You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

841

Tuesday, March 5th 2019, 4:51pm

Thứ ba, Trung Cộng duy trì tính chất mơ hồ chiến lược trước những hành động của Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản có thể tấn công Triều Tiên, vừa không phản đối rõ ràng, vừa không nói là ủng hộ. Mỹ vốn có thái độ mơ hồ, tính mơ hồ đó làm cho Mỹ rất khó thực hiện hành động quyết đoán đối với Triều Tiên.
Rõ ràng, vấn đề mà Trung Cộng phải đối mặt là không tách bạch giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Những điều đề cập ở trên bao gồm làn sóng dân di cư đều là vấn đề trước mắt, chứ không phải là vấn đề lâu dài. Mọi người đã quên rằng làn sóng dân di cư chỉ là tạm thời, còn cuộc khủng hoảng hạt nhân của Triều Tiên lại là mãi mãi. Nếu vì lợi ích trước mắt mà lẩn tránh giải quyết vấn đề trong thực tế thì sẽ tạo thành khủng hoảng kéo dài mãi đối với Trung Quốc.
Biện pháp duy nhất mà Trung Cộng muốn giải quyết tình trạng khó xử về lợi ích chính là thay đổi định vị đối với vấn đề Triều Tiên, đó là không còn tiếp tục coi vấn đề Triều Tiên là vấn đề của Mỹ, mà cần nhận thức được đây là vấn đề của chính Trung Quốc, không nên tiếp tục chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, mà cần hướng tới lợi ích lâu dài. Nếu lập trường của Trung Cộng có sự thay đổi như vậy thì chính sách và chiến lược của nước này sẽ hoàn toàn khác.
Trung Cộng cần điều chỉnh chính sách như thế nào?
Đến nay, Mỹ dường như đã lợi dụng rất tốt tình trạng bế tắc của Trung Cộng, dù ở Mỹ hay ở nước ngoài, Washington đều quy kết nguyên nhân khiến Triều Tiên có thể phát triển vũ khí hạt nhân là do Trung Cộng. Người Mỹ nhận định như vậy không có gì đáng ngạc nhiên bởi nếu đổi vị trí Trung Cộng thành Mỹ thì có thể có chiến lược và chính sách khác. Mọi người có thể thấy rõ người Mỹ năm 1962 đã làm thế nào để vượt qua nguy hiểm bùng nổ chiến tranh hạt nhân với Liên Xô để xử lý cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Đối với Trung Cộng, trước hết phải nhận thức được những gì là thiếu lý trí trong hành động của mình.
Thứ nhất, vì sao luôn coi vấn đề Triều Tiên là vấn đề của Mỹ, chứ không phải là vấn đề của Trung Cộng?
Ở đây bao gồm phía nhà nước, mọi người thường tìm về nguyên nhân ban đầu của vấn đề Triều Tiên. Tuy nhiên, việc tìm kiếm nguyên nhân lịch sử gây ra vấn đề Triều Tiên cũng không có ý nghĩa gì. Thực ra, mục đích phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là để chĩa vào Mỹ, bởi vì Mỹ tạo ra mối đe dọa an ninh quốc gia đối với Triều Tiên, thậm chí là đe dọa đối với sự an toàn của lãnh đạo Triều Tiên. Mỹ cũng thường xuyên đưa ra “cây gậy”, làm cho tình hình rất khó thực sự hòa dịu, giữa Mỹ và Triều Tiên thiếu lòng tin, nên thường dẫn đến tình hình xấu đi. Do đó, nếu vấn đề muốn được giải quyết một cách hòa bình trong khuôn khổ hiện có, thì nó sẽ được quyết định bởi sự cải thiện quan hệ Triều Tiên-Mỹ.
Trung Cộng đẩy trách nhiệm cho Mỹ, nếu chỉ là ngôn từ ngoại giao thì có thể hiểu được; nhưng nếu thực sự Trung Cộng nghĩ sao làm vậy thì chắc chắn phạm phải sai lầm lịch sử hoàn toàn. Vấn đề ở đây là Trung Cộng phải hứng chịu hậu quả Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân chứ không phải là Mỹ. Triều Tiên hiện tại đang ngang nhiên thử vũ khí hạt nhân ở khu vực gần biên giới với Trung Cộng, đã gây ảnh hưởng mang tính phá hoại đối với rất nhiều lĩnh vực như đời sống, kinh tế… của người dân Trung Cộng. Vì an ninh của mình, Hàn Quốc đã mở đường cho Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) của Mỹ vào nước họ, an ninh của hơn một nửa lãnh thổ Trung Cộng cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Cho dù Trung Cộng phản đối hoặc thực hiện biện pháp đáp trả như thế nào, nếu Triều Tiên tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân thì Mỹ và Hàn Quốc vẫn sẽ tiếp tục phát triển theo hướng đó, hành động của họ hoàn toàn có thể lý giải được.
Trong nền chính trị quốc tế, mỗi quốc gia đều hành động căn cứ vào định nghĩa của họ đối với an ninh quốc gia. Hàn Quốc không thể đơn độc ứng phó với khủng hoảng an ninh sau khi Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân, cho dù tổn thất về kinh tế và ngoại giao với Trung Cộng lớn đến đâu thì Hàn Quốc cũng chỉ có thể lựa chọn đi sâu hợp tác quân sự với Mỹ nhằm bảo đảm an ninh quốc gia cơ bản của Hàn Quốc. Nếu việc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân và kỹ thuật tên lửa đã trở thành sự “sùng bái” của toàn dân thì Hàn Quốc triển khai THAAD cũng đã trở thành “quyết định quốc gia” của Hàn Quốc, bất kỳ tiếng nói phản đối nào ở Hàn Quốc hay ở nước ngoài đều khó làm thay đổi quyết định này. Việc cải thiện quan hệ với Hàn Quốc gần đây được người ta lý giải thành Trung Cộng thừa nhận tính hợp pháp của THAAD được đưa vào Hàn Quốc trong thực tế.
Thứ hai, vì sao Trung Cộng lại xem nhẹ việc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân cho dù đó là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia của Trung Quốc?
Về tương lai lâu dài, một khi Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân thì Trung Cộng bị đe dọa nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Triều Tiên một khi đã sở hữu vũ khí hạt nhân, Hàn Quốc cũng phải phát triển vũ khí hạt nhân, Nhật Bản đương nhiên trở thành quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Đối với Seoul và Tokyo, phát triển vũ khí hạt nhân chỉ là vấn đề thời gian chứ không phải là vấn đề kỹ thuật. Như vậy, Trung Cộng đã trở thành quốc gia duy nhất bị vũ khí hạt nhân bao vây. Hiện nay, các nước láng giềng của Trung Cộng như Nga, Pakistan, Ấn Độ… đã sở hữu vũ khí hạt nhân, một khi Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân thì sẽ có thêm ba nước sở hữu vũ khí hạt nhân là Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản.

