You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

41

Tuesday, June 16th 2015, 7:05am

Nhận định:

"TC có thể tính toán sai lầm như thế nào ? "

Qua các bài viết của nhiều tác giả đã được tham khào, chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi nầy như sau:

- Khi TC nhận thấy các cường quốc ngoại bang bố trí căn cứ quân sự ở vùng biên, có khả năng chiếm đóng lãnh thổ hay can thiệp vào tình hình nội bộ của Trung Quốc, họ đã gây ra chiến tranh hơn là ngồi nhìn mối nguy hiểm đang tụ hội.
( Ở Triều Tiên vào 1950, chống Ấn Độ 1962, tại biên giới Liên Xô 1969, và chống lại Việt Nam năm 1979. )

- Hệ thống trật tự thế giới hiện nay phần lớn được xây dựng mà không có sự tham gia của TC. Do đó, họ cảm thấy không bị ràng buộc lắm bởi các luật lệ của nó khi không phù hợp với ý muốn của họ.

- TC đã không còn coi Mỹ là một quốc gia đáng sợ, hay đáng tin nữa, những lời Mỹ cảnh báo TC do đó mất giá trị. Ngược lại TC rất tự tin về sự tiến bộ kinh tế và quân sự của họ.

- Mối thù của TC đối với Nhật Bản vẫn chưa được hóa giải, và cái nhìn khinh thị đối với các nước lân bang nhỏ yếu vẫn chưa được xóa bỏ.

Đây là một thái độ của những phú ông nông dân. Khi tài sản sung túc thì liền nghĩ ngay là mình có thể đứng đầu thiên hạ.
:thumbdown:

42

Wednesday, June 17th 2015, 5:05am

ĐÁNH THỨC RỒNG
Nguyễn Văn Nhã
( Tiếp theo )


Di sản của Mao và chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trong lúc đó nội bộ Trung Quốc cũng có nhiều vấn đề. Tinh thần dân tộc tự tôn của người Trung Quốc muốn các nước lân bang phải phụ thuộc vào ý muốn chính trị của họ (một hình thức triều cống), cũng như tinh thần cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Đông đe dọa tới sự ổn định của khu vực. Sự cố Bạc Hy Lai mất chức Bí thư Trùng Khánh không phải chỉ có ảnh hưởng trong nội tình Trung Quốc. Nó còn cho thấy mô hình Trùng Khánh theo chủ thuyết của Mao vẫn còn có đông người ủng hộ. Chính quyền Bắc Kinh đã phải cách chức Bạc Hy Lai vào tháng 3-2012, mặc dù họ muốn duy trì tinh thần đoàn kết trong giới lãnh đạo trước khi họp Đại hội Đảng lần thứ 18 (tháng 8-2012). Có một số người cho rằng Bắc Kinh đã phải mạnh tay với Bạc Hy Lai ( và kết án Chu Vĩnh Khang ) vì không muốn trở lại thời kỳ Mao trước kia, nhất là kinh nghiệm về các vụ lật đổ những nhà cải cách Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương chưa phai mờ trong ký ức giới lãnh đạo .

Trong một bài báo gần đây, John Garnaut 10 đã cho biết là Ôn Gia Bảo, sau khi họp Quốc hội Trung Quốc (15/3/2012) đã nhắc tới mối hiểm nguy của cuộc cách mạng văn hóa. Và ngày hôm sau, có tin Bạc Hy Lai bị cách chức. Ông Ôn (một trợ thủ thân cận của Cố Tổng Bí Thư Hồ Diệu Bang) đã cho thấy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết liệt với việc phân định ranh giới giữa “cải tổ chính trị” và “cách mạng văn hóa”, một di sản đáng buồn của lịch sử Trung Quốc..

Như một chuyên gia về Trung Quốc đã cho biết :
Mặc dù nền kinh tế Trung Quốc đã đạt tới cấp bậc siêu cường, nhưng cách suy nghĩ, triết lý chính trị của họ còn nằm ở mức trung bình trên thế giới11.
Điều này hàm nghĩa gì, nếu không phải là một tư duy dân tộc chủ nghĩa cực đoan, coi thường hạnh phúc và giá trị của những dân tộc khác trên thế giới, nhất là những quốc gia lân bang ?

Cuộc chiến giữa hai phe bảo thủ và cải cách ở Trung Quốc vào đầu năm 2012 đã cho thấy khá rõ rệt : Một bên là các nhà lãnh đạo Trung ương khóa 17, gồm cả Hồ Cẩm Đảo và Ôn Gia Bảo, chủ trương xây dựng một xã hội hài hòa, và nổi lên một cách hòa bình trên thế giới. Một bên là Bạc Hy Lai, dương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mao, tả khuynh.

Cuối cùng thì Bạc Hy Lai mất chức Bí thư Trùng Khánh, nhưng những người ủng hộ Bạc không phải đã chấm dứt hoạt động của họ. Thêm vào đó, giới quân sự, được hướng dẫn bởi những triết lý chính trị từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc luôn luôn nghĩ rằng quan điểm của họ là có cội nguồn lịch sử, có khuynh hướng đấu tranh bạo động. Họ không chấp nhận phương thức suy nghĩ duy lý theo kiểu châu Âu.

Đối với họ, phương Tây là đối thủ. Đây mới là điều đáng sợ, vì họ chủ trương rõ rệt “hiện đại hóa nhưng không Tây phương hóa ”, tức là họ từ chối cách suy nghĩ duy lý của phương Tây.

Khi người Mỹ nói : “ hai bên hợp tác cùng thắng ” (win win), người bảo thủ Trung Quốc có thể nghĩ ngay tới ý đồ Mỹ muốn lợi dụng hoặc bóc lột Trung Quốc. Đối với họ, không thể như thế được, nếu có người thắng phải có người thua; và họ không nề hà gì chấp nhận chiến tranh là giải pháp khả dĩ để giải quyết mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia. Đó là triết ý “ tổng bằng không ” (zero-sum game).

Đoàn phái và Thái Tử Đảng

Các nhà nghiên cứu Tây phương có khuynh hướng xếp loại các nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc làm hai phe, có nguồn gốc khác nhau :

Một phe là những người dòng dõi lãnh đạo cách mạng, được mệnh danh là Thái Tử Đảng, đảng của những vị thái tử, nói nôm na là con ông cháu cha. Cụ thể là Bạc Hy Lai, bí thư Trùng Khánh, và Tập Cận Bình, hiện nay là Phó Chủ tịch, và có triển vọng sẽ trở thành Chủ tịch Trung Quốc vào Đại hội Đảng lần thứ 18.

Phe thứ hai, là những người xuất thân khiêm tốn, phải trải qua chọn lọc của Đoàn Thanh niên Cộng sản. Phe này có rất nhiều người tiêu biểu, ví dụ Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Cách phân chia này có nhiều khuyết điểm. Thứ nhất, trong cả hai phe đều có nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau : Khuynh hướng cải cách, bao gồm có vẻ đa số, muốn cải cách kinh tế, và tiệm tiến cải cách hệ thống chính trị hiện nay của Trung Quốc ; đối nghịch lại là khuynh hướng bảo thủ muốn quay về những giá trị thời đầu cách mạng : đề cao ý thức hệ, bình đẳng giai cấp, dân tộc chủ nghĩa, tôn sùng lãnh tụ (Mao Trạch Đông)… Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng chính trị này mới là nội dung chính của chính trường Trung Quốc từ thời cách mạng văn hóa vô sản đến nay. Còn sự khác biệt giữa Đoàn phái và Thái tử Đảng chỉ có ảnh hưởng tương đối lên chính sách Trung Quốc.

Về phương diện đối ngoại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thuộc khuynh hướng cải cách có một tầm nhìn hiếu hòa và cầu thị hơn khuynh hướng bảo thủ. Theo mệnh lệnh của Đặng Tiểu Bình (1982) trước kia : “ Hãy giấu mình đi ”, Hồ Cẩm Đào đã đưa ra chủ thuyết “ xã hội hài hòa ”, và “ trỗi dậy hòa bình ”. Mục đích để tập trung phát triển kinh tế, tạo điều kiện quốc tế ổn định cho phát triển đất nước.
Ngược lại, phe bảo thủ nặng về khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, muốn đề cao những giá trị của Trung Quốc : văn minh lâu đời, cách mạng chủ nghĩa thường trực kiểu Mao Trạch Đông. Do đó, chính sách đối ngoại của phe bảo thủ mang tính cứng rắn, thích gây hấn, nguồn gốc tư tưởng bành trướng, bá quyền khu vực, và chống lại ảnh hưởng nói chung của phương Tây. Trong nhóm này, ngoài một số thái tử đảng có đặc quyền đặc lợi, phải kể thêm giới quân sự, nhiều người còn mang nặng tư duy thời chiến tranh lạnh, coi Tây phương như kẻ thù tiềm ẩn, coi lân bang như những chư hầu phải triều cống… Tự nhiên là nhóm bảo thủ này (nhiều khi cũng chỉ vì quyền lợi cá nhân) chống lại nhóm cải cách.
Ví dụ trong những năm 1980, Hồ Diệu Bang được Tiểu Bình đề nghị làm Tổng bí thư. Nhưng một nhóm lão tướng (Trần Vân, Bạc Nhất Ba, Lý Tiên Niệm…) đã chống đối chính sách mở cửa của Hồ Diệu Bang, và truất phế ông này vào năm 1987. Cái chết của Hồ Diệu Bang vào năm 1989 đã gây ra vụ mồng 4 tháng 6 (4-6) ở Thiên An Môn, xô xát giữa phe đổi mới, cải cách và phe bảo thủ.
Cũng trong vụ Thiên An Môn, Tổng Bí thư Triệu Tử Dương mất chức, vì tỏ ra hòa hoãn với phong trào đòi dân chủ. Ôn Gia Bảo là Chánh văn phòng của Hồ Diệu Bang vào lúc đó, cho nên ý thức rất rõ về tính quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa hai phe nhóm. Bạc Hy Lai, cũng có khuynh hướng muốn dùng phe nhóm bảo thủ để xây dựng uy tín cá nhân. Tại Trùng Khánh, ông quảng bá công khai những tư tưởng cách mạng của Mao, tổ chức những buổi “hồng ca” theo kiểu cách hồng vệ binh trước kia. Và chính cách làm này đã khiến giới lãnh đạo Bắc Kinh lo lắng, phải tìm cách khai trừ ông ra khỏi guồng máy lãnh đạo cao cấp, gây ra một sự cố chấn động chính trường Trung Quốc vào đầu năm 2012.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Nov 29th 2015, 6:42pm)


43

Wednesday, June 17th 2015, 5:37am

Chiến lược mới của Mỹ

Cho tới năm 2012, chính phủ Trung Quốc vẫn giơ cao khẩu hiệu “ giấu kín mình ” của Đặng Tiểu Bình, và “ xã hội hài hòa ” của Hồ Cẩm Đào. Nhưng khi sức mạnh kinh tế đã vượt trội các cường quốc khác, liệu Trung Quốc sẽ chọn lựa một chính sách gây hấn hơn không ?

Đó là vấn đề mà nhiều quốc gia lân bang của Trung Quốc đang đặt dấu hỏi. Các vụ tranh chấp lãnh hải với Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Philippines đã làm dư luận quốc tế sôi nổi về chính sách gây hấn của Trung Quốc trong những năm 2010, 2011. Đây là một minh chứng cho tư duy “ tổng bằng không ”, gây mất ổn định cho tình hình trong khu vực. Hậu quả là chính phủ Mỹ phải định hướng lại chiến lược quốc phòng của họ.


Sau biến cố 11-9-2001, nước Mỹ đã dấn sâu vào hoạt động báo thù. Nền kinh tế Mỹ lúc đó đang bay bổng, thị trường chứng khoán tăng không ngừng nghỉ, (chỉ số Dow Jones có lúc tăng lên tới 14.000 điểm – năm 2007), nợ công của Mỹ cũng tương đối thấp (66% GDP). Do đó, chính phủ Bush, với sự “ cố vấn ” của Phó Tổng thống Dick Cheney đã tiến hành hai cuộc chiến tranh trên bộ ở Iraq và Afghanistan. Nhưng sau gần 8 năm chiến tranh, phí tổn lên tới gần 3.000 tỉ USD, tạo một thâm hụt nặng nề cho ngân sách quốc gia. Cũng vào lúc đó (năm 2008) hệ thống tài chính Mỹ sụp đổ, kéo theo một cuộc khủng hoảng rộng lớn khắp thế giới. Chính phủ Mỹ phải phát hành thêm 3.000 tỉ USD tiền mặt để cứu trợ các ngân hàng. Hậu quả đã làm mất giá đồng USD, và làm cho giá vàng thế giới tăng mạnh. Những chi phí này cộng lại đè nặng lên ngân khố Mỹ, đe dọa trầm trọng lên toàn bộ tương lai nền kinh tế.

Năm 2009, chính phủ Mỹ quyết định rút quân khỏi Iraq và Afghanistan, nhưng đã quá trễ. Từ đỉnh cao thành tựu kinh tế, nước Mỹ đã trở thành con nợ lớn nhất thế giới (14.000 tỉ USD, tương đương khoảng 100% GDP), và người chủ nợ lớn của Mỹ lại là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh như vậy, các chuyên gia chiến lược của Mỹ đã đề nghị phải cắt giảm chi tiêu quân sự, để lấy tiền trả nợ. Và thay thế chiến lược “ triển khai tiền phương ” bằng chiến lược “ cân bằng ngoài khơi ”, chỉ sử dụng tới không quân và hải quân cho bớt tốn kém.

Đã có một số chuyên gia đề nghị nước Mỹ nên trở lại chủ thuyết Guam của Nixon (1969). Theo đó, Mỹ không triển khai quân đội mà chỉ hỗ trợ kinh tế khí tài cho các quốc gia lân bang của Trung Quốc ; còn nhân lực, các quốc gia sở tại tự lo liệu lấy.

Nhưng vì lo sợ ảnh hưởng của Trung Quốc tăng lên ở châu Á, người Mỹ đã phải tiếp tục duy trì đạo quân 50.000 người ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Không những thế, một số chiến lược gia Mỹ vẫn nghĩ là phải làm sao kiểm soát được vùng Tây Thái Bình Dương. Bà Hillary Clinton, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, đã đưa ra ý kiến “ Thế kỷ 21 phải là Thế kỷ Thái Binh Dương của Mỹ ”, để đối chọi lại đề nghị của Hải quân Trung Quốc, vùng biển từ Nhật Bản tới Guam, xuống tới New Guinea ở phía Nam Thái Bình Dương là của Trung Quốc 12.

