cần bây giờ là những “sĩ quan liên lạc” trẻ hơn một chút, những người sẽ thực hiện các mệnh lệnh của ông mà không hỏi han. Các thành viên trong lực lượng thân hữu mới của Putin đã xem bản thân như những thuộc hạ trung thành, đồng thời, khác với các tay chân cũ, họ không kỳ vọng Tổng thống sẽ trở thành bạn của mình.

Thật khó để biết được điều gì sẽ xảy đến với những thành viên còn lại trong nhóm thân hữu cũ của Putin. Một số nhân vật – nh Sergey Chemezov, CEO của tập đoàn quốc phòng và công nghệ cao quốc gia Rostec, và vị “hồng y mặc áo xám” (tức người gây ảnh hưởng ngầm từ sau hậu trường – NBT) của điện Kremlin, Igor Sechin, chủ tịch điều hành của công ty dầu quốc doanh Rosneft – vẫn giữ những vị trí quyền lực và không có vẻ là sẽ tự nghỉ hưu.
Tuy nhiên Putin vẫn còn nhiều thời gian để thực hiện ý nguyện của mình – 18 tháng cho tới cuộc bầu cử Tổng thống và sau đó là nhiệm kỳ 6 năm. Cùng lúc, bằng việc bổ nhiệm một nhân vật siêu bảo thủ làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông đang bổ sung vào lực lượng thân hữu mới vốn đầy những nhân vật của giới quân sự những quan chức tầm trung đang giữ lập trường biệt lậpđế quốc chủ nghĩa cực đoan.

Điều này sẽ không chỉ làm tổn hại tới bất cứ thành tựu tự do hóa nào còn sót lại từ thời Boris Yeltsin, mà còn tới những tiến bộ xã hội hạn chế trong suốt giai đoạn cầm quyền của ông.

Bản năng tự bảo vệ bản thân sáng suốt của Putin dường như là thứ duy nhất ngăn ông không loại bỏ vài thành viên trung thành theo tư tưởng tự do – những người vẫn đang giữ những vị trí kinh tế trọng yếu trong chính phủ. Những người này gồm có Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Alexey Ulyukayev, Bộ trưởng Tài chính Anton Siluanov, và người đứng đầu Ngân hàng Trung ương Nga, Elvira Nabiullina.

Kể cả nếu những quan chức này vẫn ở nguyên vị trí trong nhiệm kỳ Tổng thống mới của Putin, chúng ta có thể chắc chắn rằng ông sẽ không bổ nhiệm một thành viên quan trọng nào trong nhóm những người theo tư tưởng tự do, như cựu Bộ trưởng Tài chính Alexey Kudrin, để thay thế Dmitry Medvedev làm Thủ tướng. Chiến lược nhân sự hiện tại của Putin cho thấy rằng ông sẽ lựa chọn một kẻ máu lạnh – một người giống như Vaino.

Một điều chúng ta có thể chắc chắn là chính sách đối ngoại và đối nội của Nga sẽ không thay đổi, và rằng nó sẽ tiếp tục được quyết định bởi Putin. Phủ Tổng thống là cơ quan duy nhất ở Nga đến thời điểm này chưa bị suy yếu, vậy nên Tổng thống sẽ là người ra mọi quyết định chủ chốt. Những người khác sẽ chỉ là những sĩ quan liên lạc mà thôi.

Andrei Kolesnikov là nghiên cứu viên cao cấp và là Chủ tịch Chương trình nghiên cứu Chính trị nội bộ và Thể chế chính trị Nga tại Trung tâm Carnegie Moskva.

399

Wednesday, November 2nd 2016, 7:45am

Nhận định:

Ở trong nước, có người bảo rằng:
- Nếu bọn cầm quyền TC mà thấy VN lọt khỏi qũy đạo của chúng thì chúng sẽ cất quân qua xâm chiếm VN ngay, cũng giống như Nga đã từng xâm chiếm Tiệp Khắc hồi xưa và Cremia bấy giờ. Vậy là ta sẽ mất nước ngay tức khắc, còn để yên thì ta cũng sẽ bị mất nước nhưng chậm hơn.

Ngừoi khác lại bảo rằng:
- Bọn cầm quyền TC dạy dân của chúng nó từ tấm bé để nhất quyết tin rằng: VN là một tỉnh ly khai của Trung Quốc, cũng như Đài Loan, nên nhất thiết phải thu hồi. Mà VN chỉ có 90 triệu dân, còn bọn chúng có1 tỷ rưởi người thì làm sao mình cải lại.

Đây chính là những tư tưởng chủ bại, khiếp nhược và phản phúc mà bọn chúng, những "thế lực thù nghịch, phản động và bán nước", muốn nhồi nhét vào đầu óc quật cường và bất khuất của dân tộc VN. Nếu người VN nghĩ như chúng bây thì bây giờ nước VN không hề hiện diện trên bản đồ thế giới. Nếu nói như chúng bây thì cũng sẽ không có cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chúng bây phải hiểu rằng:
- Bất kỳ một nhà nước VN nào mà dám công khai khấu đầu trước bọn Trung Nam Hải chúng bây thì nhà nước đó tức khắc sẽ bị dân VN tru diệt đến không còn tàn tích.