842

Tuesday, March 5th 2019, 4:52pm

Mặc dù xem xét từ tình hình hiện nay, có thể có người cho rằng đối tượng mà những nước phát triển vũ khí hạt nhân chĩa vào không phải là Trung Cộng, mà là nước khác, nhưng ai có thể đảm bảo cùng với sự thay đổi môi trường quốc tế trong tương lai, vũ khí hạt nhân của những nước này không phải chĩa vào Trung Cộng?
Trên phạm vi thế giới, một nước lớn thường khó xây dựng tốt quan hệ với các nước láng giềng nhỏ hơn. Trung Cộng không phải là ngoại lệ. Nga, Mỹ, Ấn Độ… đều như vậy. Ngoài Trung Cộng, tất cả các nước lớn đều không thể cho phép nước nhỏ láng giềng sở hữu vũ khí hạt nhân. Đây là lý do Mỹ giải quyết cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, cũng là nguyên nhân sâu xa đối đầu giữa Ấn Độ với Pakistan. Về vấn đề này, vì sao Trung Cộng lại coi nhẹ an ninh quốc gia cũng như thế hệ sau của mình trong tương lai như vậy?
Thứ ba, vì sao Trung Cộng vẫn sẵn sàng gánh vác trách nhiệm quốc tế nhiều hơn?
Trung Cộng là nước lớn đang trỗi dậy, mặc dù là nước đang phát triển nhưng hiển nhiên đã vượt qua giai đoạn đầu tiên của quốc gia trỗi dậy, hiện nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và quốc gia thương mại lớn nhất thế giới. Trên thực tế, Trung Cộng đang chuyển từ quốc gia hưởng lợi từ hệ thống quốc tế sang vai trò của quốc gia kiến tạo, không những cộng đồng quốc tế kỳ vọng Trung Cộng gánh vác trách nhiệm quốc tế và khu vực, Trung Cộng cũng mong muốn gánh vác trách nhiệm, về khách quan cũng thực sự đang gánh vác nhiều trách nhiệm hơn, nhưng về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên thì vẫn còn quá ít ỏi.
Vì sao Trung Cộng phải chấp nhận thử thách lớn?
Trong lĩnh vực thế giới không phổ biến vũ khí hạt nhân, cục diện do Mỹ và Nga (Liên Xô trước đây) giữ vai trò chủ đạo đang đối mặt với ngày càng nhiều thách thức. Cùng với sự suy giảm khả năng lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, việc xây dựng cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân với trách nhiệm nặng nề và lâu dài đang để lại không gian phát huy nhiều hơn cho Trung Cộng. Tóm lại, đối với Trung Cộng hiện nay và tương lai, việc gánh vác nhiều hơn trách nhiệm quốc tế không phổ biến vũ khí hạt nhân và tham gia quản lý toàn cầu chắc chắn sẽ đem lại nhiều hơn uy tín quốc tế quý báu cho Trung Cộng.
Vấn đề hạt nhân của Triều Tiên rõ ràng là một thử thách của nước lớn Trung Cộng trỗi dậy, ý nghĩa lịch sử của nó đồng nghĩa với cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba giữa Liên Xô và Mỹ trước kia. Nếu Trung Cộng muốn tích cực làm nên chuyện thì có những tư duy cụ thể nào?
Việc Trung Cộng đơn phương giải quyết vấn đề Triều Tiên hoặc liên kết với Nga giải quyết vấn đề Triều Tiên, thậm chí Trung Cộng và Mỹ sử dụng mô hình G2 để hợp tác giải quyết vấn đề Triều Tiên thì đều có thể thực hiện được. Khi so sánh, thượng sách nhất vẫn là Trung Cộng giành quyền chủ đạo hoàn toàn. Điều cần nêu rõ là Trung Cộng chủ động không phải là chỉ dựa vào bản thân giải quyết vấn đề Triều Tiên. Trung Cộng không những phải có vai trò lãnh đạo trong tìm kiếm hiệp thương giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên mà còn phải giành được vai trò chủ đạo trong hoạt động sử dụng vũ lực đe dọa Triều Tiên sau khi việc đàm phán hoàn toàn đổ vỡ. Cuộc khủng hoảng hạt nhân của Triều Tiên đã lên tới mức hiện nay, Trung Cộng nắm quyền chủ động không đồng nghĩa với việc sử dụng vũ lực, nhưng tuyệt đối không được loại trừ việc sử dụng vũ lực. Việc Trung Cộng thực hiện chủ động thực sự cũng bao gồm khả năng của mô hình G2.
Về tư duy khác, nếu nói rằng cuộc khủng hoảng hạt nhân của Triều Tiên hiện nay là vấn đề nan giải đối với Trung Cộng sẽ không đúng bằng nói đó là cơ hội để Trung Cộng chứng minh thực lực của mình trước thế giới. Trước hết, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã làm cho nước này mất đi sự tôn trọng của dư luận chủ lưu của thế giới. Sự kiện Bình Nhưỡng tổ chức ám sát Kim Jong-nam, anh ruột Kim Jong-un, ở Malaysia càng làm tăng thêm hình ảnh quốc tế xấu của Triều Tiên. Nếu Trung Cộng thực hiện hành động ngăn chặn mạnh mẽ hơn đối với Triều Tiên thì tính chính nghĩa quốc tế sẽ lớn hơn mọi cảnh cáo bằng vũ lực kể từ khi thành lập nước Trung Cộng mới đến nay. Do đó, hình ảnh quốc gia trỗi dậy hòa bình của Trung Cộng không thể vì thế mà bị sứt mẻ.
Thứ hai, từ quan hệ tế nhị giữa Trung Cộng và Mỹ về vấn đề Đài Loan trong những năm gần đây, có thể thấy Trump là một doanh nhân chuyên nghiệp không nhấn mạnh nhiều đến ý thức hệ, ông ta thực dụng hơn bất kỳ tổng thống Mỹ nào kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Chính phủ Mỹ trong nhiệm kỳ này đáng được Trung Cộng mặc cả về lợi ích địa chính trị. Việc làm này là cơ hội lịch sử hiếm có đối với việc Trung Cộng xây dựng lại cục diện địa chính trị Đông Bắc Á.
Thứ ba, Chính phủ Mỹ hiện nay để tâm nhiều hơn đến việc nhanh chóng giải quyết tình trạng rối ren tại Trung Đông liên quan đến tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS), xét đến cùng ân oán giữa Chính quyền Trump và các nước Hồi giáo là vấn đề văn minh, còn ân oán giữa Chính quyền Trump với Triều Tiên là vấn đề chiến lược, có giá trị mặc cả nhiều hơn đối với nước Mỹ hiện tại.