Chiến lược gia người Mỹ gốc Ba Lan, Zbigniew Brzezinski đã đề nghị một chiến lược mới cho nước Mỹ : Cân bằng phương Đông và nâng cấp phương Tây. Phương Tây của ông bao gồm cả châu Âu, Nga, Mỹ và Nhật Bản, Hàn Quốc. Cân bằng phương Đông là Mỹ phải trợ giúp các nước lân bang Trung Quốc đối trọng lại sức mạnh của Trung Quốc. Điều đó có nghĩa rõ rệt là người Mỹ chưa tin vào chế độ của Bắc Kinh. Chỉ khi nào Trung Quốc cho thế giới thấy họ đã hòa nhập hẳn vào lối sống của thế giới, từ tính minh bạch trong chính sách tới sự ôn hòa trong chính trị đối ngoại, lúc đó, may ra có triển vọng trấn an được các quốc gia lân bang và duy trì ổn định cho khu vực.

Còn như nếu Trung Quốc không cải tổ được như đề nghị của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, có khả năng sẽ gây ra xung đột vũ trang với các nước nhỏ trong khu vực và lúc đó uy tín của Trung Quốc sẽ không còn nữa đối với thế giới.


Nếu Trung Quốc còn được lãnh đạo bởi những người có tinh thần dân tộc cực đoan, mối lo ngại của các quốc gia lân bang sẽ không giảm, và như thế sự phát triển kinh tế của Trung Quốc khó lòng có được môi trường hòa bình, ổn định. Hơn thế nữa, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng biết rằng một sa sẩy trong quan hệ quốc tế, sẽ làm giảm rất nhiều uy tín của Trung Quốc, và như vậy làm thiệt hại cho chính sách ưu tiên phát triển kinh tế của họ.

Sống chung với Rồng

Nhiều người đã phê phán Kissinger tính toán sai lầm khi đưa Nixon qua gặp Mao vào năm 1972. Đáng lẽ lúc đó, kinh tế Trung Quốc bi đát, Mao phải qua Mỹ để nhờ viện trợ mới phải 13. Nhưng, lúc đó, theo truyền thống từ thời Roosevelt, Kissinger đã đánh thức Con Rồng tỉnh dậy. Trong mấy chục năm nay, thế giới đã phải vơ vét mọi nguồn tài nguyên để nuôi Rồng. Bây giờ Rồng đã trưởng thành. Các nước Đông Á, Đông Nam Á, và có lẽ cả thế giới đã phải cảnh giác, tìm phương cách thích hợp để sống chung với Rồng 14. Kissinger đúng hay sai, tùy theo từng quốc gia, vào từng thời điểm, người ta có thể đánh giá ông. Nhưng cũng phải chờ một thời gian dài trước khi lịch sử đánh giá chính xác công trình hợp tác với Trung Quốc của ông.


Ghi Chú:

1 Hồi ký Winston Churchill, nxb Văn hóa Thông tin, 2002.

2 Gerhard Weinberg, The World at Arm, Cambridge Press. 2010.

3 Mặc dù lý do chính do chính phủ Mỹ đưa ra là Mỹ hợp tác với Trung Quốc để bao vây Liên Xô.

4 Tham khảo Thống kê biến thiên dân số toàn cầu của Angus Maddison, cho thấy từ 1958-1962, số tăng dân số của Trung Quốc có một lỗ hổng khoảng 15 triệu người mỗi năm, trong 4 năm.

5 Coi thêm Chu Dung Cơ,
Nguyễn Doanh Hải biên soạn, nxb Công an Nhân dân, 2007.



6 Coi thêm : Dennia Blasko, Analysis of China 2011’s defense budget and total military spending, China Brief, ngày 10-3-2011.

7 Jane Perlez, Chinese insider offer rare glimpse of US-China friction, New York Times 2-4-2012. Sách của Wang Jisi và Kenneth Lieberthal :Addressing US-China Strategic Distrust, Brookings Institution, 2012.

8 Phong trào canh tân đất nước của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên. Ảnh hương qua Việt Nam là phong trào Đông Du và Khai Dân Trí của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.

9 Nicholas Lardy, Sustaining China’s Economic Growth after the Global Financial Crisis, Peterson Institute for International Economics, 2012.

10 Năm 1987, Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang đã bị phe bảo thủ cách chức, và sau này cái chết của ông (1989) đã dẫn tới tấn thảm kịch Thiên An Môn. John Garnaut đã coi đây là một hành động báo thù của Ông Ôn (phe cải cách) đối với phe bảo thủ theo Mao của Bạc Hy Lai, mà người cha (Bạc Nhất Ba) đã từng tham gia vào việc truất phế Hồ Diệu Bang.

11 Tư duy trung bình : Xem thêm bài Sự cô đơn của một Siêu cường, chương 4, của Tào Tân (Cao Xin). Một minh chứng hiện nay là số du học sinh Trung Quốc tại Mỹ lên tới 150.000 người, trong đó có khoảng hơn 15.000 người học tại Kennedy School of Gorvernment.

12 Năm 1980, Đô đốc Lưu Hoa Thanh (về sau làm Phó Bí thư Quân Ủy Trung ương Trung Quốc) đưa ra chiến lược kiểm soát vùng biển này. Xem thêm bài China’s naval ambition của Olivier Zajec, tháng 9-2008, Le Monde diplomatique. Có dịch trong sách Trung Quốc sau Khủng hoảng, nxb Trí thức Ha nội, 2011.

13 Coi bài Henry Kissinger’s miscaculation may have kept Mao Zedong in power, theaustralian.com

14 Giống như tại Đồng bằng sông Cửu Long, người dân vẫn có thói quen “sống chung với lũ”.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 17th 2015, 5:55am)


44

Thursday, June 18th 2015, 7:13am

CÁC CƯỜNG QUỐC QUÂN SỰ TẠI THÁI BÌNH DƯƠNG
QUỐC GIA HÀNH CHÁNH
Trọng Đạt


Mười nước có lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới gồm Mỹ, Nga, Trung Cộng, Ấn Độ, Anh, Pháp, Đại Hàn, Nhật, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ (1).

Mỹ vẫn đứng đầu về quân sự trên thế giới hiện nay, ngân sách quốc phòng Mỹ nay là 577 tỷ Mỹ kim, nhiều hơn ngân sách của tất cả các cường quốc quân sự khác cộng lại, số máy bay quân sự của Mỹ nay gần 14,000 cái, bằng số máy bay của tất cả 9 cường quốc quân sự trên thề giới cộng lại.

Về máy bay quân sự:

Mỹ có 13,892 chiếc,
Nga 3,429,
Trung Cộng 2,860,
Ấn Độ 1900,

Đại Hàn 1,412,
Nhật 1,613,
Anh 936,
Pháp 1,264…

Về hàng không mẫu hạm:

Mỹ là nước duy nhất hiện nay có một lực lượng hàng không mẫu hạm hùng hậu và tối tân nhất thế giới, một vũ khí không lổ vô cùng lợi hại vì nó có thể mang hỏa lực tới mọi nơi trên thế giới. Nay chỉ có Mỹ đủ khả năng xử dụng hàng không mẫu hạm, nó vô cùng tốn kém và đòi hỏi một trình độ cao về khoa học quốc phòng.

Nước Nhật năm 1922 đóng hàng không mẫu hạm đầu tiên Hosho, họ chú ý đặc biệt tới loại tầu không lồ này, khi bắt đầu Thế chiến thứ hai, hải quân Nhật có 10 hàng không mẫu hạm tối tân và mạnh nhất hồi đó, Mỹ có 7 chiếc, Anh có 8 chiếc. Trận Trân Châu Cảng cuối năm 1941 gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, nó đã mở đầu cho một thời đại mới: Thời đại tầu sân bay.

Mỹ có 10 chiếc hàng không mẫu hạm tối tân khổng lồ, trọng tải trên 100,000 tấn,
Ấn Độ có hai chiếc, trọng tải dưới 40,000 tấn.
Pháp có 4 chiếc dưới 30,000 tấn cũ kỹ chỉ có tính cách tượng trưng.
Trung Cộng có 1 tầu sân bay trọng tải 33,000 tấn.

Các cường quốc khác có một số ít hàng không mẫu hạm loại nhỏ, cũ trọng tải dưới 40,000 tấn như Ấn Độ.

Trở lại tình hình các cường quốc quân sự châu Á Thái Bình Dương gồm Mỹ, Trung Cộng, Ấn Độ, Nhật, Đại Hàn.

Mặc dù không thuộc châu Á nhưng Hoa Kỳ có nhiều đồng minh và tự nhận là một cường quốc tại đây. Mấy năm gần đây Tập Cận Bình chủ trương bành trướng bá quyền nước lớn, đe dọa an ninh khu vực khiến các nước trong vùng đã phải tăng cường quốc phòng để tự vệ.

Xin sơ lược tình hình quân sự các cường quốc Á châu Thái Bình Dương:

Mỹ:
xe tăng 8,850;
thiết giáp 41,020;
đại bác 3,200;
máy bay quân sự 13,892;
chiến hạm 473 tầu;
hàng không mẫu hạm 10;
ngân sách quốc phòng 577 tỷ (Mỹ kim)

Trung Cộng:
xe tăng 9,150;
thiết giáp 4,788,
đại bác 8,000;
máy bay quân sự 2,860;
tầu chiến 673;
hàng không mẫu hạm 1;
ngân sách quốc phòng 145 tỷ.

Ấn Độ:
xe tăng 6,664;
thiết giáp 6,704;
máy bay quân sự 1,900;
đại bác 7,600;
tầu chiến 202;
hàng không mẫu hạm 2;
ngân sách quốc phòng 38 tỷ

Đại Hàn:
xe tăng 2,380;
thiết giáp 2,660;
đại bác 7,364;
máy bay 1,412;
tầu chiến 166;
ngân sách quốc phòng 33 tỷ.

Nhật:
xe tăng 678;
thiết giáp 2,800;
đại bác 700;
máy bay 1,613;
tầu chiến 131,
hàng không mẫu hạm 2;
ngân sách quốc phòng 41 tỷ.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 19th 2015, 5:54am)


45

Thursday, June 18th 2015, 7:27am

Nay các nước Cộng sản Trung Cộng, Bắc Hàn cũng như nước CS cũ Nga trở thành những nước độc tài cá nhân do một người nắm quyền như thời Staline, Mao Trạch Đông.

Tập Cận Bình lên nắm chính quyền nước Tầu từ mấy năm nay hiện là nhà lãnh đạo nhiều quyền lực nhất từ thời Đặng Tiểu Bình.

Năm 2002 ngân sách quốc phòng Trung Cộng khoảng 20 tỷ Mỹ kim, 10 năm sau 2012 đã tăng lên trên 100 tỷ, khoảng gấp 5 lần (2).

Nay Hoa Lục công khai chính sách bành trướng tại biển đông khiến các quốc gia trong khu vực lo ngại. Họ lấn chiếm quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, kiến tạo đảo nhân tạo, lập căn cứ quân sự, vạch một đường lớn giữa hải phận quốc tế theo hình lưỡi con bò rồi nhận là hải phận của mình. Họ ban hành lệnh cấm máy bay các nước khác không được vi phạm không phận quốc tế mà họ coi là của mình. Trung Cộng ngày càng lộng hành cho tầu chiến bắt bớ, bắn phá tầu đánh cá các nước trong vùng.

Sự tranh chấp lãnh hải đã khiến các nước trong khu vực lo ngại và tăng ngân sách quốc phòng chống lại bá quyền nước lớn. Nước Nhật trước đây núp dưới cây dù nguyên tử Mỹ nay cũng tăng cường quốc phòng để đối phó, nhất là từ ngày Trung Cộng tranh chấp quần đảo Điểu Ngư với Nhật.

Vài thập niên trước đây, Mỹ và các nước phát triển Tây phương cũng như Á châu đầu tư mở mang giao thương với Trung Cộng, họ tưởng rằng một khi có nền kinh tế phồn thịnh Hoa Lục sẽ từ bỏ chế độc tài và trở nên hiền lành hơn. Trái với sự tin tưởng ngây thơ của Mỹ và Tây phương, thực tế cho thấy nay càng giầu mạnh về kinh tế Trung Cộng lại càng hung hãn hơn trước, tăng cường quân sự hơn trước.

Khác với chính phủ Bush trước đây chú trọng vào Trung Đông, TT Obama quay trở lại Đông nam Á vì Mỹ có nhiều quyền lợi kinh tế tại đây. Từ thập niên 80 người Mỹ đã nhìn nhận Châu Á Thái Bình Dương là một nền văn minh đang đi lên. Gần đây Mỹ tỏ ra cứng rắn không nhượng bộ Trung Cộng và cho thấy Mỹ vẫn là cường quốc tại Á châu đã suýt sẩy ra đụng chạm hai bên. Nay Trung Cộng có tiến bộ về kinh tế và tăng cường quốc phòng nhưng thực ra chưa đủ mạnh để uy hiếp Mỹ và các cường quốc khác tại Á châu. Mặc dù Mỹ bị suy thoái kinh tế thập niên vừa qua nhưng về quân sự vẫn còn quá mạnh, về số lượng máy bay quân sự Mỹ vẫn gấp 4 lần Nga, gấp 5 lần Trung Cộng chưa kể mặt phẩm trội hơn nhiều.

Năm 1998 Trung Cộng mua lại một tầu cũ bỏ hoang phế của Ukraine chỉ có khung tầu, không động cơ và bánh lái, năm 2002 được kéo về Hoa Lục năm 2011 mới đóng xong thành tầu sân bay đầu tiên của Hoa Lục đặt tên là Liêu Ninh. Trung Cộng vội vã thực hiện một tầu sân bay để hù dọa các nước trong vùng, đây chỉ là một tầu loại nhỏ trọng tải 33,000 tấn chỉ bằng 1/3 một hàng không mẫu hạm Mỹ. Đối với Mỹ, Nhật là những nước đã có nhiều kinh nghiệm về hàng không mẫu hạm thì tầu sân bay Liên Ninh chỉ là một trò hề, trò cười không hơn không kém. Cách đây hai năm, một ông Tướng bốn sao của Nhật đã tỏ ra khinh thường Trung Cộng khi tuyên bố hải quân và không quân Hoa Lục còn lạc hậu từ 10 tới 20 năm so với Nhật về nhiều phương diện.

Như đã nói trên ngân sách quốc phòng của Mỹ nay nhiều hơn ngân sách của các cường quốc trên thế giới cộng lại, gần gấp 10 lần Nga (60 tỷ), gấp 4 lần Trung Cộng (145 tỷ), gấp 11 lần Anh, gấp 12 lần Nhật….số máy bay quân sự của Mỹ gần 14,000 chiếc bằng số máy bay quân sự của các cường quốc trên thế giới cộng lại nhưng Mỹ vẫn bị Nga và Trung Cộng khích bác, gây khó khăn.