Chúng bây phải khắc cốt ghi tâm rằng:
- Dân VN đủ sáng suốt để mà chẳng thà chấp nhận một cuộc chiến chống xâm lăng một mất một còn với chúng bây, còn hơn là nhắm mắt buông tay để bị chúng bây diệt chủng.
- Dân VN cũng thừa biết chúng bây không đủ kiên nhẫn và khôn ngoan để đồng hóa người VN, mà chúng bây chỉ muốn đuồi tận giết tuyệt người VN mà thôi.

Chúng bây cũng đừng mong ru ngủ dân VN như trong mấy chục năm qua.
Chúng bây học lóm Kinh Dịch của người VN mà không biết rằng thiên kinh vạn quyển của chúng bây cũng không dạy cho dân của chúng bây thấy được cái lẽ huyền vi của một nét trong bộ kỳ thư nầy.
Đó là "hào động" đấy !
Chỉ một nét đơn sơ thôi, dù âm hay dương, cũng sẽ làm chuyễn biến cả bộ máy càn khôn đấy!
Hãy trả lời đi:
- Trong 90 triệu người VN ai sẽ là người mang bản thể của "hào động" ?
Nếu không chỉ ra được thì làm sao chúng bây diệt trừ được cái mầm mống tai họa nầy ?
Hay lại áp dụng chủ trương " thà giết lầm hơn bỏ sót " ?
Coi chừng không khéo lại "đổ dầu vào lữa" đấy!
Coi chừng lại làm sức đẩy hay thổi bùng lên ngọn lữa chống ngọai xâm và nội thù của người VN đang nổi lên.

Sẽ có một ngày:

"Một cánh tay đưa lên,
Hàng ngàn cánh tay đưa lên,
Hàng vạn cánh tay đưa lên,
Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính.
Đập phá tan mưu toan, đầu hàng cái quân xâm lăng.
Hoà bình phải trong vinh quang.
Đền công lao bao máu xương hùng anh…”
(Thề không phản bội quê hương)

Chúng bây cũng cần nên học lại bài học xương máu của cha ông chúng bây khi qua xâm chiếm nước VN. Chúng bây sẽ bị thãm bại và mang đầu máu chạy về như trận chiến năm 1979 đó. Những người chiến sĩ anh hùng đó và hậu duệ của họ vẫn còn đây với những vết thương lòng còn rỉ máu.
Chúng bây cũng phải biết tinh hoa dân tộc VN còn nhiều lắm, không thể tiêu diệt nỗi đâu. Đó là chưa kể mấy triệu người VN ở hải ngọai sẽ không để yên cho chúng bây đâu. Và hậu duệ của những người lính VNCH cũng đầy trí tuệ và mưu lược trên tầm vóc quốc tế chứ không hèn kém như chúng bây tưởng đâu.

Nói tóm lại: "Có ngon thì cứ nhào vô rồi sẽ biết tay nhau!"

This post has been edited 8 times, last edit by "nguoi pham" (Nov 6th 2016, 4:21am)


400

Sunday, November 6th 2016, 5:23am

Cuba : Raul phục hận Fidel sau 50 năm ẩn nhẫn chờ thời
Tú Anh
RFI
Thứ năm, ngày 22 tháng chín năm 2016

Sau gần nửa thế kỷ chấp hành mệnh lệnh của ông anh Fidel Castro, ngày 31/07/2006, Raul Castro lên làm quyền chủ tịch Cuba. Từ đó, Cuba dần dần biến đổi, cải cách kinh tế và tái lập bang giao với Hoa Kỳ, lật qua trang sử « cách mạng đối đầu » của Fidel Castro đẩy Cuba vào thế cô lập suốt 50 năm. Sơ kết mười năm cầm quyền của Raul Castro.

Tạm thay Fidel Castro bệnh tật vào năm 2006, Raul Castro phải chờ đến năm 2008 mới chính thức lên làm chủ tịch nước. Sau đó, phải đợi đến năm 2011, cha đẻ cách mạng Cuba mới chịu nhường chức vụ cuối cùng « lãnh đạo tối cao » cho người em.

Nhân đại hội đảng Cộng sản Cuba năm đó, một loạt 300 biện pháp cải cách kinh tế, mở cửa cho lãnh vực tư nhân trách nhiệm tự quản lý cho các công ty Nhà nước được thông qua.

Nhưng biến cố ngoạn mục nhất là trong lãnh vực ngoại giao. Ngày 17/12/2014, Raul Castro long trọng thông báo tái lập bang giao với Washington. Sau diễn văn, chủ tịch Cuba đưa tay gạt nước mắt, nhưng lập tức ông kiểm soát xúc động, không quay lại nhìn ông anh.