843

Tuesday, March 5th 2019, 4:53pm

Hiện tại, quan hệ giữa Trung Cộng với các nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đang ở thời kỳ tốt nhất kể từ Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt là đối với Nga. Trong vấn đề Triều Tiên, Trung Cộng thực hiện chủ động còn thuận lợi hơn nhiều so với Mỹ. Nga hiện nay đại diện cho phe trì hoãn việc cho phép trừng phạt Triều Tiên tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Điều này chứng tỏ phương hướng thay đổi của Nga đối với chính sách Triều Tiên về tổng thể thống nhất với Trung Cộng.
Cho dù Trung Cộng cũng đã ủng hộ rất lớn đối với Nga trong các vấn đề Crimea và Ukraine trước kia hay bán đảo Triều Tiên cũng liên quan đến lợi ích địa chính trị ở khu vực Viễn Đông của Nga, nhưng ảnh hưởng của Nga đối với Triều Tiên kém xa Trung Cộng. Nếu Trung Cộng thẳng thắn nêu rõ phương án mới của mình với Nga, trong tình hình được Mỹ ủng hộ, thì lý do Nga từ chối Trung Cộng không nhiều.
Chắc chắn, khi xử lý hành động đa phương trong vấn đề Triều Tiên, Trung Cộng không thể tiếp tục chấp nhận bị Chính phủ Triều Tiên “dắt mũi”, cho dù cuối cùng giải quyết bằng biện pháp hòa bình hay sử dụng vũ lực, Trung Cộng đều cần nắm chắc quyền chủ động. Nếu Trung Cộng không gia tăng sức ép lớn hơn, Mỹ và Nga sẽ không có điều chỉnh lớn về chiến lược, sách lược sở hữu vũ khí hạt nhân của Triều Tiên không thể có sự thay đổi nào, vòng tuần hoàn ác tính tiếp tục như vậy thì sẽ dẫn đến tai họa. Một khi Triều Tiên trở thành quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, mọi người hiện tại rất khó giải thích cho thế hệ con cháu sau này.

(Giáo sư Trịnh Vĩnh Niên, chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu về Chính sách công, Đại học Quốc gia Singapore, chuyên gia về nghiên cứu Đông Á.)

844

Tuesday, March 5th 2019, 5:04pm

Mỹ cam kết giúp Philippines tự vệ nếu bị tấn công trên Biển Đông
RFI Tiếng Việt
Trọng Nghĩa
Đăng ngày 01-03-2019

Trong một lời cảnh cáo mạnh mẽ nhất từ trước đến nay nhắm vào đích danh Trung Cộng , ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo hôm nay 01/03/2019 khẳng định Washington sẽ giúp Manila tự vệ trước bất kỳ một « cuộc tấn công vũ trang » nào ở Biển Đông. Ngay lập tức, Bắc Kinh đã đả kích Pompeo, xem đấy là một hành vi cố tình khiêu khích Trung Cộng .

Nhân chuyến ghé thăm Philippines ngay sau khi tháp tùng tổng thống Mỹ Donald Trump dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Mỹ-Triều tại Hà Nội, ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã có buổi hội kiến với tổng thống Philippines Rodrigo Duterte vào hôm nay.
Sau cuộc gặp, ngoại trưởng Mỹ đã có một cuộc họp báo chung với đồng nhiệm Philippines Teodoro Locsin tại Manila, trong đó ông xác định rằng các đảo nhân tạo của Trung Cộng tại vùng Biển Đông mà Bắc Kinh đang tranh chấp với các láng giềng là một mối đe dọa. Trước báo giới, ông Pompeo không ngần ngại khẳng định:

1. Biển Đông thuộc vùng Thái Bình Dương và
2. Việc bồi đắp đảo nhân tạo và các hoạt động quân sự của Trung Cộng tại Biển Đông đe dọa chủ quyền, an ninh, và qua đó là đời sống kinh tế của Philippines cũng như của Hoa Kỳ.

Trên cơ sở đó, ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh :
“Bất kỳ một cuộc tấn công vũ trang nào nhắm vào lực lượng Philippines, vào máy bay hoặc tàu bè của Nhà Nước Philippines ở Biển Đông sẽ kích hoạt các nghĩa vụ bảo vệ lẫn nhau được quy định trong Điều 4 của Hiệp Ước Phòng Thủ Hỗ Tương (Mỹ-Philippines)”.

Hiệp Ước này là một văn kiện được Mỹ và Philippines ký kết vào năm 1951, quy định là hai nước phải giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp xẩy ra một cuộc tấn công vũ trang ở Thái Bình Dương.
Theo ghi nhận của hãng tin Pháp AFP, đây là lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp của Mỹ công khai xác nhận việc Washington sẽ bảo vệ đồng minh của mình ở vùng Biển Đông, nơi đang có những tranh chấp chủ quyền được cho là dễ bùng nổ nhất trên thế giới hiện nay.
Trong thời gian qua, nhiều lãnh đạo cấp cao của chính phủ Philippines thường xuyên yêu cầu Hoa Kỳ nói rõ phạm vi áp dụng của Hiệp Ước Phòng Thủ Mỹ-Philippines, xác định xem Biển Đông có nằm trong khu vực Thái Bình Dương được đề cập đến trong hiệp ước hay không.