Sở dĩ như vậy vì họ biết Mỹ mạnh về quân sự nhưng lại yếu về chính trị, Tổng thống không có nhiều thực quyền mà phải phụ thuộc vào ý kiến của người dân và Quốc hội. Tại trận Điện Biên Phủ tháng 4-1954, Mao Trạch Đông ra lệnh tăng cường cho Việt Minh nhiều tiểu đoàn phòng không và pháo binh thì lệnh của Mao được thi hành ngay, trong khi ấy Mỹ muốn giúp Pháp nhưng không được Quốc hội và người dân ủng hộ cuối cùng phải thất bại.

Gần đây Mỹ-Hoa đã suýt đụng độ tại Biển Đông và người ta sợ có thể đưa tới Thế chiến thứ ba, nhưng thực ra dù căng thẳng tới đâu cũng không thể xảy ra Thế chiên vì trong lịch sử đã nhiều lần “suýt” sẩy ra nhưng cả hai bên đều dàn xếp êm đẹp.

Đầu thập niên 60 Mỹ cho đặt hỏa tiễn tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ý nhắm vào Moscow, Khrushchev trả đũa cho đặt hỏa tiễn tại Cuba đe dọa Mỹ. Tháng 10-1963 máy bay do thám U-2 của Mỹ khám phá ra hỏa tiễn tầm trung nguyên tử tại Cuba, TT Kennedy làm dữ cho ngăn chận tầu Nga mang hỏa tiễn tới và buộc Nga phải tháo gỡ hỏa tiễn đã gắn tại Cuba. Kennedy và Khrushchev đã đàm phán căng thẳng, Nga tháo gỡ hỏa tiễn tại Cuba, Mỹ cũng bí mật tháo gỡ hỏa tiễn tại Ý, Thổ Nhĩ Kỳ đem về.

Sau đó Mỹ-Nga thỏa thuận thiết lập đường giây điện thoại nóng giữa Moscow và Washington để ngăn ngừa Thề chiến mà cả hai bên cùng sợ, tình hình đã dịu sau đó. Thế chiến “suýt” sẩy ra nhưng cả hai bên đều đã sợ hết hồn nên sẽ chẳng bao giờ xảy ra được. Cũng có giả thuyết cho rằng TT Kennedy bị ám sát vì người ta sợ ông có thể gây Thế chiến thứ ba.

Giống như biến cố Cuba nêu trên, đụng độ Mỹ-Hoa tại Biển Đông rất khó có thể xảy ra, mặc dù Trung Cộng hung hăng nhưng trong thâm tâm họ thừa biết hậu quả khốc liệt sẽ dành cho Hoa Lục một khi chiến tranh xảy ra. Dù đụng trận nhỏ nhưng ảnh hưởng sẽ vô cùng lớn lao, các nước ngoài sẽ rút đầu tư, việc giao thương sẽ bị ngưng trệ đưa tới khủng hoảng kinh tế.

Mỹ có thể đem chiến tranh tới Hoa Lục vì họ có nhiều hàng không mẫu hạm, nhiều hạm đội và các căn cứ tại Nhật, Phi Luật Tân, Nam Hàn… ngược lại Trung Cộng không có khả năng mang chiến tranh tới đất Mỹ. Trong trường hợp có đánh lớn, Hoa Lục sẽ trở thành bãi chiến trường tan nát vì bom đạn, công trình mà họ đã xây dựng mấy chục năm qua tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải sẽ tiêu tan trong phút chốc. Hoa Lục chẳng dại gì mà lao đầu vào cuộc phiêu lưu tự sát.

Người Mỹ có khuynh hướng bỏ Trung Đông, Ukraine để quay về Thái Bình Dương vì nơi đây họ có nhiều quyền lợi kinh tế, vấn đề Ukraine sẽ để các nước Liên Âu tự liệu. Các cường quốc châu Âu Pháp, Anh, Đức… chỉ có một ngân sách quốc phòng khiêm tốn từ 50 tỷ trở xuống, chưa được 1/10 ngân sách quốc phòng Mỹ. Họ đã quen núp dưới cây dù nguyên tử của Mỹ. Nhiều nước Tây Âu nhất là Pháp núp dưới cây dù nguyên tử Mỹ nhưng vẫn chống Mỹ tại cuộc chiến Iraq và Việt Nam trước đây.

Nay Hoa Kỳ đã mệt mỏi và muốn các nước đồng minh châu Âu phải chia sẻ gánh nặng với họ.

Chú thích

(1) Globalfirepower.com

(2) Military budget of the People's Republic of China , Wikipedia

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 18th 2015, 7:38am)


46

Friday, June 19th 2015, 6:29am

Nhận định:

Như đã nói trên, một trong những tính toán sai lầm của TC theo các tác giả được trích dẫn là:
- TC đã không còn coi Mỹ là một quốc gia đáng sợ, hay đáng tin nữa, những lời Mỹ cảnh báo TC do đó mất giá trị. Ngược lại TC rất tự tin về sự tiến bộ kinh tế và quân sự của họ.

Thế thì tại sao khi Mỹ lên tiếng cảnh cáo thì TC rút dàn khoang Hải Dương ra khỏi thềm lục địa VN ? và mới đây tuyên bố là sẽ ngưng bồi đắp, cải tạo các bải đá ngầm và đảo nhỏ đã chiếm được của VN, với cùng một lý do là đã hoàn thành công tác ? Rõ ràng là TC sợ đụng độ với Mỹ phải không ?


Chính xác, lý do được đưa ra chỉ để giử thể diện với dân chúng trong nước và quốc tế. TC không muốn thấy các bước kế tiếp mà MỸ bắt buộc phải can thiệp, có nguy cơ khóa chặt TC trong thế phải đối đầu trực tiếp với Mỹ. Và điều nầy không sớm thì muộn sẽ đưa đến xung dột vũ trang giữa hai bên mà không có cách nào để kiềm chế ( Lộng giã thành chân / chỉ hù dọa, thách thức mà thành đánh nhau thực ).
Muốn biết rõ thêm toan tính lợi hại của TC xin tham khảo: Why China Is Stopping Its South China Sea Island-Building (For Now) by Shannon Tiezzi.

Nhưng đàng khác, TC lại không tin là Mỹ có đủ quyết tâm để sẳn sàng lâm chiến ( cọp giấy mà ), nhất là để bênh vực cho những nước nhược tiểu hay cựu thù như VN. Và nếu như thói quen " tiên hạ thủ vi cường " ( thằng nào đánh trước làm cha ), thì khi mà TC thấy VN có nguy cơ lọt ra khỏi quỹ đạo của " thiên triều " thì TC sẽ không ngần ngại gì mà không " dạy cho VN thêm một bài học nữa ". Vâng, đây chỉ là giã định khi TC tính toán chủ quan và sai lầm. Thường thì TC muốn làm gì thì cũng thường hay " ngó sắc mặt " của Mỹ trước.

Nếu vậy thì TC thực tế sẽ có phương án gì khả dĩ có thể tấn công VN, ngoài lời hù dọa là sẽ pháo kích Sài Gòn tan nát từ căn cứ hỏa lực đá Chữ Thập mới xây đắp ?
Xin nói trước NP chỉ bàn dông tán dài theo trí khôn và sự tính toán thông thường của một " phó thường dân " như khi sợ ăn trộm, ăn cướp vào nhà thế thôi. Chứ NP chã phải là tướng lĩnh, hay đỉnh cao trí tuệ, hoặc thiên tài quân sự gì cả. :D :evil:

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 20th 2015, 4:57am)


47

Friday, June 19th 2015, 7:20am

Thế Chân Vạc Mới Tại Á Châu
Đào Văn Bình
California Tháng 10, 2011

Sau hơn 24 thế kỷ, chưa bao giờ sân khấu chính trị thế giới được chứng kiến những học thuyết có tầm vóc “kinh bang tế thế” của thời Xuân Thu Chiến Quốc, tưởng chừng như chỉ còn nằm trong thư viện, nay được đem ra ứng dụng một cách ngoạn mục và sâu sắc- đó là học thuyết Hợp TungLiên Hoành.

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (Thế Kỷ thứ 3 trước Tây Lịch), lúc bấy giờ nước Tần quá mạnh có khả năng thôn tính sáu quốc gia còn lại. Tô Tần nhìn thấy nguy cơ đó cho nên đã đem “miệng lưỡi” đi du thuyết. Kết quả sáu nước Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Yên đã nghe theo và đoàn kết lại, lập liên minh để chống Tần theo kế hoạch gọi là Hợp Tung. Thế nhưng “vỏ quýt dày, móng tay nhọn”, Trương Nghi nhìn thấy nhược điểm của thế Hợp Tung cho nên đã hiến kế Liên Hoành cho vua Tần. Vua Tần nghe theo, kết quả kế Hợp Tung tan vỡ, nhà Tần “gồm thâu lục quốc”. Vậy có thể nói Liên Hoành là “khắc tinh” của Hợp Tung.

Tại sao Liên Hoành lại là “khắc tinh” của Hợp Tung ? Mới nhìn bề ngoài, các nước nhỏ tìm cách liên kết với nhau để đối đầu với nước lớn là “diệu kếnhưng nhược điểm chí tử của liên minh (Hợp Tung) là các quốc gia thường đặt quyền lợi của mình lên trên và ngại khó, ngại khổ - tức không chịu hy sinh, chấp nhận thiệt thòi trong liên minh. Do đó, khi có một chút lợi lạc hoặc “cảm thấy” khó khăn là thoái chí. Ngoài ra, tâm lý thông thường của bất kỳ liên minh nào là người ta thường nghi kỵ lẫn nhau. Quốc gia nào cũng sợ quốc gia kia “xé lẻ” hoặc “đi đêm” với kẻ thù. Do đó, nếu không khôn khéo, hành động không minh bạch, không thường xuyên thông báo cho nhau mọi động tác…thì rất dễ gây hiểu lầm. Nắm được nhược điểm và tâm lý này, nhà Tần đã dùng kế Liên Hoành để xé lẻ liên minh sáu nước bằng cách ve vãn từng quốc gia và như đã nói ở trên, kế Hợp Tung tan vỡ.

Ngày nay, do sự tái diễn của lịch sử, việc ứng dụng Hợp Tung và Liên Hoành đã và đang diễn ra một các ngoạn mục tại Đông Nam Á. Nói về sức mạnh kinh tế, Hoa Lục có khả năng khuynh đảo toàn thế giới bằng cớ siêu cường Hoa Kỳ hiện là “con nợ” của Hoa Lục. Nói về sức mạnh quân sự, Hoa Lục coi như bá chủ ở vùng này. Tổng cộng Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản và thêm 9 nước Đông Nam Á cũng không thể đối đầu với sức mạnh quân sự của Hoa Lục. Do những hành động xâm chiếm lãnh thổ của các quốc gia trong vùng liên tục trong 37 năm qua: Từ xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh chiếm một phần của Quần Đảo Trường Sa năm 1988 rồi xây dựng căn cứ quân sự và sân bay tại đây, rồi công bố sát nhập Trường Sa vào lãnh thổ Trung Hoa bằng địa danh Tam Sa, xây dựng căn cứ quân sự khổng lồ tại Đảo Hải Nam, cho tàu Ngư Chính phá phách các dàn thăm dò dầu khí của Việt Nam, áp lực để các quốc gia như Anh Quốc (PB), Hoa Kỳ (Exxon) phải từ bỏ các hợp đồng khai thác dầu khí trong vùng quyền lợi kinh tế của Việt Nam, bắt bớ, giết hại ngư dân Việt Nam với lý do rất mơ hồ “xâm phạm lãnh hải”, công bố Đường Lưỡi Bò xác định chủ quyền trên biển coi như toàn bộ Biển Đông. Mới đây nhất, việc hạ thủy Hàng Không Mẫu Hạm Thi Lang…khiến không riêng gì Đông Nam Á mà cả thế giới lo sợ. Trước viễn ảnh đen tối đó, các nước Đông Nam Á – giống như một đàn trâu rừng- vội vã co cụm lại để đối đầu với con sư tử đang lừng lững tiến tới và một liên minh theo kế Hợp Tung thời Chiến Quốc hình thành. Trong liên minh này, hai quốc gia trụ cột là Phi Luật Tân và Việt Nam, sau đó là Nam Dương và Tân Gia Ba. Phi Luật Tân lớn tiếng nhất và công khai chống lại Hoa Lục – lý do thật dễ hiểu vì Phi Luật Tân ở xa và không có biên giới đất liền với Hoa Lục. Ngoài ra Phi Luật Tân còn có “bửu bối” Hiệp Ước Phòng Thủ Chung ký kết với Hoa Kỳ năm 1951.

Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asia Nations) viết tắt là ASEAN thành lập năm 1967 bao gồm 4 quốc gia Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân và Tân Gia Ba, sau thêm Brunei, Miến Điện, Kampuchia, Lào và Việt Nam…tổng cộng 9 nước. Mới thoạt đầu ASEAN không phải là một liên minh quân sự mà mục tiêu chỉ là “thúc đẩy phát triển kinh tế và thăng tiến xã hội” nhưng do thời thế đẩy đưa, do có cùng một hiểm họa – dù chưa ký kết thỏa hiệp chính thức- trên thực tế ASEAN đã và đang biến thành một “liên minh quân sự” tại Đông Nam Á. Chúng ta có thể khẳng định điều này qua các cuộc họp cấp bộ trưởng quốc phòng đã diễn ra vào Tháng 10, 2010 tại Hà Nội, Tháng 12 cùng năm tại Đà Lạt và năm nay (2011) tại Nam Dương. Đấy là không kể hai cuộc họp cấp bộ trưởng quốc phòng Asean- Nhật Bản do Nhật tổ chức ở Tokyo. Xen kẽ, chúng ta thấy những cuộc thăm viếng và làm việc liên tục của các tổng tham mưu trưởng quân đội, cùng các tàu chiến của các nước trong khối SEAN.

Hơn ai hết, Hoa Lục nhìn thấy thế Hợp Tung của 9 nước ASEAN nên đã quyết tâm phá vỡ bằng kế Liên Hoành. Để thi hành, từ trước đến nay Hoa Lục khăng khăng lập trường chỉ thương thảo song phương chứ không chấp nhận thương thảo đa phương. Khi theo đuổi lập trường đó Hoa Lục nhắm tới:

Không cho, cũng như không chấp nhận sự can thiệp của quốc tế hay một số cường quốc khác vào khu vực.

Không chấp nhận tiếng nói thống nhất ngay cả của ASEAN.

Thỏa hiệp riêng lẻ với từng quốc gia, nếu đạt được sẽ làm tan rã liên minh ASEAN.