Sau 50 năm tuân lệnh Fidel một cách mù quáng, Raul, mà nhiều người cho là « thiên tài quân sự và tổ chức » đã dứt khóat đứng thẳng trước định mệnh của chính mình. Nhân danh chủ tịch Cuba, Raul vĩnh viễn quay lưng lại với Fidel, vi phạm một điều cấm kỵ của chế độ cộng sản Cuba, đó là dám phạm tội tày trời, hoà giải với « kẻ thù không đội trời chung » Yankee ( Mỹ) , nắm bàn tay của « tên trùm đế quốc số một » Barack Obama.

Vào thời điểm này, tuần báo cánh tả Pháp Người Quan Sát (l’Obs) đặt câu hỏi : Phải chăng « tiểu lãnh tụ » phục hận ?

Raul, người em nhút nhát, người em có biệt tài « xuyên tường », ở 83 tuổi, đã bẻ gẫy lời nguyền, tự giải phóng để mang lại nụ cười và hy vọng cho một dân tộc mỏi mệt, kiệt quệ vì một chế độ độc tài lố bịch.

Trong suốt nửa thế kỷ, tuy đeo sao trên cổ áo, Raul đóng nhiều vai trò phụ thuộc bên cạnh « tư lệnh tối cao ». Từ sĩ quan thuộc hạ, sĩ quan tùy viên, quản gia, bù nhìn, cầu nối với Matxcơva, giữ con cho ông anh, công tố viên, bình định viên. Lúc nào cũng sẵn sàng, lúc nào cũng sẵn lòng báo che những hành động điên rồ, lố lăng và tội ác của ông anh lãnh tụ ...

Thật ra, nếu xem xét kỹ càng cuộc đời chính trị của Raul, người ta sẽ hiểu vì sao ông biết nhẫn nại và thi hành sứ mệnh cho đến hơi thở sau cùng. Sứ mệnh đó là bảo vệ hình ảnh chế độ Castro và quyền lực bằng mọi giá cho đến khi hương tàn khói lạnh.

Vụ án ma túy Arnaldo Ochoa : giết bạn để cứu anh

Một trong những sự kiện, đúng hơn là một vụ án dàn dựng vào năm 1989, truy tố 47 sĩ quan và cán bộ, tử hình bốn người trong đó có tướng Arnaldo Ochoa, đại tá Antonio de la Guardia, thuộc lực lượng đặc biệt, hai cán bộ cao cấp của bộ Tài
Chính và bộ Nội Vụ với tội danh « phản quốc ». Bộ trưởng Nội Vụ José Abrante, cũng bị 20 năm tù với tội danh đồng lõa và sau đó bị ám sát trong nhà giam.


Vào năm 1989, Cuba lập một đường dây buôn ma túy với phương tiện là máy bay vận tải, 15 chuyến từ Colombia, đáp thẳng xuống các sân bay quân sự và dân sự Cuba mà « không ai hay biết », kể cả tổng tư lệnh tối cao Fidel Castro, bộ trưởng quốc phòng Raul. Mục đích của kế hoạch « dịch vụ đặc biệt này » là tìm ngoại tệ đôla.

Tuy nhiên, khi quan hệ giữa La Habana và các trùm ma túy Colombia sắp bị Washington tố cáo với quốc tế, Fidel Castro quyết định hy sinh các sĩ quan và cán bộ liên can. Thiếu tướng Arnaldo Ochoa, từng tổ chức nổi dậy ở Venezuela, nhưng thất bại, nguyên là tư lệnh lực lượng viễn chinh Cuba tại Angola, một người hùng của quân đội, cùng với 13 sĩ quan, đa số là khai quốc công thần từ năm 1959, bị kết án nặng nề , kẻ bị xử bắn, người bị giam cầm.

Giết tướng anh hùng

Vụ án này cho thấy Nhà nước Cuba quản lý đường dây ma túy. Tuy nhiên, không một nhà quan sát nào tin rằng một tướng lãnh như Arnaldo Ochoa, đứng đầu đường dây phạm pháp này. « Tòa » cũng không đưa ra được chứng cớ cụ thể.

Thế thì tại sao anh em nhà Castro lại giết tướng ?

Vụ này bắt nguồn từ hai nguyên nhân sâu xa. Theo nhà báo Pháp Serge Raffy, (l’Obs 15/04/2015), vào năm 1989, khi Liên Xô của Mikhail Gorbachev đổi mới, Raul Castro khuyên ông anh nên thừa cơ hội cải cách, nương theo lá bài Perestroika mở cửa Cuba cho giới đầu tư Mỹ. Thế nhưng nhà độc tài vẫn đóng kín trong tâm lý hoang tưởng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Nov 6th 2016, 5:32am)


5 users apart from you are browsing this thread:

5 guests

Similar threads