Cho đến nay, Trung Cộng luôn viện cớ “chủ quyền lịch sử” để đòi làm chủ hầu như toàn bộ Biển Đông, bất chấp tuyên bố chủ quyền của các nước Đông Nam Á như Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei, và bất chấp phán quyết của Tòa Thường Trực Quốc Tế La Haye theo đó yêu sách lịch sử của Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý. Trên biển, Bắc Kinh không ngần ngại dùng biện pháp mạnh để áp đặt các đòi hỏi chủ quyền của Trung Cộng .
Phản ứng trước tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Cộng Lục Khảng vào hôm nay đã nêu đích danh Hoa Kỳ để chỉ trích, cho rằng một quốc gia bên ngoài khu vực, chẳng hạn như Hoa Kỳ, nếu thực sự quan tâm đến hòa bình, ổn định và hạnh phúc của các dân tộc trong khu vực, thì nên tránh mọi hành động cố tình khiêu khích và gây rối.
Theo giới phân tích, trên đây là lập trường cố hữu của Bắc Kinh vốn không muốn quốc tế can thiệp vào vấn đề Biển Đông để Trung Cộng dễ chèn ép các nước nhỏ trong khu vực.
Ngược lại, Hoa Kỳ nhân danh nguyên tắc tự do hàng hải để cho tàu chiến qua lại trong vùng, và không ngần ngại áp sát những hòn đảo nhân tạo mà Trung Cộng kiểm soát để thách thức các yêu sách chủ quyền quá đáng của Bắc Kinh.

845

Tuesday, March 5th 2019, 5:11pm

Manila muốn xét lại hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines
RFI Tiếng Việt
Trọng Nghĩa
Đăng ngày 05-03-2019

Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines có từ năm 1951 cần phải được sửa đổi, nếu không thì Manila có nguy cơ bị kéo vào một cuộc chiến với Trung Cộng . Đây là nội dung tuyên bố vào hôm nay, 05/03/2019 của bộ trưởng Quốc Phòng Philippines, 4 ngày sau khi ngoại trưởng Mỹ khẳng định rằng Washington sẽ giúp Manila trong trường hợp bị tấn công trên Biển Đông.

Trong một thông báo, bộ trưởng Quốc Phòng Philippines Delfin Lorenzana giải thích :
“Tôi lo lắng không phải là vì thiếu sự trấn an, mà là vì khả năng bị lôi cuốn vào một cuộc chiến mà Philippines không gây ra và không mong muốn”.

Hôm thứ Sáu 01/03 vừa qua, nhân chuyến ghé thăm Philippines, ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã khẳng định rằng căn cứ vào bản hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines ký kết năm 1951, Mỹ sẽ can thiệp giúp Philippines nếu lực lượng, tàu thuyền và phi cơ Philippines bị tấn công võ trang trên Biển Đông.

Hoa Kỳ luôn chống lại các hành vi bồi đắp, xây dựng tiền đồn của Trung Cộng trên Biển Đông đe dọa quyền tự do lưu thông, và đã thường xuyên cho chiến hạm tiến hành các cuộc tuần tra bảo vệ quyền tự do hàng hải trong khu vực.
Đối với bộ trưởng Quốc Phòng Lorenzana, chính những chuyến tuần tra của Mỹ là nguy cơ kéo Philippines vào cuộc xung đột vũ trang với Trung Cộng . Theo ông:
“Khi cho tàu hải quân gia tăng các cuộc tuần tra tại vùng Biển Tây Philippines (tức là Biển Đông), Hoa Kỳ có nhiều khả năng bị vướng vào một cuộc chiến tranh “có nổ súng” với Trung Cộng … Trong trường hợp đó, và trên cơ sở bản (hiệp ước 1951), Philippines sẽ tự động bị lôi vào cuộc”.

Do đó, bộ trưởng Quốc Phòng Philippines cho rằng hai bên cần phải xem xét lại hiệp ước để thích ứng với môi trường an ninh rất khác biệt hiện nay.

846

Friday, March 8th 2019, 8:48am

Nạn ăn thịt người đã diễn ra ở Trung Cộng trong thời Mao Trạch Đông
Trích dẫn từ: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội (千秋功罪毛泽东: Ngàn thu công tội Mao Trạch Đông, trang 65-67)
Tác giả:Tân Tử Lăng, nguyên đại tá Sư đoàn trưởng quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, sau là chuyên gia nghiên cứu về Mao Trạch Đông.
Lời Tựa: “Công lao hơn đời, tội ác tày trời” (Trong văn bản tiếng Việt chưa in phần dịch lời Tựa) do Lý Nhuệ viết, ông là đảng viên lão thành, từng là Phó Trưởng ban Tổ chức TW Đảng CSTQ, có một thời gian làm thư ký cho Mao Trạch Đông.
Nhà xuất bản: Thư tác bảng, Hồng Công xuất bản năm 2007.
Bản dịch :“Mao Trạch Đông ngàn năm công tội”
Thông tấn xã Việt Nam dịch và in 2009 (phát hành hạn chế trong giới nghiên cứu)
Người làm bản điện tử: Mõ Hà Nội


Số người chết đói ở Trung Quốc trong thời gian 1959- 1962 là 5,11% dân số cả nước (37,55 triệu người chết đói). Sáu tỉnh nặng nhất là:
- An Huy 18,37%,
- Tứ Xuyên 13,07%,
- Quý Châu 10,23%,
- Hồ Nam 6,81%,
- Cam Túc 6,45%,
- Hà Nam 6,12%.
Sáu tỉnh bị nhẹ nhất là:
- Hà Bắc (gồm cả Bắc Kinh, Thiên Tân) 11%
- Giang Tây 1,06%,
- Thiểm Tây 1,02%,
- Cát Lâm 0,94%,
- Chiết Giang 0,55%,
- Sơn Tây 0,37%.
Sự chênh lệch này liên quan rất lớn tới tố chất của các Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ: nơi nào càng bám sát ―đường lối cách mạng của Mao, thì tỉ lệ người chết đói càng nhiều.

Nạn ăn thịt người đã diễn ra ở Tứ Xuyên và nhiều nơi khác: khi chôn người chết chỉ vùi nông, tối đến bới lên xẻo lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng.