Chiến thuật mà Hoa Lục xử dụng là vừa đe dọa vừa ve vãn. Đe dọa là phô diễn sức mạnh quân sự, đóng thêm hàng không mẫu hạm, trên đất liền tập trung quân ở biên giới, trên biển cho tầu Ngư Chính phá phách các dàn khoan hoặc thăm dò dầu khí, bắt giữ hoặc giết hại ngư dân các nước trong vùng, đặc biệt là Việt Nam, đồng thời áp lực về kinh tế. Thậm chí còn đe dọa cả các quốc gia có thiện cảm hoặc liên kết với các quốc gia trong vùng như cảnh cáo tàu chiến của Ấn Độ khi tàu này đang di chuyển trong vùng biển Việt Nam, sau khi thăm viếng Nha Trang, cảnh cáo cả Hoa Kỳ là không nên can thiệp vào Biển Đông. Ve vãn là hứa hẹn một vài tương nhượng nào đó, viện trợ thương mại, hoặc đầu tư v.v…

Xin đừng đánh giá thấp Hoa Lục. Họ có thể sẽ thành công với kế Liên Hoành. Xét trong 9 nước của ASEAN chúng ta thấy Kampuchia, Lào hoàn toàn đứng trung lập vì họ không mất gì, được gì trong biến động này. Miến Điện dù Tổng Thống Thein Sein và 13 bộ trưởng đã tới thăm Ấn Độ vào ngày 14/10/2011 nhưng vẫn còn trong vòng ảnh hưởng của Bắc Kinh. Brunei thì quá nhỏ. Mã Lai và Nam Dương không có tranh chấp về biển. Tân Gia Ba tuy cương quyết nhưng ở quá xa. Tóm lại chỉ còn hai quốc gia đứng mũi chịu sào là Việt Nam và Phi Luật Tân. Hoa Lục có thể “xé lẻ” Phi Luật Tân bằng cách ký kết hiệp ước bất tương xâm, nhượng bộ chú ít về lãnh hải mà thực ra những vùng biển này không phải của Hoa Lục mà là của Việt Nam. Nói khác đi Hoa Lục theo sách lược “mượn hoa cúng Phật” hay “của người phúc ta”, đồng thời hứa hẹn viện trợ kinh tế, tài chánh, mở rộng thị trường cho Phi Luật Tân. Một khi đã “xé lẻ” được Phi Luật Tân thì Việt Nam chơ vơ một mình và liên minh ASEAN sứt mẻ rồi tan vỡ hoặc trở thành tổ chức “bù nhìn”.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 19th 2015, 7:35am)


48

Friday, June 19th 2015, 7:37am

Thế giới không phải không biết tới điều này cho nên đã phải nhảy vào. Tại sao phải nhảy vào? Không cần giải thích dông dài, chúng ta có thể nói ngay: Nếu Hoa Lục khống chế được Biển Đông thì ba nước lâm nguy trước tiên là Nhật Bản, Đài Loan và Nam Hàn rồi sau đó tới Đông Nam Á rồi Hoa Kỳ, Úc Châu. Còn Ấn Độ thì từ từ chết sau. Nhìn vào bản đồ hàng hải chúng ta có thể khẳng định tuyến đường từ Eo Biển Đài Loan rồi dọc theo Biển Đông tới Eo Biển Malacca là sinh lộ của toàn thế giới. Năm xưa liên minh sáu nước tan vỡ và bị Tần tiêu diệt là vì liên minh này không có điểm tựa. Giả dụ, lúc bấy giờ có một cường quốc sức mạnh tương đương với Tần hỗ trợ thì liên minh Lục Quốc vững như bàn thạch.


Ngày nay cũng thế, dù liên minh ASEAN có đoàn kết và quyết tâm như thế nào đi nữa, nếu đứng một mình, sớm muộn gì cũng tan như bọt nước dưới áp lực của Hoa Lục. Muốn sống còn, Liên minh ASEAN cần một điểm tựa, nói khác đi liên minh ASEAN phải được đặt vào thế chân vạc.

Ấn Độ sẽ làm trụ cột châu Á? Ngoại trưởng SM Krishna đón bà Clinton ở Dehli hôm 19/7/2011


Do tình cờ của lịch sử, do những biến cố chính trị đẩy đưa, một thế chân vạc mới vừa hình thành mà cả thế giới đều nhận rõ đó là Trục Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ. Từ khi giành được độc lập từ tay Thực dân Anh năm 1947, Ấn Độ đã thí nghiệm thành công bom nguyên tử nổ ngầm dưới đất. Với dân số gần 1.2 tỷ (thống kê 2006) có hỏa tiễn tầm trung mang đầu đạn hạt nhân, hải quân đứng hàng thứ tư thế giới, có hàng không mẫu hạm và phát triển nhanh chóng về kỹ nghệ, nhưng Ấn Độ luôn luôn nghị kỵ Hoa Kỳ và không bao giờ tập trung vào khu vực Á Châu, đặc biệt Đông Nam Á. Ấn Độ coi như sống bên lề Á Châu mà chỉ chú tâm tới Nam Mỹ, Phi Châu v.v…Thế nhưng cục diện đó đã thay đổi khi Thủ Tướng Singh của Ấn Độ thăm Hoa Kỳ vào Tháng 10, 2009 rồi TT. Obama - vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ công du Ấn Độ vào Tháng 11, 2010. Đặc biệt chuyến thăm Ấn Độ của Ngoại Trưởng Hillary Clinton vào Tháng 7, 2011 trong đó bà nói rõ Ấn Độ không phải chỉ “Nhìn Về Hướng Đông” mà cần phải hành động. Đó là thông điệp mạnh mẽ cho biết Hoa Kỳ chấp nhận và cần sự hiện diện quân sự của Ấn Độ tại Biển Đông. Trước đó vào ngày 24 Tháng 11, 2008 Nữ Tổng Thống Ấn Độ cũng đã thăm Việt Nam. Rồi vào ngày 12 Tháng 5, 2001 hai tàu chiến Ấn Độ cập bến Nha Trang và Trục Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ ra đời. Chúng ta có thể tiên liệu những ngày tháng sắp tới đây, các viên chức cao cấp của Ấn Độ sẽ lần lượt thăm viếng các quốc gia Đông Nam A, tàu chiến Ấn Độ sẽ tiếp tục hiện diện tại Biển Đông để bảo vệ các giàn thăm dò dầu khí và thao diễn chung với các nước trong vùng, song song với Hải Quân Hoa Kỳ. Tại sao Thế Chân Vạc này lại hình thành mau chóng như vậy? Có hai lý do:


Thứ nhất: Theo BBC, do mối quan hệ bền vững với Việt Nam trong suốt 40 năm qua, Ấn Độ đã ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO và ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ năm 2007, Việt Nam cũng ủng hộ Ấn Độ trở thành thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An. Theo chuyên gia về an ninh Iskander Rehman, “Ấn Độ đã và đang hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực hải quân nhằm phá bỏ thế độc tôn của Trung Quốc tại Biển Đông. Một điều thú vị là không quân và hải quân Việt Nam và Ấn Độ xử dụng nhiều trang bị của Nga nên dễ dàng trao đổi cho nhau. Delhi đã giúp sửa chữa và nâng cấp 125 chiến đấu cơ Mig 21.


Bên cạnh việc huấn luyện thủy thủ và phi công cho Việt Nam, năm 2005 Hải Quân Ấn Độ đã cung cấp cho Việt Nam 150 tấn phụ tùng cho các tàu chiến hạng Petya và OSA-11. Ấn Độ cũng sẽ giúp huấn luyện thủy thủ đoàn cho các tàu ngầm mà Việt Nam đang đặt mua từ Nga…Hai nước có thể cùng thiết lập hệ thống báo động dọc bờ biển Việt Nam và Ấn Độ có thể điều chiến đấu cơ tuần tra tới Việt Nam, không chỉ theo dõi các tuyến hàng hải quan trọng ở Biển Đông và Eo Biển Malacca, mà còn để phát hiện các hoạt động tàng hình ở phía dưới.” (BBC)


Thứ hai: Ấn Độ không thể nào quên cuộc chiến tranh với Hoa Lục năm năm 1962. Những năm gần đây Hoa Lục đã cho tàu chiến lảng vảng vào Ấn Độ Dương để “hỏi thăm sức khỏe” Ấn Độ. Hoa Lục luôn luôn dùng gọng kìm Pakistan để làm khó dễ Ấn Độ. Đặc biệt khi mối liên hệ giữa Pakistan-Hoa Kỳ trở nên chua chát, Pakistan đã cho mời ngay Bộ Trưởng Công An Hoa Lục tới thăm và tuyên bố thẳng thừng nếu Hoa Kỳ thù nghịch với Pakistan thì Pakistan sẽ liên kết ngay với Hoa Lục. Ấy là chưa kể gọng kìm Miến Điện ngay cạnh sườn phía Đông cũng làm cho Ấn Độ vô cùng khó chịu. Ấn Độ chính là con “cọp ngủ” và ngày nay đã “biết thức dậy” và mạnh dạn tiến về Đông Nam Á. Đây là cơ hội bằng vàng cho Ấn Độ triển khai kế hoạch phòng thủ và xây dựng vị trí cường quốc của mình tại Á Châu.


Câu hỏi đặt ra ở đây: Tại sao lại là thế chân vạc Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ mà không phải là Asean - Hoa Kỳ - Nhật Bả hoặc Asean - Hoa Kỳ - Úc Châu? Xin thưa:


1) Nhật Bản bị ràng buộc bởi Hiến Pháp ngăn cấm không cho đem binh sĩ ra nước ngoài. Hơn thế nữa hình ảnh xâm lược Á Châu của quân phiệt Nhật năm 1945 vẫn còn đó. Việc tăng cường binh bị của Nhật khiến các quốc gia Đông Nam Á nhớ lại cơn ác mộng năm xưa. Nhật nên đóng vai trò hỗ trợ cho Thế Chân Vạc và tạo thế gọng kìm vào cạnh sườn Hoa Lục hơn là đem tàu chiến vào Biển Đông.


2) Còn Úc Châu thì nhân lực và tài lực yếu kém chỉ có khả năng hỗ trợ cho Thế Chân Vạc, chia xẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ và Ấn Độ, đồng thời chặn con đường tiến quân hoặc rút lui khi các hạm đội của Hoa Lục tiến vào Eo Biển Malacca hoặc từ Ấn Độ Dương kéo về. Ngoài ra do yếu tố địa lý, cho dù Nhật Bản hay Úc Châu có đứng vào Thế Chân Vạc cũng không thể có ưu thế hơn Ấn Độ. Giả sử nếu tàu chiến của Ấn Độ bị làm khó dễ ở Biển Đông, Ấn Độ chỉ cần cho dàn khoảng 500,000 quân ở biên giới thì Hoa Lục cũng phải điều động khoảng nửa triệu quân tới đó. Chắc chắn lúc đó sức mạnh quân sự của Hoa Lục ở Biển Đông sẽ bị phân tán rất nhiều. Do đó có thế nói cho tới bây giờ, liên minh Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ là liên minh hoàn hảo nhất.


3) Theo lịch sử, vì Ấn Độ không phải kẻ thù của Tây Phương cho nên Thế Chân Vạc này còn được hỗ trợ từ xa - trước mắt chúng ta nhận thấy có Đức và Hòa Lan. Anh, Pháp còn đang đứng nhìn vì vướng mắc kinh tế, tài chính với Hoa Lục. Nhưng ở vào thời điểm chín muồi nào đó, chắc chắn cũng sẽ ngả theo Liên Minh Chân Vạc này.


Tạm kết luận: Khi một liên minh quân sự hình thành chắc chắn không phải để chơi. Lịch sử thế giới đã chứng tỏ rằng liên minh quân sự ra đời là để ngăn chặn hay phát khởi một cuộc chiến tranh. Liên minh càng lớn thì cuộc chiến tranh càng khốc liệt. Liên Minh Áo-Hung-Phổ-Ottaman và Liên Minh Đức-Ý-Nhật trong Đệ I và Đệ II Thế Chiến đã minh chứng điều này. Trong hơn thập niên qua, thế giới cũng đã chứng kiến một vài liên minh quân sự hình thành rồi phát khởi vài cuộc chiến tranh mà số tử vong cũng đã lên tới vài triệu người đó là Liên Minh Mỹ-Anh trong chiến tranh Iraq, Liên Minh Đơn Phương Mỹ một mình đánh trước rồi lôi kéo đồng minh sau trong chiến tranh Aghanistan, Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và một số quốc gia Hồi Giáo trong chiến tranh Libya.


Với thời gian qua đi, theo dòng ký ức mờ phai của nhân loại, dù mau quên thế nào đi nữa, chắc chắn lịch sử thế giới cũng không thể nào không nhớ tới Liên Minh Chân Vạc mới đang hình hành tại Á Châu. Tại sao vậy? Bởi vì:


Nếu thế chân vạc Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ bền vững và thành công thì Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung sẽ hưởng một nền hòa bình lâu dài. Lành thay!


Nếu thế chân vạc Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ yếu đi và thất bại, thế giới sẽ phải đương đầu với Đệ III Thế Chiến khốc liệt hơn cả Đệ I và Đệ II Thế Chiến. (*) Bất hạnh thay!


----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cước chú: (*) Trong Đệ I Thế Chiến, 70 triệu quân được huy động ra mặt trận và lớn nhất trong lịch sử nhân loại do mức độ tử vong và tàn phá của nó. Trong Đệ II Thế Chiến khoảng 62 triệu người đã chết. Nếu Thế Chiến III bùng nổ, không biết bao nhiêu triệu người chết, bao nhiêu thành phố bị tàn phá, phóng xạ nguyên tử lan tràn như thế nào và hậu quả vài trăm năm sau ra sao, nhưng theo nhà bác học Einstein thì sau đó nhân loại sẽ dùng gạch đá để đánh nhau.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 19th 2015, 7:50am)


49

Saturday, June 20th 2015, 5:08am

TQ phê duyệt kế hoạch cho quân đội sử dụng tàu dân sự khi cần
Nguồn: Reuters, China Daily

Chính phủ Trung Quốc vừa thông qua một kế hoạch yêu cầu các công ty đóng tàu dân sự phải đảm bảo là các tàu mới có thể được sử dụng bởi quân đội trong trường hợp khẩn cấp.
Theo tờ China Daily, quy định mới yêu cầu 5 loại tàu, bao gồm tàu vận tải, phải được sửa đổi để "phục vụ nhu cầu quốc phòng. Chính quyền Trung Quốc sẽ chi trả tất cả các chi phí này.