Tàn nhẫn hơn là nạn ăn thịt trẻ con, điển hình là chuyện xảy ra ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, Khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.
Theo lời Trịnh Đại Quân, nguyên cán bộ Ban công tác nông thôn huyện Sùng Khánh. Đội sản xuất trên có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong một năm từ tháng 12- 1959 đến tháng II-1960, đã có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi ở nơi này. 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người.
Chuyện đau lòng đó diễn ra trong bối cảnh lương thực hết sạch, mọi người từng nhiều ngày phải ăn giun dế, côn trùng, lá cây, vỏ cây, cỏ dại, và cả đất thó. Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện vụ ăn thịt trẻ con. Hồi đó, tuy nhà ăn tập thể thực tế đã ngừng hoạt động vì không còn lương thực nữa, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.

Đêm ấy, đến lượt Vương cùng hai người khác đi tuần. Các mái nhà phủ trắng tuyệt đầu mùa sáng hẳn lên khi vầng trăng nhô ra khỏi đám mây. Nhóm tuần tra phát hiện một dải khói mỏng toả ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Họ chia nhau bao vây vu hồi, rồi đồng loạt bấm đèn pin nhảy vào nhà, nổ một phát súng cảnh cáo: tất cả ngồi im!
Đèn dầu được châm lên, nhà Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng lúc này chỉ thấy có 5. Thành viên thứ 6 là bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết hại, xẻ ra lấy thịt, đang luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm cây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến. Khi cả 5 người lớn bé bị trói thành một xâu đưa về trụ sở Đại đội sản xuất, trời đã sáng bạch.
Cán bộ lãnh đạo địa phương sau khi nghiên cứu cân nhắc, đã quyết định ỉm vụ này đi, vì sợ bị kỷ luật. Sau một ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa lại được tha.

Dân làng bàn tán, cho rằng chính phủ ngầm cho phép ăn thịt trẻ con. Thế là nạn ăn thịt trẻ con lan tràn, do "trọng nam khinh nữ", họ chỉ ăn bé gái, giữ lại bé trai. Không những ăn thịt, mà còn nghiền vụn xương đầu và tay chân ăn cho bằng hết.

Kẻ nhẫn tâm thì làm thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đánh đổi với hàng xóm: trao con mình cho người khác ăn, mang con người khác về làm thịt.
Một số xã viên ―nhìn xa trông rộng, đã đi bắt cóc trẻ con ở vùng lân cận về ăn, hoặc gài bẫy trẻ con như bẫy thú, kể cả việc sử dụng một loại thuốc nổ xưa kia dùng để bẫy sói: trẻ nhỏ nhặt được chiếc kẹo mùi vị thơm ngon, cho vào miệng nhai liền phát nổ, đầu mặt tan tành, khi gia đình hay tin tìm đến, thì chỉ còn lại vũng máu.

Trong ba năm đói kém ấy, tình hình xã hội rối ren nghiêm trọng. Tháng 12-1960, Chuyên khu Vô Hồ tỉnh An Huy xảy ra 180 vụ cướp lương thực. Nhiều vụ khác xảy ra ở Cam Túc, Quảng Đông, Quí Châu, Tứ Xuyên. Nhiều vụ bạo động qui mô lớn, các hoạt động phiến loạn vũ trang nổ ra ở Vân Nam, Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, An Huy, Hồ Bắc, các chính đảng hoạt động bí mật mọc lên như nấm, mãi đến năm 1970 mới dẹp xong.

Số người chết đói trong Đại tiến vọt không bởi thiên tai, mà do nhân hoạ, Mao hoạ, quyết sách sai lầm. Cuối tháng 6-1959, dự trữ lương thực trong cả nước 17 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu thành thị trong một năm. Nhưng trong tình hình lương thực giảm 30 triệu tấn, Mao lại quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để đổi lấy vàng và USD, bầng 24% dự trữ lương thực.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 8th 2019, 6:45pm)


847

Friday, March 8th 2019, 7:19pm

Nhận định:

Trên thế giới nầy hiện đang có lãnh đạo của 2 nước đang ngu xuẫn hoặc tán tận lương tâm đi theo con đường dẫn đến địa ngục xã hội chủ nghĩa chỉ để bảo vệ quyền lực của bọn chúng. Đó là lãnh đạo của 2 nước Bắc Hàn và Venezuela. Chúng bất chấp tất cả chỉ để giử vững ngôi vị độc tôn.

Chúng nhân danh “Nhân Dân”, nhưng nhân dân thực tế là gì?

Đối bọn ác quỉ xã hội chủ nghĩa nầy thì “Nhân Dân” chỉ là những con súc vật không hơn không kém. Chúng có thể bỏ đói, hành hạ thể xác và tinh thần, chém giết thẳng tay hằng triệu triệu mà không hề xúc động mãy may. Bởi vì chúng đang ngự trị trên ngôi cao của quyền uy trần thế mà linh hồn của chúng đang ở dưới chin tầng địa ngục để thờ lạy quỉ vương.
Bắc Hàn thì dân chúng vẫn chết đói bao chục năm nay. Venezuela thì dân chúng sắp chết đói. Thế mà cái bọn lãnh đạo súc sinh nầy vẫn kiên định lập trường đi theo xã hội chủ nghĩa và kiên quyết không nhận cứu đói và sống chung hòa bình.

Người dân trong những nước xã hội chủ nghĩa nầy trước khi chịu chết đói hay giết con thì hãy thực hành lời kêu gọi của bọn lãnh đạo súc sinh nầy:

“Vùng lên hởi khắp nô lệ ở thế gian,
Vùng lên hởi ai cơ cực, bần hàn !”

Bần hàn còn tốt hơn rất nhiều chết đói và giết con để ăn thịt!!!