Hiệp hội Phân cấp Trung Quốc, một hiệp hội về công nghiệp vận tải biển, nói kế hoạch này sẽ “cho phép Trung Quốc chuyển đổi các tiềm năng đáng kể của đội tàu dân sự thành sức mạnh quân sự”, đồng thời cải thiện "kế hoạch chiến lược và khả năng hỗ trợ hàng hải" của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Tính đến cuối năm ngoái, Trung Quốc đang có khoảng 172.000 tàu dân sự. Với quy định mới phê duyệt, đây sẽ là lực lượng tăng cường lớn cho hải quân của Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tăng cường chi tiêu quốc phòng để hiện đại hóa lực lượng, đặc biệt là lực lượng hải quân. Tài liệu chiến lược quốc phòng tháng trước của Trung Quốc cho biết Bắc Kinh tuyên bố sẽ tiếp tục tăng cường "bảo vệ các vùng biển rộng lớn" của mình và chỉ trích các nước láng giềng có "hành động khiêu khích" trên các đảo thuộc chủ quyền của họ.

Động thái ngày càng quyết đoán trong việc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và Biển Hoa Đông của Bắc Kinh đã làm rung chuyển khu vực và làm dấy lên mối lo ngại ở Washington.

Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền chồng chéo với với Philippines, Việt Nam, Malaysia, Đài Loan và Brunei ở Biển Đông, khu vực được cho là giàu tiềm năng với lượng tàu thương mại vận chuyển qua đây trị giá đến 5 nghìn tỉ đô la mỗi năm.

Nhận định:

Chiến thuật " biển người " đã hình thành:

Trung Quốc đang có khoảng 172.000 tàu dân sự, nếu TC chỉ cần xung dụng 1/10 số lượng tàu nầy và mỗi tàu chỉ vận chuyễn khoảng 40 quân ( 1 trung đội ), thì VN sẽ phải chống đở một cuộc đổ bộ khoảng:

17.200 tàu x 40 người = 688.000 quân

Một cuộc đổ bộ với áp lực 211 quân TC " trên từng cây số " ( 688.000 quân / 3260 km bờ biển ).

Một cuộc đổ bộ lớn gấp mấy lần cuộc đổ bộ vào các bãi biển vùng Normandie ngày 6 tháng 6 1944, với hơn 150.000 quân của Đồng Minh trên
4100 ghe đổ bộ , khoảng 6900 chiến thuyền yểm trợ.
Một cuộc đổ bộ có thể nhanh và " tàng hình " đến độ không kịp trở tay vì TC ở ngay trên đầu VN.
Một cuộc đổ bộ bất ngờ vì VN không thể biết chắc là những chiếc tàu dân sự ấy đang vận chuyển quân lính cho đến khi quá muộn !!!
Are you ready VN ???

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 20th 2015, 6:17am)


50

Saturday, June 20th 2015, 6:20am

VN kéo dài tuổi nghĩa vụ quân sự đến 27
BBC Việt Nam 19 tháng 6 2015

Quốc hội Việt Nam chiều 19/6 biểu quyết thông qua Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi, kéo dài độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.
Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành quy định độ tuổi gọi công dân nhập ngũ trong thời bình từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi.
Nay luật mới nói công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi.
Tuy vậy, công dân đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.
Luật quy định, thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng không quá 6 tháng trong trường hợp: bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; đang thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn.
Việc đăng ký nghĩa vụ quân sự và thực hiện nghĩa vụ quân sự là bắt buộc đối với công dân nam.

Đối với công dân nữ, chỉ quy định người có chuyên môn phù hợp với quân đội nếu tự nguyện và quân đội có nhu cầu thì được phục vụ tại ngũ và được đăng ký vào ngạch dự bị.

Các đối tượng không được đăng ký nghĩa vụ quân sự gồm: công dân đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế hoặc đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh tâm thần hoặc bệnh mãn tính theo quy định của pháp luật được miễn nghĩa vụ quân sự.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 20th 2015, 6:25am)


51

Sunday, June 21st 2015, 9:40am

Nhận định:

Theo Bản Đồ Các Vị Trí Hiện Diện TC trên nước VN của VN-SHARE-NEWS, ta thấy:

- Cao Bằng: cho Tàu thuê đất
- Móng Cái: cho Tàu thuê đất
- Bắc Ninh, Hạ Long, Hải Phòng: có Phố Tàu
- Lào Cai - Hà Nội: có đường cao tốc kết nối từ biên giới Tàu-Việt
- Nghệ An: cho Tàu thuê đất
- Hà Tỉnh: cho Tàu thuê đất, có Phố Tàu, Khu kinh tế Vũng Án / Fomosa ở sát biển
- Đèo Hải Vân: World Shine ở sát biển
- Quảng Nam: cho Tàu thuê đất
- Kon Tum : cho Tàu thuê đất
- Bình Định: cho Tàu thuê đất
- Ban Mê Thuột: Dự Án Bauxite Tây Nguyên
- Lâm Đồng: có Phố Tàu
- Bình Thuận: Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân sát biển
- Bình Dương: cho Tàu thuê đất, có Phố Tàu
- Trà Vinh: có Phố Tàu
Đó là chưa kể những bãi đá và đảo nhỏ mà TC đã xâm chiếm của VN.

Như vậy, VN vừa bị TC vuốt xương sống vừa bị TC đập đầu, bóp họng và vỗ bụng.

This post has been edited 6 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 21st 2015, 10:39am)


52

Sunday, June 21st 2015, 10:12am

Thận trọng, cảnh giác với đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam
Thiên Nam - đăng trên Đất Việt

Những nguy cơ từ đầu tư kinh tế TQ vào Việt Nam đã được đề cập từ lâu, nhưng hiện nay, vấn đề này đã ngày càng trở lên cấp bách.
Trong hai thập niên vừa qua kinh tế Việt Nam lệ thuộc xấu vào Trung Quốc. Chính sách trải thảm đỏ ưu đãi đầu tư Trung Quốc có thể tạo nên những nguy cơ về an ninh quốc phòng. Hiện nay, tình hình trên biển đang nóng lên từng ngày nên càng phải thận trọng, cảnh giác.

Theo hồ sơ “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020” và “Kế hoạch sử dụng đất 2011- 2015” đối với đất quốc phòng và an ninh, quy hoạch đất dành cho 2 lĩnh vực này đều tăng, với quốc phòng có 278 ngàn ha, tăng 87 ngàn ha so với năm 2010. Đất an ninh có 55,6 ngàn ha, đạt 71,25%, so với chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015.

Không chỉ ồ ạt thu gom nông sản, người Trung Quốc còn núp bóng dân địa phương thuê lại đất để làm nông nghiệp, rồng rừng, nuôi trồng thủy sản tại các khu vực ven biển...
Đáng chú ý là hầu hết diện tích cho thuê đều nằm ở vị trí, khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh, có khu vực là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, quân cảng, cảng nước sâu...


Theo thông tin, tới năm 2013 diện tích đất cho thuê là hơn 300.000 ha. Bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, thực tế cho thuê dài hạn là 15.664 ha. Tuy nhiên, Ủy ban An ninh Quốc phòng cho biết, toàn quốc có 19 dự án nước ngoài được cấp phép ở trồng rừng ở 18 tỉnh với diện tích trên 398.374 ha chứ không phải 305.353ha như bộ báo cáo.Từ năm 2010, 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương... đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50-70 năm) để trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó doanh nghiệp từ Hồng Kông, Đài Loan - Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Các doanh nghiệp Trung Quốc được ưu đãi đến mức độ không còn gì để ưu đãi hơn, trong khi người Việt lại đang thiếu việc làm, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng không sử dụng lao động là người Việt Nam mà lén lút đưa lao động phổ thông từ nước họ sang. Đây là chủ trương lớn của Trung Quốc nhằm khuyến khích đưa người Trung Quốc ra nước ngoài sinh sống.Tướng Đồng Sỹ Nguyên đã từng đặt câu hỏi, vì sao các doanh nghiệp nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở các tỉnh khu vực biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên? Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, là những vị trí địa chiến lược quan trọng.

Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đã từng phân tích: "Trung Quốc rất giỏi trong việc xâm chiếm bằng cách làm đường. Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy, di dân đến đấy. Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tới tận Tây Nguyên, mà ở đoạn cuối Tây Nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất tới 55 năm. Như vậy cả khu vực sẽ gần như là đất của họ...”.

Đứng về chiến lược quân sự, đó là những con đường cơ động chiến lược và cơ động chiến dịch. Về kinh tế thì có thể khống chế được toàn bộ các hành lang quan trọng của bán đảo Đông Dương. Họ đầu tư lớn, xây dựng cơ sở hạ tầng, làm đường là nhằm mục đích phục vụ chiến lược “tràn ngập Đông dương” của Trung Quốc.

Bắc Kinh đã đầu tư giúp Lào xây dựng con đường quốc lộ chạy dọc từ biên giới Trung-Lào (bắc Lào) đến nam Lào, ngang khu vực miền trung Việt Nam - đoạn hẹp nhất của nước ta với chiều ngang chạy từ tây (Lào) sang đông (biển Đông) vẻn vẹn có 50km, đặc biệt có liên quan mật thiết đến đặc khu kinh tế Vũng Áng.

Khu kinh tế Vũng Áng có diện tích 227,81 km2, chạy dọc bờ biển Hà Tĩnh dài 15-17 km, có tổng vốn đầu tư vào loại lớn nhất nước, ước khoảng 20-30 tỷ USD. Thời gian cho Trung Quốc thuê đất quá dài đến 70 năm.

Về phía đông, Vũng Áng nằm đối diện và cách đảo Hải Nam-Trung Quốc vẻn vẹn vài trăm km. Về phía tây, từ cảng Vũng Áng đi qua Lào chỉ có 50km (khu vực có con đường chiến lược do Trung Quốc xây dựng, đồng thời di dân sang ở và phục vụ làm đường). Kết nối con đường này với Vũng Áng, Tam Á là rất nguy hiểm.

Thuê Khu kinh tế Vũng Áng trong 70 năm, Trung Quốc có thể biến nó thành một “Tiểu quốc gia trong quốc gia” khi xây tường bao xung quanh, người Việt không thể vào được, tạo ra một tiền lệ nguy hiểm rằng, ở chỗ nào người Trung Quốc đầu tư, thì người Việt “cấm cửa” không được vào.

Điều này không phải không có cơ sở khi tướng Đồng Sĩ Nguyên cũng đã "thực mục sở thị" điều này. Ông từng kể lại, mình đã trực tiếp đến kiểm tra một cơ sở nước ngoài ở Đồ Sơn, xung quanh khu vực đó, họ đóng những cột mốc to như cột mốc biên giới và không cho người Việt vào đó. Cận vệ của ông tiếp cận xin vào họ cũng không cho, đến khi ông trực tiếp xuống xe, làm căng quá mới vào được.

Một ví dụ khác là những cơ sở đầu tư của Trung Quốc ở thành phố địa đầu Móng Cái - Quảng Ninh, trong đó nổi bật nhất là sân golf ở mũi Trà Vĩ dọc bãi biển Trà Cổ và dãy ki-ốt, siêu thị Trung Quốc ở cạnh của khẩu tiểu ngạch Ka Long. Một địa điểm quan trọng cho an ninh quốc phòng vùng Đông Bắc.

Dọc khu vực sông Ka Long, hai vị trí đẹp nhất đã được các công ty, tập đoàn lớn của Trung Quốc đầu tư, nổi bật nhất là Công ty Hồng Vận và Công ty Liên doanh Hải Ninh - Lợi Lai. 2 công ty này được thuê đất 50 năm với nhiều loại hình kinh doanh như sàn nhảy, sòng bạc (dành cho người nước ngoài), khách sạn, dịch vụ, cửa hàng đồ ăn Trung Quốc...

Sân golf quốc tế Móng Cái - một sân golf 18 lỗ hiện đại khánh thành năm 2009 ở mũi Sa Vĩ, chủ đầu tư là Công ty Liên doanh Vĩnh Thuận, có sự góp vốn đầu tư của Công ty Hải Ninh - Lợi Lai. Vĩnh Thuận được ưu đãi thuê đất 50 năm với phạm vi kinh doanh đa dạng như kinh doanh sân golf 18 lỗ, khu vui chơi giải trí...

Suốt dọc 3km bờ biển, sân golf này tựa như một “căn cứ quân sự” khi họ cho trồng phi lao, cây gai xung quanh, bên ngoài hàng cây là bờ rào thép gai giăng tứ phía.

Hàng loạt các cơ sở kinh tế lớn cùng hàng trăm kho bãi của các công ty Trung Quốc chạy dọc bờ sông Ka Long - Móng Cái. Có ai kiểm tra được hết hàng hóa trong đó có những gì?

Sự phát triển mạnh của kinh tế Việt Nam trong vòng vài chục năm tới đòi hỏi chúng ta sẽ phải có sự điều chỉnh quy hoạch chiến lược về trọng điểm kinh tế và an ninh quốc phòng.

Ví dụ như một mai lực lượng tàu nổi và tàu ngầm của hải quân Việt Nam trở lên đông đảo, đòi hỏi phải có những căn cứ hải quân mới hoặc các căn cứ dự bị, nếu muốn sử dụng cảng nước sâu ở Vũng Áng thì sao? Dù có đòi lại được thì có yên tâm xây dựng căn cứ hải quân ở đây không, khi Trung Quốc đã nắm rõ mực nước, luồng lạch, thậm chí ai biết họ thả cái gì đó xuống đáy biển?

Công tác quản lý địa bàn của các cơ quan chức năng địa phương cũng rất lỏng lẻo để mặc người Trung Quốc vào đầu tư làm ăn hàng năm trời tại các địa bàn trọng yếu. Điển hình trong số này là vụ việc dân Trung Quốc nuôi tôm hàng năm trời ở cảng Cam Ranh mà các cơ quan chức năng thành phố này không hề biết, trong khi đó dân mình vừa làm gì là họ biết ngay.

Bè nuôi cá của người Trung Quốc nằm cách cảng Cam Ranh khoảng 300m về phía đông, có những ngôi nhà lợp tôn được thiết kế kiên cố, mỗi bè rộng khoảng 100m2, có hàng chục lồng nuôi cá được kết với nhau. Những bè cá của người Trung Quốc thuộc dạng lớn không nhất thì cũng nhì ở đây. Hàng ngày họ thường xuyên ra vào khu vực này và các địa bàn lân cận để thu mua tôm, cá nhỏ trong dân.

Hầu như ngư dân và người buôn bán nào ở gần cảng Cam Ranh cũng biết các đìa cũng như lồng bè nuôi cá, tôm của người Trung Quốc. Họ còn cho biết có những người Trung Quốc đã ở đây hàng chục năm, thậm chí còn đưa tàu sắt hàng trăm tấn mang tên Việt Điện Bạch 8366 (tàu đăng ký thuộc thành phố Điện Bạch, tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc) sang.

Tàu cá này thường xuyên ra vào khu vực gần cảng Cam Ranh để chở hải sản đi tiêu thụ, chỉ đến khi sự việc này được đưa lên mặt báo các cơ quan chức năng thành phố Cam Ranh và tỉnh Khánh Hòa mới biết.