848

Friday, March 8th 2019, 10:00pm

Một chiếc lá rụng biết mùa thu đến
Trích dẫn từ: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội (千秋功罪毛泽东: Ngàn thu công tội Mao Trạch Đông, trang 67-69)

Từ 10 đến 18-6-1960, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp tại Thượng Hải, chủ yếu thảo luận tình hình quốc tế và kế hoạch bổ sung cho 3 năm cuối (1960-1962) của Kế hoạch 5 năm thứ hai.
Chiều 18, Mao tự phê bình trước hội nghị. Đây là lần đầu tiên Mao nhận sai lầm sau thất bại của cuộc Đại tiến vọt nhưng rất hời hợt, cố làm nhẹ mức độ sai lầm, tổn thất, lại phê bình cấp dưới không hiểu lập trường, quan điểm, phương pháp mác xít. Ông nhấn mạnh đường lối chung là đúng đắn, công tác thực tế cơ bản làm tốt.
Hội nghị kết thúc, ngày 3-7 Mao đến khu nghỉ mát Bắc Đới Hà, tiếp tục suy nghĩ làm thế nào vượt qua khó khăn mà vẫn giữ được thể diện. Giữa lúc đó, một sự kiện kinh thiên động địa xảy ra ở Trung Nam Hải, khiến Mao mất hết thể diện.

Một buổi trưa, dưới chân tường cửa bắc Trung Nam Hải trên đường Văn Tân, nơi có nhiều tuyến xe công cộng qua lại, xuất hiện một nữ thanh niên mặc bộ đồ xanh công nhân, hai tay giơ cao hai tấm bìa cứng, một tấm viết:
“Tiêu diệt công xã nhân dân!”
Tấm kia viết:
“Đả đảo Mao Trạch Đông! Bành Đức Hoài muôn năm!”

Cô gái bị cảnh sát mặc thường phục túm cổ xách vào bên trong cửa bắc, khoá còng số 8. Tại đây, cô khai tên là Lưu Quế Dương, người Hồ Nam, công nhân nhà máy nhiệt điện Lý Ngư Giang, tổ tông ba đời bần cố nông, bản thân là đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản. Bố mẹ mất sớm, cô được chú thím nuôi khôn lớn, đến năm 1956 vào học việc tải nhà máy điện, 3 năm liền không về thăm nhà. Gần đây nghe tin thôn quê xảy ra nạn đói, cô về thăm chú thím và 4 em, cả nhà 6 người đều đã chết đói. Dân làng phải ăn rau dại, vỏ cây, đất thó. Cả thôn hơn 30 người chết đói, và nhiều người khác đang ngắc ngoải.
Cô nói:
“Trở về nhà máy, loa phát thanh suốt ngày ra rả ba ngọn cờ hồng, tình hình tốt đẹp. Tôi chẳng dám nói gì hết, hễ nói liền bị qui là phản cách mạng. Tôi biết rõ kẻ nào là hung thủ tổ chức Đại tiến vọt, công xã nhân dân, nhà ăn tập thể, làm nhiều người chết đói. Là hậu duệ ba đời bần cố nông, đoàn viên thanh niên, nữ công nhân điện, tôi không thông. Tôi lên Bắc Kinh hô khẩu hiệu, muốn đánh đổ công xã nhân dân, đánh đổ Mao Chủ tịch! Tôi muốn hô to: Bành Đức Hoài muôn năm, muôn muôn năm!”

Phòng trực ban cửa bắc gửi gấp khẩu cung của Lưu Quế Dương lên Bắc Đới Hà, nơi đang diễn ra Hội nghị công tác Trung ương. Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình đọc xong chuyển ngay Lưu Thiếu Kỳ. Lưu tái mặt, cho đăng vào tin ngắn hàng ngày của hội nghị. Thư ký thường trực Bộ Chính trị Điền Gia Anh không chuyển bản tin này cho Mao đang lâm bệnh, vì sợ làm như vậy khác nào tát vào mặt ông già.
Điền tin chắc rồi sẽ có người mang cho Mao xem kèm theo mật tấu Lưu cho in khẩu cung trên vào bản tin ngắn là có dụng ý xấu.

Cả nửa đầu năm 1960, Mao vẫn kêu gọi tiếp tục Đại tiến vọt, phấn đấu cho 18 triệu tấn thép, 300 triệu tấn lương thực. Đến trước hội nghị này, Mao mới thừa nhận cả nước đã xảy ra nạn đói. Hành động của cô gái HồNamkia khiến Mao hoàn toàn tỉnh ngộ. Một chiếc lá rụng biết mùa thu đến (Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu.)
Mao hiểu uy tín của mình trong toàn đảng, toàn dân đã xuống tới đáy vực. Mao thường ngồi một mình im lặng. Sau khi suy nghĩ kỹ, Mao xin nghỉ ốm, nhiều lần uỷ thác Điền Gia Anh chuyển ý kiến tới Bộ Chính trị: trong thời gian ông ta dưỡng bệnh, Lưu Thiếu Kỳ giữ chức Quyền chủ tịch Đảng.

Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Bành Chân đã thuyết phục được Mao đồng ý khôi phục danh dự cho trên một triệu cán bộ trong cuộc vận động chống phái hữu đã bị quy là phần tử cơ hội hữu khuynh, trong đó có Phó thủ tướng kiên trưởng ban công tác nông thôn Đặng Tử Khôi. Trong một cuộc hội ý Thường vụ Bộ Chính trị, Chu Đức đề nghị phục hồi danh dự cho Bành Đức Hoài, nhưng Mao không chịu:
“Mời Bành Đức Hoài trở lại, việc ở Lư Sơn cho trôi qua, ba lá cờ hồng không cần nữa. Được thôi, tôi và Lâm Bưu sẽ dưỡng bệnh lâu dài ở miềnNam, trao Bắc Kinh cho các ông.”
Lưu Thiếu Kỳ đành dàn hoà giữa hai người:
“Việc Bành Đức Hoài để lại sau, hãy vượt qua đại nạn trước mắt đã.”
Hội nghị Bắc Đới Hà lần này họp hơn một tháng (5-7 đến 10-8 ), xác định phương châm 8 chữ: chỉnh đốn, củng cố, bổ sung, nâng cao, đánh dấu chấm dứt Đại tiến vọt. Hôm bế mạc, với bộ mặt ốm yếu, đáng thương, tâm tư nặng nề, Mao kiểm điểm, thừa nhận mình không hiểu kinh tế, gây hoạ lớn, gây ra nạn đói lớn chết nhiều người như vậy, khó tránh khỏi trách nhiệm; các uỷ viên Bộ Chính trị, uỷ viên Trung ương, Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ và Thành uỷ cũng khó tránh khỏi trách nhiệm. Mao tuyên bố sau hội nghị này ông sẽ thật sự lui về tuyến 2, không nắm công tác kinh tế, công tác đảng, không chỉ huy sản xuất công nông nghiệp nữa, chỉ cùng Lâm Bưu nắm công tác quân sự và Phong trào cộng sản quốc tế, thời gian còn lại đọc sách, nghiên cứu lý luận. Mao một lần nữa đề nghị chính thức thông qua văn kiện nội bộ, để Lưu Thiếu Kỳ làm Quyền Chủ tịch Đảng trong thời gian ông ta dưỡng bệnh.

Từ đó Mao rút về tuyến 2 (nhưng không từ bỏ quyền lực), bắt đầu thời kỳ Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình chỉnh đốn, phục hồi kinh tế quốc dân. Sau hội nghị trên, trừ Mao Trạch Đông và Lâm Bưu dưỡng bệnh ở miền Nam, các uỷ viên Bộ Chính trị đều chia nhau xuống nông thôn điều tra nghiên cứu, giải quyết nạn đói và các vấn đề tại chỗ.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 9th 2019, 12:57am)


849

Friday, March 8th 2019, 10:10pm

Nhận định:

Thế mới biết thế nào là Hào Động nhé!
Hào Sơ Lục đó đã làm cho hào Cữu Ngũ phải lui về qui ẩn và chấm dứt một đại họa của người dân Trung Cộng.
Tiếc thay, nghiệp chướng qúa nặng nên người dân Trung Cộng sau đó một lần nữa lại chịu một đại họa khác cũng không kém phần bi thãm và tàn độc.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 9th 2019, 12:56am)


850

Saturday, March 9th 2019, 12:59am

Kiếp Nạn thứ 2: Nhân dân run rẩy trong cuộc khủng bố đỏ
Trích dẫn từ: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội (千秋功罪毛泽东: Ngàn thu công tội Mao Trạch Đông, trang 97-100)

Ở Trung Quốc, từ khi có trường học kiểu mới liền có phong trào học sinh. Từ thời đại Bắc Dương đến Tưởng Giới Thạch, phong trào học sinh xuất hiện trên vũ đài lịch sử với tư thế yêu nước, tiến bộ, cách mạng, trở thành lực lượng tiên phong thúc đẩy xã hội tiến bộ. Chưa một nhà thống trị nào có thể lợi dụng học sinh làm điều xấu. Chỉ có Mao Trạch Đông làm nổi việc này. Mao đã lợi dụng học sinh làm rối loạn cả xã hội, lật đổ cơ quan đảng và chính quyền các cấp, mượn bàn tay học sinh để giày vò các bạn chiến đấu hôm qua, đối thủ chính trị hôm nay.

Từ 18-8 đến 26-11-1966, Mao 8 lần tiếp tổng cộng 13 triệu Hồng vệ binh từ các nơi trong cả nước đến Bắc Kinh xâu chuỗi, sự cuồng nhiệt sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông sôi lên sùng sục, Mao là mắt bão làm cho cơn bão đỏ tạo phản tràn khắp Trung Hoa. Hồng vệ binh được tâng bốc lên tận trời xanh, khiến họ nảy sinh ảo tưởng vô cùng tận.

Vào lúc con em dân thường bất bình vì các vị trí công tác tốt đều lọt vào tay con em cán bộ, Mao kêu gọi đánh đổ phái cường quyền đi con đường tư bản, tức là đánh đổ bố mẹ những học sinh được ưu đãi kìa, các học sinh xuất thân dân thường liền đứng lên tạo phản.
Để thoát khỏi thế bị động, học sinh con em cán bộ cũng tham gia tạo phản với tư thế còn tả hơn, họ không lôi bố mẹ mình, mà lôi cấp trên, đồng cấp hoặc cấp dưới của bố mẹ ra đấu. Bất kể là con em cán bộ hay dân thường, tất cả đều phát điên.

Mao ủng hộ và ra lệnh bảo vệ những hoạt động tạo phản này. Quân đội và công an đều được lệnh cấm nổ súng vào Hồng vệ binh, kể cả bắn doạ, bị chúng đánh cũng không được đánh trả. Hồng vệ binh kéo nhau đi lục soát, đập phá, bắt bớ phê đấu cán bộ lâu năm, các giáo sư và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Họ không có sức đánh trả, nên chúng chẳng gặp nguy hiểm gì, mà lại được nhiều không kể xiết. Đó là cơ sở tư tưởng sâu xa của phong trào Hồng vệ binh.

Khởi đầu bằng việc đập phá tượng Thích ca mâu ni trên Phật Hương Các ở Di Hoà Viên, Hồng vệ binh đã phá hoại 4.922 trong số 6.843 di tích cổ ở Bắc Kinh. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có 10 triệu nhà bị lục soát, trong đó Bắc Kinh 11,4 vạn, Thượng Hải 10 vạn. Nhà riêng nguyên Bộ trưởng Giao thông Chương Bá Quân bị Hồng vệ binh chiếm làm trụ sở, hàng vạn cuốn sách ông lưu trữ bị chúng đốt suốt ngày đêm để sưởi ấm.
Hơn 200 sinh viên Đại học Sư phạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông san bằng mộ Khổng Từ. Lăng mộ của nhiều nhân vật lịch sử hoặc danh nhân như lăng Viêm đế, mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng. Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyên Chương, Ngô Thừa Ân, Từ Bi Hồng… bị đập phá.
Mao còn tạo ra cuộc khủng bố đỏ, cho Hồng vệ binh nông dân thả sức giết hại kẻ xấu (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, nhà tư bản, xã hội đen) để áp chế sự phản kháng của nhân dân. Chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi.
Nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời trung cổ. Ôn lại chuyện trên, cựu Hồng vệ binh Trần Hướng Dương sau này viết:
“Vì sao những đứa trẻ mười mấy tuổi đầu lại dã man giết người không chớp mắt như vậy? Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù. Thù địa chủ, thù nhà tư bản, thù Quốc Dân Đảng: Trả thù bằng thủ đoạn tàn nhẫn là thiên kinh địa nghĩa, vấn đề duy nhất là không biết chĩa vào đâu. Kè thù bên cạnh đã bị các bậc tiền bối quét sạch rồi, còn lại Tưởng Giới Thạch và đế quốc lại ở quá xa, không với tới được. Đại cách mạng văn hoá vừa nổ ra, mới đột nhiên biết quanh mình còn ẩn náu nhiều kẻ thù, chúng tôi vui mừng đến phát cuồng, bao nhiêu sức lực dồn nén dều bung ra. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin, mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa. Những việc làm xấu xa của Hồng vệ binh thật đáng nguyền rủa, nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách lớn tiếng hỏi lại: ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?”