This post has been edited 8 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 21st 2015, 10:36am)


53

Sunday, June 21st 2015, 11:04pm

Trên thực tế, vấn đề người nước ngoài hoạt động trên vịnh Cam Ranh được quản lý rất chặt chẽ. Bản thân ông Võ Thiên Lăng - Phó Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa đã từng chứng kiến khi đưa một chuyên gia người Đan Mạch là nhà tài trợ cho dự án nâng cao năng lực của Hội Nghề cá Khánh Hòa, đi thăm một mô hình nuôi tôm hùm lồng trên vịnh.

Vừa ra đến lồng, Bộ đội Biên phòng đã có mặt kiểm tra ngay. Đoàn của ông phải nhờ Giám đốc Sở NN&PTNT can thiệp nhưng vẫn phải về Đồn Biên phòng để tường trình rằng ra lồng bè không có mục đích gì khác. Quản lý chặt chẽ như vậy mà để lọt thương lái và người nuôi tôm Trung Quốc hoạt động lâu năm trên vịnh Cam Ranh thì quả thực là khó hiểu.

Thời gian qua, Trung Quốc cũng đã chủ động “dọn dẹp” các công trình có yếu tố nước ngoài xung quanh các công trình quốc phòng, đặc biệt là các căn cứ hải quân, sân bay quân sự…, đồng thời sửa đổi “Luật bảo vệ công trình quân sự”, đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 9 của Ủy ban thường vụ đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc lần thứ 12.

Bộ tổng tham mưu quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cùng các cơ cấu trung ương và các ban ngành có liên quan của quân đội nước này đã tổ chức “Tổ kiểm tra liên ngành”, tiến hành rà soát việc chấp hành luật bảo vệ công trình quân sự tại hơn 20 tỉnh thành và khu vực. Sau sự kiện này, ông Khương Vĩ Tân - Bộ trưởng Bộ Nhà ở và Xây dựng thành thị - nông thôn Trung Quốc đã mất chức.

Kiên quyết hơn, chính phủ Trung Quốc đã bỏ ra mấy trăm triệu Tệ cho việc mua lại, phá dỡ các công trình này, bất chấp những thiệt hại nghiêm trọng về mặt kinh tế. Vậy thì những hành động người Trung Quốc tiến hành ở Việt Nam là có hoàn toàn vì mục đích kinh tế hay không?

Đã đến lúc Việt Nam cũng phải xiết chặt vấn đề gắn quốc phòng an ninh với đầu tư kinh tế nước ngoài, đặc biệt là những dự án có yếu tố Trung Quốc.

Nhận định:

Ước gì câu kết luận nầy được quan tâm như tác giả mong muốn và ước gì vấn nạn nầy được nêu lên ngay từ đầu khi sự việc mới xảy ra.
NP e rằng bây giờ đã quá muộn để tháo gở những mủi dao TC đã đâm sâu vào cơ thể của đất nước VN.
Nước VN ta có hai quốc lộ có tầm quan trọng sinh tử mà bất cứ nhà quân sự bình thường nào cũng có thể nhận biết ngay. Đó là QL1 ( qua khỏi Sài Gòn có thêm một nhánh là QL4 ) và QL14, theo tên gọi trước năm 1975. Hai QL nầy cũng giống như động mạch và tỉnh mạch của cơ thể con người. QL1 là QL để phát triển đất nước của thời bình, có thể coi như sinh lộ của VN. Còn QL14 là để phòng thủ đất nước của thời chiến, có thể coi như tử lộ của VN. Bởi vì ngưới Pháp có câu:

" Ai làm chủ được Tây Nguyên (dọc theo QL14) là làm chủ được Đông Dương ( Việt-Miên-Lào ) ".

Mà nói theo địa lý phong thủy ( địa hình, địa vật ) VN ta dựa lưng vững chắc vào dãy Trường Sơn, xương sống của VN. Mà nếu vì một lý do gì để địch quân khống chế được Trường Sơn thì tức là mình đã lâm vào cửa tử rồi đó ! Điều nầy đã được lịch sử minh chứng vào cuối trận chiến Nam-Bắc.

Cũng theo địa lý phong thủy ( địa hình, địa vật ) VN ta hướng mặt ra biển đông bao la sáng láng, thế mà bị ngăn che mờ ám thì còn đâu là sinh khí, đã vậy lại để cho Tầu yểm vào tử huyệt thì thử hỏi có nguy không ?

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 22nd 2015, 8:05am)


54

Monday, June 22nd 2015, 8:06am

KHÁI LƯỢC VỀ ĐÔNG TRƯỜNG SƠN
Lữ Giang


Ngày xưa, sau khi chiếm Đông Dương, Pháp đã cho thiết lập một quốc lộ đi nép chân phía đông dãy Trường Sơn trên lãnh thổ Việt Nam, gọi là Quốc lộ 14 ( Trường Sơn Đông ). Quốc lộ này có tổng chiều dài là 1.380km và đi qua 10 tỉnh: Từ Nghệ An qua Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Kon Tum, Pleiku, Ban Mê Thuột và Bình Phước. Khi lập con đường này, Pháp nhắm các mục tiêu sau đây:

(1) Bảo vệ an ninh lãnh thổ,
(2) Hành quân thanh toán các tổ chức buôn lậu,
(3) Khai thác lâm sản
(4) Khai triển và xử dụng các sắc tộc thiểu số.

Trong chiến tranh Việt - Pháp từ 1945 đền 1954, con đường này bị bỏ phế vì Pháp không đủ khả năng bảo vệ.


Sau Hiệp Định Genève 1954, khi vừa ổn định xong miền Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nghĩ ngay đến việc làm lại Quốc lộ 14 để bảo vệ lãnh thổ. Công việc này được khởi sự từ năm 1958 và giao cho Liên Đoàn 4 Công Binh phu trách. Liên đoàn này do Trung Tá Trần Văn Kha chỉ huy. Có lần Tổng Thống đã đích thân đến xem xét tại chỗ. Nhưng khi làm đoạn Kontum - Gia Vực, công việc cứ cù nhầy hoài, Trung Tá Kha bị cất chức. Chuyện xây dựng đường 14 chưa hoàn tất thì Tổng Thống Diệm đã bị Mỹ giết.

Khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, quân đội Mỹ đã cho thiết lập các đồn bót trên con đường 14, từ Khe Sanh ở Quảng Trị đến Ban Mê Thuột, để ngăn chận sự di chuyển của Bắc Quân. Vì không thể xử dụng con đường này, Bắc Quân phải làm con đường Trường Sơn Tây trên đất Lào để chuyển quân.


Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam, các nhà lãnh đạo quân sự VNCH không nhận ra được tầm quan trọng của con đường 14 và cũng không có đủ phương tiện để bảo vệ, nên Bắc Quân đã biến con đường này thành con đường chiến lược Hồ Chí Minh!

Đại khái, lộ trình con đường Trường Sơn Đông do Bắc Quân làm lại như sau: Khởi đầu từ Khe Gát thuộc huyện Bố Trạch ở Quảng Bình, vượt sông Bến Hải phía trên nguồn đi qua chiến khu Ba Lòng ở Quảng Trị vào Thừa Thiên, qua A Lưới, A Shau rồi đi nép theo biên giới Việt - Lào phía sau đèo Hải Vân vào Quảng Nam, khi đến Khâm Đức thì vòng lên Ngọc Hồi thuộc Kontum. Đến đây, vì khúc đường 14 từ Kontum đến Ban Mê Thuột đang do quân đội VNCH trến giữ nên Bắc Quân phải làm con đường thứ hai lấy tên là đường 14A đi sát biên giới Việt - Lào qua các tỉnh Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột. Tại đây, hai đường Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông gặp nhau rồi đổ xuống Lộc Ninh, Chơn Thành, Bình Long và Phước Thành.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 22nd 2015, 8:11am)


55

Tuesday, June 23rd 2015, 3:42am

Nhận định:

Như chúng ta đều biết TC trúng thầu xây dựng xa lộ Bắc-Nam. Thay vì xa lộ phải chạy dài theo bờ biển song song với đường hoả xa ( QL1 ), vừa thuận tiện vừa đở tốn kinh phí, thì VN lại đồng ý xây dựng xa lộ theo đường mòn ngòng ngoèo xuyên qua các dãy núi của rặng Trường Sơn.
Nếu như dụng tâm của TC là đưa hàng chục ngàn công binh chiến đấu sang. Rồi họ thiết lập các nhà kho dự trữ vũ khí và lương thực sâu trong lòng núi để tránh bom, đồng thời có chổ để ém quân hàng chục sư đoàn. Thử hỏi VN ta làm sao ứng phó vối mưu đồ vừa kiềm chế VN, vừa sẵn sàng tràn quân xuống ĐNÁ khi cần ?

Mai kia, nếu như TC quyết tâm chinh phạt VN thì có phải họ đương nhiên ở vào thế " nội ứng ngoại hiệp " còn VN thì ở vào thế " lưỡng đầu thọ địch " phải không ?

Cho dù họ không có ý định hay không thể chiếm trọn cả nước VN thì họ cũng đã đạt được mục đích là chia năm xẻ bảy nước VN nhỏ bé thành ra manh mún. Lúc đó thì VN sẽ lâm vào một cuộc nội chiến vô cùng tàn khốc, cũng y như những nước Ả Rập Hồi Giáo ở Trung Đông bây giờ.

Mà nước mất thì nhà tan, gia đình ly tán, tử biệt sinh ly. Còn đâu cảnh ăn trên ngồi tróc, nhung lụa xa hoa ?
Liệu có thoát thân kịp ra ngoại quốc để an hưởng hay không ?
May ra được vài người có công làm tay sai bán nước. Nhưng số phận của họ cũng không hơn gì những kẻ đã đi cùng một con đường của họ ở những nước nhược tiểu đói nghèo !

Phần của bọn bán nước coi như xong, còn người dân VN khốn khổ thì sao ?
Xin đừng ngồi đó mà mơ người khác sẽ cứu mình.
Nga chưa bao giờ cứu VN, Mỹ đã từng bỏ rơi VN.
Họ cùng lắm chỉ đưa súng đạn cho ta bắn giết nhau tùy thích mà thôi.
Xin nhắc lại hai bài toán:

Ước tính TC đổ bộ vào VN:

17.200 tàu x 40 người = 688.000 quân TC

688.000 quân TC / 3260 km bờ biển = 211 quân TC / km

Mật độ dân số VN:

90 triệu dân / 336 ngàn km vuông = 268 người/km vuông[font='&quot'][/font]

Lực lượng tương đương :D 8) . Vậy thì phải ráng chết sống với lũ giặc nhé.
Tốt nhất là hảy " khoanh vùng " sẳn, lấy tọa độ của các ổ nội tuyến TC để cường tập ( ToT = Time on Target ) khi cuộc chiến sắp nổ ra. Ít ra thì cũng có cơ hội liều mạng một mất một còn với chúng chứ X( .
Nghe nói trong trận chiến biên giới Việt-Hoa năm 1979, lũ giặc TC rất dã man: tàn sát, hãm hiếp, cướp phá chẳng chừa già, trẻ, lớn, bé một ai :cursing: .

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Jul 5th 2015, 7:08am)


56

Wednesday, June 24th 2015, 8:01am

Cho phép NP được tán phét một tí chơi cho đở " bức xúc " nhé ;)
Nếu muốn đem quân chinh phạt VN thì TC có mấy ngỏ sau đây:

- Lào Cai: Chuyển quân một cái rẹt bằng đường xe lửa từ Vân Nam xuống. Xong đánh một cái rẹt từ Lào Cai xuống Hà Nội bằng đường cao tốc mới xây. Nhưng con đường độc đạo nầy chắc tốn nhiều xương máu lắm đây. Lỡ mà VN đã phòng bị trước và tập kích bằng trọng pháo từ một bên là Fan-Xi-Pan, một bên là Núi Con Voi xuống thì dám tiêu cả sư đoàn đấy chứ chẳng phải chơi.
- Cao Bằng: Con đường nầy thi hơi vất vã đây, khó mà điều quân thần tốc được vì sẽ gặp khá nhiều " chốt " đấy.
- Lạng sơn: Đường nầy thì " phẻ " hơn, lại ngắn và thọc mủi dùi ngay Hà Nội. Quân đổ xuống đồng bằng rất nhanh, lại có thể hợp đồng binh chủng với cánh quân từ Móng cáy sang.
Nhưng mà nói chung TC sẽ mất đi yếu tố bất ngờ khi di chuyển một số quân lớn xuống vùng biên giới phía bắc VN.

- Phương án tối ưu vẫn là đỗ quân từ bờ biễn VN đánh vào với lợi thế áp đảo tuyệt đối của hải quân TC. Từ căn cứ địa Hải-Lục-Không quân Hải Nam đến TP Vinh đâu có bao xa. Nếu VN tập trung mọi sức lực để phòng thủ bờ biển thì TC sẽ điều một cánh quân khác từ Lào sang ( có thể đã được ém sẳn ) bằng đường số 8 ( Đèo Keo Nưa ) và đường số 15 ( Đèo Mụ Già ). Nếu chỉ muốn cắt VN ra làm hai thì TC sẽ tiếp tục đánh ra Hà Nội. Còn nếu muốn nuốt gọn cả VN thì TC sẽ theo QL14 ( Trường Sơn Đông ) đánh vào miền Nam, như hướng tiến của Bắc Quân năm 1975. Tuy nhiên điều nầy có thể khó thực hiện hơn khi Vịnh Cam Ranh có sự hiện diện của Nga hay Mỹ, hoặc cả Nga và Mỹ.

Cơ hội để TC đổ bộ vào bờ biển miền Trung của VN thì khó hơn vì hơi xa, không thuận tiện cho tiếp liệu, có thể bị lọt bẩy của Mỹ và nhất là rất khó có thể chủ động một mặt trận trãi dài cả ngàn km.
Cơ hội để TC đổ bộ vào bờ biển miền Nam của VN còn ít hơn vì bờ biển không thích hợp cho việc đổ bộ và hệ thống sông ngòi chằng chịt và nhất là làm náo động các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN ). Do đó TC cũng không thuận lợi khi tấn công Sài Gòn bằng đường biển. TC chỉ có thể oanh kích Sài Gòn bằng một khả năng hạn chế xuất phát từ Hoàng-Trường Sa. Điều nầy so ra không cần thiết và không có lợi lắm.

Xin nhắc lại, NP chỉ tán phét vì ngứa miệng chớ chẳng phải biện luận hay dựa trên một khảo cứu đứng đắn nào cả. Xin kính cẩn nhường việc đó lại cho các bậc cao minh chỉ dạy.

57

Thursday, June 25th 2015, 7:25am

Việt Nam sẽ đơn độc nếu bị tấn công?
BBC Tiếng Việt
Ngày: 22 / 05 / 2014

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok – 21 May 2014

Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc nếu tiếp tục kéo dài thì khả năng một cuộc chiến ngắn hạn do Trung Quốc phát động có thể diễn ra. Câu hỏi đặt ra: Trung quốc sẽ sử dụng vũ khí nào và Việt Nam có thể ứng phó ra sao, trong bao lâu? Mặc Lâm phỏng vấn GS Carl Thayer hiện là cố vấn cho Học Viện Quốc phòng Úc để biết thêm ý kiến một chuyên gia quân sự trước những câu hỏi này.


Mặc Lâm: Thưa GS nếu cuộc chiến xảy ra, liệu Trung Quốc sẽ dùng loại vũ khí chiến lược nào để tấn công Việt Nam nhằm chiếm thế thượng phong thưa ông?

GS Carl Thayer: Vũ khí bí mật mà Trung Quốc xem là mạnh nhất có thể nói là hỏa tiển đạn đạo nhưng tôi nghĩ họ sẽ không cần sử dụng tới nó vì nếu chiến tranh có diễn ra sẽ là các cuộc hải chiến trên biển và Trung Quốc sẽ tận dụng sức mạnh không quân của họ để tấn công và yểm trợ cho hải quân. Những cứ điểm quan trọng của Việt Nam như Hải Phòng, Nha Trang hay Vịnh Cam Ranh sẽ bị tấn công nhằm không cho các tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam xuất kích.

Trung Quốc sẽ tận dụng các loại tên lửa đất đối không trên các chiến hạm và chiến đấu cơ của họ để áp đảo làm cho Việt Nam không có cơ hội kiểm soát mặt biển.

Mặc Lâm: Trong thế mạnh quân sự giữa hai nước rõ ràng Việt Nam không phải là địch thủ của Trung Quốc. Theo ông Việt Nam có thể cầm cự và kéo dài cuộc chiến trong bao lâu?

GS Carl Thayer: Việt Nam có thể tập trung nhanh chóng một lực lượng đủ mạnh để chống lại Trung Quốc với 5 triệu người dân dự bị cộng với 400 ngàn binh sĩ trên đất liền. Chiến lược mà Việt Nam dùng là sẽ tập trung vào sức mạnh mà họ kêu gọi từ toàn dân và họ sẽ chống trả từ trên bờ đối với các cuộc tấn công của Trung Quốc.

Các loại tên lửa sẽ được Việt Nam dùng đến là chủ yếu nhưng vũ khí phòng vệ này của Việt Nam sẽ nhanh chóng không còn trong kho dự trữ và câu hỏi đặt ra Việt Nam sẽ tiếp tục có chúng từ nguồn cung cấp nào. Chắc chắn tên lửa phải được nhập từ Nga nhưng tôi rất nghi ngờ khả năng này vì Nga sẽ không thể cung cấp một cách nhanh chóng cho cuộc chiến hơn nữa không có lý do gì khiến Nga phải làm cho Trung Quốc nổi giận. Nga sẽ giữ thái độ trung lập và điều này làm cho Việt Nam thất thế.

Việt Nam có tên lửa Bastion rất mạnh và chính xác để tự vệ. Những tên lửa này có thể tấn công căn cứ hải quân Tam Á trên đảo Hải Nam của Trung Quốc hay thành phố San Sha trên đảo Phú Lâm và các cuộc tấn công này sẽ làm cho Trung Quốc khó khăn bất ngờ. Bên cạnh đó những chiến đấu cơ tương đối hiện đại của Việt Nam cũng sẽ gây khó khăn cho tàu chiến Trung Quốc bằng các loại hỏa tiển tầm xa. Tuy nhiên phải nói là cũng rất giới hạn về số lượng.

Mặc Lâm: Khi nhắm vào các quân cảng quan trọng của Việt Nam như Nha Trang hay vịnh Cam Ranh Trung Quốc sẽ có chiến thuật gì để tấn công trực tiếp vào đây?

GS Carl Thayer: Chiến đấu cơ Trung Quốc phát xuất từ Hải Nam sẽ được bổ sung từ đảo Phú Lâm sẽ là lực lượng chính tấn công những căn cứ hải quân này của Việt Nam vì khoảng cách cho phép chúng bay vào rồi quay trở lại nơi xuất phát. Hỏa tiển đạn đạo từ tàu ngầm Trung Quốc sẽ được mang ra tấn công vào đất liền của Việt Nam. Tàu ngầm cũng sẽ mang thủy lôi để phong tỏa các điểm quan trọng này và ngăn không cho tàu ngầm Việt Nam ra khơi. Thế mạnh của Trung Quốc về vũ khí sẽ làm Việt Nam không thể chiến đấu từ thời điểm bắt đầu cuộc chiến và do đó Việt Nam sẽ không vận dụng được chiến lược phòng thủ.

Mặc Lâm: Lúc gần đây Hoa Kỳ có ngầm gợi ý sẽ mang chiến hạm thuộc Hạm đội 7 vào thăm Việt Nam thường xuyên hơn, theo ông nếu cuộc chiến xảy ra khả năng can thiệp của Hoa Kỳ có cao không?

GS Carl Thayer: Việt Nam không phải là đồng minh của Hoa Kỳ cộng với cuộc chiến tranh nếu có cũng rất ngắn. Tôi cho rằng Hoa Kỳ sẽ không cho phép hải quân của họ tham gia vào cuộc chiến và vì vậy Việt Nam phải tự lo liệu cho mình mà thôi.

Mặc Lâm: Còn Nhật Bản thì sao thưa GS, họ có nắm lấy cơ hội này tham gia cuộc chiến nhằm tự bảo vệ cho chính họ trước các hành động gây hấn liên tục của Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku hay không?

GS Carl Thayer: Nhật Bản sẽ tập trung cao độ nếu cuộc chiến xảy ra nhưng họ sẽ không làm gì hơn là chuẩn bị một cuộc tấn công khác có thể Trung Quốc sẽ nhằm vào họ. Vì vậy tôi nghĩ Nhật Bản sẽ không có bất cứ hành động nào yểm trợ Việt Nam. Hơn nữa từ vùng biển của Nhật tới biển Đông là một chặng hành trình rất dài và sẽ rất dễ tổn thương nếu bị Trung Quốc tấn công.

Mặc Lâm: Xin được hỏi ông câu cuối cùng, Việt Nam sẽ gặp các hậu quả như thề nào nếu cuộc chiến xảy ra?

GS Carl Thayer: Trước tiên là giá bảo hiểm về hàng hải và hàng không sẽ tăng rất cao khi chiến tranh xảy ra. Quan hệ kinh tế là điều tệ hại nhất sẽ xảy ra cho doanh nghiệp cả hai nước, họ sẽ trở thành nạn nhân đầu tiên. Tử vong sẽ lan tràn khi cuộc chiến nổ ra và Việt Nam có thể tấn công trả đũa vào các thành phố miền Nam của Trung Quốc gây tác hại cho kinh tế tại nhiều khu vực phía Nam sát với biên giới hai nước.

Một làn sóng tỵ nạn rất lớn khi người Hoa chạy sang Cambodia sẽ làm cho tình hình càng khó kiểm soát hơn.

Vấn đề chính tệ hại nhất xảy ra cho Việt Nam là thời điểm hiện nay không phải là thời gian của thập niên 60 khi Mỹ đánh bom xuống miền Bắc, lúc ấy người dân có thể chiến đấu trong tình trạng rất khó khăn, họ có thể dùng than để nấu nướng mà không hề gì. Tuy nhiên khi cuộc chiến xảy ra vào lúc này hàng chục thành phố miền Bắc sẽ mất điện kéo dài vì Trung Quốc cắt nguồn điện mà họ cung cấp cho Việt Nam, lúc ấy hàng triệu người dân Việt Nam sẽ trở thành con tin của Trung Quốc và đây là điểm chính mà Việt Nam sẽ gặp phải khi chiến tranh nổ ra mặc dù ngắn hạn đi nữa.

Mặc Lâm: Xin cám ơn giáo sư.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 25th 2015, 7:38am)


58

Thursday, June 25th 2015, 7:45am

NHÂN TỐ MỸ, NGA TRONG VẤN ĐỀ VỊNH CAM RANH

TTXVN (Bắc Kinh 14/11)

Trang “Quan điểm Trung Quốc” mới đây đăng bài viếtNhân tố Mỹ, Nga trong vấn đề vịnh Cam Ranh” của chuyên gia bình luận quốc tế Cao Vinh Vĩ, có nội dung như sau:

Trên toàn cầu, rất hiếm có một cảng biển như vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Trong chưa đến 100 năm, vịnh Cam Ranh lần lượt trở thành căn cứ quân sự của các nước lớn như Mỹ, Nga – nó từng tập trung hàng trăm tàu chiến của thời Nga Hoàng; từng được Mỹ xây dựng thành “cứ điểm hải quân trọng yếu và xa hoa nhất châu Á”; đồng thời nó cũng từng là căn cứ quân sự lớn nhất bên ngoài lãnh thổ của Liên Xô trước đây.

1. Vịnh Cam Ranh có giá trị chiến lược đặc biệt quan trọng

Vịnh Cam Ranh rốt cuộc là một cảng biển như thế nào, vì sao vai trò của nó lại quan trọng đến mức khiến các cường quốc trên thế giới đua nhau tranh giành, đằng sau các động thái này là gì?

Cảng Cam Ranh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Khánh Hoà của Việt Nam, cách quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) khoảng 600 km, cửa vịnh hẹp, địa thế hiểm yếu, dễ phòng ngự, là một trong những cảng nước sâu tự nhiên tốt nhất trên thế giới.

Vịnh Cam Ranh nắm giữ yết hầu của Nam Hải (Biển Đông), là con đường chiến lược thông sang Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, chỉ cách tuyến đường biển quốc tế nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương khoảng 1 giờ hành trình, có thể khống chế eo biển Malắcca và eo biển Xinhaapo, ngoài ra còn có thể tiến hành theo dõi, giám sát điện tử đối với khu vực Đông Bắc Ấn Độ Dương, vịnh Pécxích. Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Nam Hải. Tại đây tàu sân bay và hàng trăm tàu chiến có thể cập bến, và được coi là quân cảng số một châu Á. Toàn bộ vịnh Cam Ranh được các ngọn núi có độ cao trung bình khoảng 400m bao bọc xung quanh, địa thế hiểm yếu, kiểm soát cao điểm nên rất dễ bố trí canh phòng, thuận tiện cho việc phòng thủ, có thể triển khai tên lửa phòng không và các loại pháo cao xạ. Tại đây, các tàu hàng chục triệu tấn có thể tự do ra vào, đồng thời có thể làm điểm đỗ cho khoảng 40 tàu chiến cỡ lớn, bao gồm cả tàu sân bay hoặc hơn 100 tàu chiến có trọng tải dưới 40.000 tấn, hơn nữa do cửa vịnh hẹp, cảng vịnh nằm sâu trong lục địa khoảng 17km, nên có giá trị hết sức to lớn về mặt quân sự.

Hơn một thế kỷ qua, nhiều nước lớn quân sự thay phiên nhau coi vịnh Cam Ranh là báu vật. Là một cảng biển tự nhiên quan trọng của Việt Nam, vịnh Cam Ranh từ xưa đến nay là vùng đất tranh giành của các nước lớn. Năm 1905, trong cuộc hải chiến Nhật-Nga, hàng trăm tàu chiến của Nga Hoàng đã tập trung tại đây. Năm 1935, Pháp bắt đầu thi công xây dựng căn cứ hải quân tại đây. Năm 1940, vịnh Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành căn cứ để xâm lược Đông Nam Á. Từ năm 1945 đến 1954, Pháp đóng quân tại đây. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1967, Mỹ đã đầu tư rất lớn, mở rộng cảng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải-lục-không quân và căn cứ tiếp tế hậu cần khổng lồ của Mỹ tại Đông Nam Á. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, người Mỹ buộc phải rút chạy. Trước khi Việt Nam thực hiện thống nhất đất nước năm 1975, lần lượt Nga, Pháp, Nhật Bản, Mỹ đã từng sử dụng căn cứ vịnh Cam Ranh.

Năm 1979, sau khi ký hiệp định thuê miễn phí 25 năm với Việt Nam, Liên Xô trở thành chủ nhân mới của vịnh Cam Ranh. Sau đó, quân đội Liên Xô đã xây dựng vịnh này thành căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở nước ngoài. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga tiếp tục kế thừa căn cứ này. Tháng 9/2000, mặc dù Nga đã xoá 85% trong tổng số nợ 11 tỷ USD của Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục yêu cầu Nga mỗi năm phải trả 400 triệu USD tiền thuê vịnh Cam Ranh. Căn cứ tình hình kinh tế khó khăn của đất nước, căn bản không đủ sức gánh vác nên năm 2002, Nga rút khỏi vịnh Cam Ranh trước thời hạn, và quân đội Việt Nam tiếp quản từ đó cho đến nay.

Trên thực tế, các tập đoàn quân sự quan trọng trên thế giới, nhất là Mỹ, Nga đã có thời gian dài sử dụng vịnh Cam Ranh, vì vậy luôn có ý muốn quay trở lại vịnh này. Do vị trí chiến lược quan trọng của vịnh Cam Ranh, mấy năm gần đây nó một lần nữa trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng tranh giành giữa Mỹ và Nga. Khi vấn đề Biển Đông dậy sóng, một loạt động thái của Việt Nam khiến cho tình hình khu vực này trở nên phức tạp hơn.

2. Mỹ luôn mong muốn kiểm soát vịnh Cam Ranh

Sau khi Nga rút quân vào năm 2002, vịnh Cam Ranh đã ít được quan tâm trong cục diện quốc tế nhiều biến động gần 10 năm qua, song cách đây không lâu, một lần nữa nó trở thành tiêu điểm chú ý của dư luận quốc tế. Thứ nhất, Mỹ từ lâu đã muốn tái sử dụng vịnh Cam Ranh nên sớm quan tâm đến vịnh này. Những năm gần đây, sở dĩ Mỹ “từ bỏ hiềm nghi trước đây” đối với Việt Nam, ra sức lôi kéo Việt Nam chính là do muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh.

Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ luôn chú ý đến vịnh Cam Ranh. Trong thời gian này, Mỹ không ngừng đề xuất mức tiền thuê vịnh Cam Ranh đối với Việt Nam, đặc biệt là năm 1992, sau khi quân đội Mỹ rút khỏi thành trì cuối cùng tại khu vực Đông Nam Á – căn cứ hải quân Subie và căn cứ không quân Clark (Philíppin) nên rất muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh, nhưng không thể thực hiện trong bối cảnh các nước xung quanh phản đối.

Vịnh Cam Ranh nằm gần Biển Đông hơn so với một số cảng vịnh của Mỹ như tại Yososuka, thậm chí gần hơn so với căn cứ Changi của Xinhgapo và Busan của Hàn Quốc, có thể nói là nắm chặt yết hầu của Biển Đông, hơn thế nữa là trấn giữ con đường trọng yếu chiến lược quan trọng nhất nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Vì thế, nhân quay trở lại châu Á, Mỹ tỏ ra tích cực hơn so với các nước khác đối với vịnh Cam Ranh.

Lâu nay liên tục có nhũng tin đồn về quân đội Mỹ muốn đóng quân tại vịnh Cam Ranh. Năm 1994, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ Richard từng đề xuất tái trở lại căn cứ quân sự vịnh Cam Ranh với phía Việt Nam; năm 2002, Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Blair chính thức đề nghị sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh với Việt Nam, với tiền thuê mỗi năm lên đến 1 tỉ USD; sau khi Obama lên cầm quyền, đồng thời với việc tuyên bố “quay trở lại châu Á”, Mỹ đã nhiều lần lên tiếng nhấn mạnh “quay trở lại Đông Nam Á”, đồng thời tích cực can dự vào các công việc của Biển Đông.


Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta thăm chính thức Việt Nam hai ngày. Ngày 3/6, Panetta đã tham quan căn cứ quân sự trước đây của Mỹ tại vịnh Cam Ranh, trở thành quan chức cấp cao nhất của Mỹ thăm vịnh Cam Ranh kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975 đến nay. Trong cuộc họp báo chung cùng Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Panetta nêu rõ vịnh Cam Ranh là một cảng biển quan trọng, nếu Việt Nam có ý muốn cải tạo khu vực vịnh Cam Ranh và có nhu cầu giúp đỡ, Mỹ sẵn sàng ủng hộ. Hải quân Mỹ sau này có ý muốn thăm định kỳ vịnh Cam Ranh. Panetta nhấn mạnh mục đích chuyến thăm Việt Nam của ông chính là muốn xây dựng lòng tin giữa chính phủ và quân đội hai nước. Mỹ và Việt Nam cần tiếp tục phát triển quan hệ song phương trên các lĩnh vực, đặc biệt là về mặt hợp tác quốc phòng và an ninh.

Có tin Việt Nam đã đồng ý cung cấp dịch vụ cho tàu chiến phi chiến đấu Mỹ tại vịnh Cam Ranh.

Chuyến thăm của Panetta đồng nghĩa với việc thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Một bài viết có tựa đề “đế quốc quay trở lại” đăng trên tờ báo mạng nổi tiếng của Mỹ “Huffington Post” đánh giá: năm 2003 tàu chiến của hải quân Mỹ đã tới thăm Việt Nam; tháng 11/2011, Mỹ-Việt tổ chức diễn tập quân sự chung. Chuyến thăm lần này của Panetta được coi là cao trào, cho thấy quan hệ quân sự Mỹ-Việt được tăng cường hơn. Việt Nam thậm chí yêu cầu Mỹ xoá bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sang Việt Nam.

Các dấu hiệu trên cho thấy rõ quyết tâm hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ. Từ góc độ của Mỹ; quay trở lại vịnh Cam Ranh, quay trở lại Việt Nam không chỉ có thể tăng cường sự tồn tại quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á, mà còn có thể đạt được mục đích kiềm chế Trung Quốc về mặt quân sự. Có chuyên gia quân sự nói thẳng rằng Mỹ bày binh bố trận tại Việt Nam, mũi nhọn trực tiếp là nhằm vào Biển Đông và eo biển Đài Loan.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 25th 2015, 8:02am)


59

Thursday, June 25th 2015, 8:04am

3. Nga có khát vọng quay trở lại vịnh Cam Ranh nhàm chấn hưng vị thế cường quốc biển.

Nga cũng đang có những bước chuẩn bị nhằm quay trở lại vịnh Cam Ranh. Sau khi Putin lên cầm quyền, bên cạnh việc tăng cường thực lực tổng hợp quốc gia, Nga bắt đầu vươn dài chiếc vòi chiến lược của hải quân, không quân của mình ra bên ngoài. Putin từng nói thẳng nếu từ bỏ chiến lược xây dựng hải quân, Nga sẽ đánh mất quyền phát ngôn trên vũ đài quốc tế. Trong khi đó, quay trở lại vịnh Cam Ranh không chỉ tạo thuận lợi cho quyết tâm chấn hưng cường quốc biển, mà còn là một trong những bước then chốt nhằm khôi phục sức mạnh uy hiếp chiến lược trước đây của hải quân viễn dương Nga.

Ngày 6/10/2010, Bộ Tham mưu Hải quân Nga “đột nhiên” cho biết hải quân Nga đã hoàn thành luận chứng tư liệu liên quan đến việc khôi phục căn cứ hải quân ở Vịnh Cam Ranh. Nếu có thể, trong vòng 3 năm tới họ có thể quay trở lại sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Tờ “Độc lập” của Nga dẫn nguồn tin từ hải quân Nga cho biết lần này Nga sẽ quay trở lại vịnh Cam Ranh theo hình thức cho thuê. Thời gian thuê ít nhất là 25 năm, sau khi kết thúc hợp đồng có thể thương lượng kéo dài.

Từ ngày 26/7/2012, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thực hiện chuyến thăm chính thức Nga kéo dài 5 ngày. Chuyến thăm Nga của Chủ tịch Trương Tấn Sang không thực sự thu hút sự chú ý của dư luận, nhưng có một điểm được ông đề cập đến đã thu hút mọi con mắt của dư luận quốc tế – đó là vịnh Cam Ranh. Khi trả lời phỏng vấn báo chí Nga, ông Trương Tấn Sang nêu rõ trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác quân sự với Nga. Mặc dù ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh Việt Nam không có ý hợp tác với bất kỳ quốc gia nào về việc sử dụng vịnh Cam Ranh vào mục đích quân sự, nhưng việc một vị nguyên thủ của Việt Nam đưa ra tuyên bố trên đúng vào dịp 10 năm Nga rút quân khỏi vịnh Cam Ranh, lập tức tạo ra nhiều phán đoán khác nhau.

Có lẽ một việc không hoàn toàn ngẫu nhiên là ngày 26/7, Tư lệnh Hải quân Nga Viktor Chirkov cho biết Nga đang bắt tay vào việc triển khai các căn cứ quân sự bên ngoài lãnh thổ Nga. Đồng thời, ông cũng nói: “Chúng tôi đang thương thảo để xây dựng trung tâm sửa chữa trên biển tại Cuba, Xâysen và Việt Nam”.

Ngày 27/7, Tổng thống Putin tuyên bố Nga sẽ cung cấp khoản vay khoảng 10 tỷ USD cho Việt Nam. trong đó khoảng 8 tỷ USD dùng vào việc xây dựng nhà máv điện hạt nhân tại Việt Nam. Đáp lại, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang lập tức bày tỏ phía Việt Nam sẽ cho phép Nga thiết lập một cơ sở sửa chữa tàu thuyềntại cảng Cam Ranh.

Vịnh Cam Ranh nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người, trở thành tiêu điểm quan tâm của thế giới. Putin hào hiệp giúp đỡ, dùng khoản tiền lớn để đổi lấy việc Việt Nam cho phép Nga tiến vào cảng Cam Ranh, mục đích rất rõ ràng đó chính là muốn ngăn cản Mỹ kiểm soát vịnh Cam Ranh, từ đó tìm cách khôi phục sức mạnh răn đe chiến lược của hải quân viễn dương thời Liên Xô trước đây.

Hợp tác Nga-Việt trong vấn đề vịnh Cam Ranh đã mở ra cục diện tranh giành Mỹ-Nga xung quanh vịnh Cam Ranh. Ban đầu dường như Nga chiếm thế thượng phong, nhưng không có nghĩa đã đẩy MỸ ra khỏi cuộc chơi.

Có một luồng quan điểm cho rằng đối với Việt Nam, ý nghĩa của chính vịnh Cam Ranh không lớn như vậy mà nó nằm ở chỗ các chiến hạm cỡ lớn có thế đồn trú tại đây. Cho nên, Việt Nam một mặt hướng về phía Mỹ, còn mặt khác lại hướng về Nga, lợi dụng giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh để chờ giá cao, hai bên đều không bị mắc tội, coi vịnh Cam Ranh là quân bài trong cuộc chơi giữa Mỹ và Nga.

4. Đưa vào nhân tố quốc tế là một biện pháp của Việt Nam nhằm đối kháng với Trung Quốc

Nhưng nhìn từ phương diện khác, vịnh Cam Ranh hết sức quan trọng đối với Việt Nam, nó có khả năng khống chế đối với bất cứ đảo nào tại Biển Đông, cao hơn bất cứ căn cứ hải quân nào của Trung Quốc hiện nay. Vì thế, Việt Nam chắc chắn sẽ biến nó thành căn cứ quân sự quan trọng nhằm tranh giành Biển Đông với Trung Quốc, từ đó kiểm soát vùng biển này.

Việt Nam lôi kéo thế lực bên ngoài chính là muốn từng bước phức tạp hoá, quốc tế hoá vấn đề Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần cho biết không cho thuê vịnh Cam Ranh sử dụng vào mục đích quân cảng, cho rằng “Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh không hợp tác với nước ngoài trong việc sử dụng vịnh Cam Ranh vào mục đích quân sự, nhưng sẽ khai thác tiềm năng của khu vực vịnh Cam Ranh phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Việt Nam đưa ra thông tin khai thác vịnh Cam Ranh, được dư luận coi là “mục đích lôi kéo nhân tố quốc tế, đối kháng Trung Quốc”. Trên thực tế, Việt Nam đã coi vịnh Cam Ranh là con bài mặc cả giữa Mỹ và Nga, thậm chí với cả Trung Quốc.

Tại khu vực xung quanh Biển Đông, động thái của Việt Nam là lớn nhất, dã tâm lớn nhất, Việt Nam chưa khi nào từ bỏ ý đồ sử dụng biện pháp quân sự giải quyết vấn đề Biển Đông. Nhưng, thực lực có hạn nên Việt Nam hy vọng biến vịnh Cam Ranh thành một điểm, lôi kéo nước lớn, đối kháng Trung Quốc, về mặt quân sự nhằm tăng cường sức uy hiếp đối với Trung Quốc.

Ý đồ của Việt Nam phù hợp với lợi ích chiến lược của Mỹ và Nga. Tạp chí “Lợi ích quốc gia” của Mỹ bình luận rằng hợp tác an ninh với Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, là một trong những sách lược “kiềm chế” Trung Quốc của Chính quyền Obama.

Đối với Nga, có nhà quan sát chỉ rõ cùng với tình hình Xyri ngày càng căng thẳng, Nga có thể đánh mất căn cứ quân sự duy nhất ở bên ngoài khu vực Liên Xô trước đây. Tại khu vực Đông Nam Á, Nga cũng mong muốn mở rộng sức ảnh hưởng chứ không phải là đối tác và trợ thủ của Trung Quốc. Có nhà phân tích cho rằng một loạt động thái của Việt Nam trong vấn đề vịnh Cam Ranh chỉ là một mắt xích trong chính sách gây sức ép đối với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp Biển Đông. Vịnh Cam Ranh có ý nghĩa chiến lược quan trọng, rõ ràng có thể trở thành một quân bài trong tay Việt Nam nhằm gây sức ép với Trung Quốc.

Hiện nay, Mỹ và Nga đang tranh giành vịnh Cam Ranh của Việt Nam, chưa biết ai thắng ai thua, nhưng chắc chắn sẽ có một cuộc cạnh tranh thú vị. Căn cứ vào quan hệ hợp tác truyền thống Nga-Việt và những vướng mắc lịch sử Mỹ-Việt, trong cuộc đua giành quyền kiểm soát vịnh Cam Ranh giữa Mỹ và Nga, có lẽ phần thắng nghiêng về phía Nga nhiều hơn. Tuy nhiên, cho dù Mỹ hay Nga có thể giành thắng lợi đều hết sức bất lợi cho Trung Quốc, nhất là nếu Mỹ có thể kiểm soát vịnh Cam Ranh, như vậy đồng nghĩa với việc bóp chặt yết hầu của Biển Đông, tạo thành mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng đối với Trung Quốc.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 25th 2015, 8:17am)


60

Saturday, June 27th 2015, 4:25am

Nhận định:

Chúng ta có lẽ nên hết sức lắng nghe những lời vàng ngọc của GS Carl Thayer, tựu trung có những điểm sau đây:

- Nếu chiến tranh có diễn ra sẽ là các cuộc hải chiến và TC sẽ tận dụng sức mạnh không-hải-quân để đổ bộ tấn chiếm các tỉnh duyên hải như Thanh Hóa, Hải Phòng, Nha Trang hay Vịnh Cam Ranh. ( NP thì thấy không phải là tp Thanh Hóa như TC hăm he mà là tp Vinh, vì từ Lào, TC có tới 3 con đường 7, 8 và 15 để đổ quân sang, để cùng với quân đổ bộ cắt đứt yết hầu VN ).
- Với 400.000 chiến sĩ và lực lượng đông đảo chiến xa và tên lửa, nếu phòng bị sẳn sàng thì VN có thể " dàn chào " lực lượng đổ bộ của TC. Tuy nhiên số lượng vủ khí nầy sẽ nhanh chóng cạn kiệt mà khó có hy vọng được Nga bổ sung, hoặc bổ sung kiệp thời. Đó là chưa kể TC sẽ dập phủ đầu cho tan nát, bằng lực lượng không quân và hỏa tiển tầm gần của hải quân.

- Với tên lửa Bastion rất mạnh và chính xác VN phải tấn công ngay từ đầu căn cứ hải quân Tam Á trên đảo Hải Nam hay thành phố San Sha trên đảo Phú Lâm. Tốt hơn hết là khi phi cơ và tàu chiến của TC vừa vượt qua không-hải-phận VN ( VN chỉ tự vệ mà không có được cái cơ hội như Do Thái đánh phủ đầu các nước Ả Rập ).
- VN sẽ phải chiến đấu đơn độc để sống còn mà không có hy vọng được tiếp cứu hay can thiệp bởi một nước nào khác. Đó là vì VN không liên minh quân sự với một nước khác để chống TC ( do hy vọng là TC sẽ để cho mình yên ). Vậy thì VN đã tự đặt mình lên trên thớt mà tha hay giết là do " lượng từ bi " của giặc.
- Và cuối cùng là dù TC không muốn diệt nước VN, thì chỉ cần một cái búng tay VN cũng phải chịu nhiều khốn khó, như bị cúp điện chẳng hạn. Đau quá nhĩ ? ;( ;( ;(

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Jun 27th 2015, 5:05am)


7 users apart from you are browsing this thread:

7 guests

Similar threads