Băc Kình nêu gương, những vụ tàn sát lan ra cả nước. Huyện Đạo ở HồNam là một trong những điển hình. Khắp nơi là những bố cáo giết người của toà án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người, (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu).
Trong hai tháng 7 và 8 năm 1967, Quan Hữu Chí, Trưởng ban vũ trang khu Thanh Đường đã chỉ uy dân quân dùng cuốc xẻng, súng bắn chim, gậy gộc giết hại 207 người, kể cả trẻ em. Do công lao trên, y được bầu là phần tử tích cực học tập và vận dụng tư tường Mao cấp tỉnh năm 1967.
Viên Phủ Lễ, Khu trưởng Lâm Phô tổ chức 120 dân quân nòng cốt trong ba ngày giết 569 người.
Trần Đăng Nghĩa, Chủ tịch Hội Bần nông Đại đội sản xuất Hạ Tưởng là thủ phạm chính trong một vụ giết người, cưỡng dâm tập thể. Thấy vợ mới cưới của con em địa chủ Trần Cao Tiêu xinh đẹp, y sinh lòng ghen ghét và sớm có ý đồ bất lương, thì nay thời cơ đến. Tối 26-8-1967. Nghĩa cho gọi Tiêu đến trụ sở đại đội và trói nghiến lại. Y cầm giáo đâm một nhát vào dùi anh Tiêu, rồi khoát tay ra hiệu. 7,8 dân quân xông vào dùng gậy đập anh Tiêu chết tươi. Để chứng tỏ mình kiên quyết cách mạng, y dùng mã tấu cắt đầu anh Tiêu, cùng hai con em địa chủ, phú nông khác cũng vừa bị đánh chết.
Chị Tiêu (xuất thân bần nông) sợ quá trốn về nhà mẹ đẻ ở làng khác, Nghĩa cho dân quân bắt chị trở lại, y tuyên bố các nơi khác vợ địa chủ đều phải phục vụ tập thể bần nông. Sau khi cơm no, rượu say, Chủ tịch Hội Bần nông và dân quân, tất cả 12 tên, luân phiên cường hiếp chị Tiêu khi ấy đang mang thai 3 tháng. Xong xuôi. Nghĩa không quên thực hiện chính sách của ĐCSTQ: cho dân quân khiêng nạn nhân đã ngất xỉu đến nhà bần nông Trần Nguyệt Cao, buộc chị làm vợ người nông dân già độc thân này.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 10th 2019, 6:22pm)


851

Saturday, March 9th 2019, 1:02am

Cô giáo Chu Quần ở Đại đội sản xuất Hoành Lĩnh xuất thân bần nông, kết hôn với Tưởng Hán Chính xuất thân địa chủ, họ đã có với nhau ba mặt con. Tưởng Hán Chính bị bắt ngay hôm đầu. Đêm 26-8-1967, Bí thư chi bộ Đường Hưng Hạo cùng Tiểu đoàn trưởng dân quân Tưởng Văn Minh xông vào nhà bắt chị Chu đưa ra sân kho. Tại đây chị thấy dân quân mang súng, mã tấu đang quây tròn quanh 14 người đều là con cháu địa chủ, phú nông, họ đều bị trói giật cánh khuỷu bằng dây thép. Đường hạ lệnh dẫn họ lên núi Mộc Phong, nơi có nhiều hang sâu hàng chục mét. Dọc đường, có người nhắc Bí thư chi bộ vợ chồng Tưởng Hán Chính-Chu Quần còn ba trẻ nhổ, y cho người quay lại bắt cả ba đứa mang theo. Tới nơi, y bắt mọi người đứng im không được nhúc nhích, rồi tuyên bố: Chúng tao là Toà án tối cao của bần nông, hôm nay tuyên án xử tử hình tụi bay! Bí thư chi bộ bắt đầu đọc tên, lần lượt giết từng người một.

Lối hành hình của chúng mang đặc sắc bản địa: bắt nạn nhân quỳ bên miệng hang, dùng xà beng quật vào sau não cho gục xuống, rồi đạp xuống hang… Người thứ 3 là Tưởng Hán Chính, anh sợ hãi không lê nổi đôi chân, bị dân quân lôi đến cửa hang. Mấy đứa trẻ sợ quá, vừa khóc, vừa la hét. Người thứ 4 là thầy thuốc Đông y Tưởng Văn Phàm, ông ung dung xin ngụm nước để đi vào cõi chết.
Dân quân quát:
“Làm gì có nước cho mày uống?.
Ông nói:
“Trước khi chết tôi xin ngụm nước có gì quá đáng đâu, ngày xưa khi chặt đầu còn cho 3 chiếc bánh bao nóng!”
Vừa nói xong đã bị đạp xuống hang sâu.

Người thứ 8 là Chu Quần. Ba đứa trẻ nhìn mẹ bị hại, khóc lóc thảm thiết. Không biết ngất đi trong bao lâu, Chu Quần bỗng thấy tiếng gọi mẹ văng vẳng bên tai. Tỉnh lại, chị thấy đứa con gái 8 tuổi nằm bên, thì ra mấy cháu cũng bị ném xuống hang theo mẹ. Nhờ đống xác người bị giết trước, hai mẹ con chị sống sót. Chị bảo con cởi trói cho mình. Hôm sau, những kẻ giết người phát hiện dưới hang còn người sống sót, liền ném đá xuống. Hai mẹ con từ tầng trên rơi xuống tầng dưới nơi có những góc chết. Chị phát hiện chồng và hai đứa con trai nằm ở đó. Cả nhà may mắn thoát chết, một cuộc đoàn tụ hiếm hoi và thảm thương trên đống xác người dưới hang sâu tối tăm, lạnh lẽo.
Anh Tưởng đã hoảng loạn, sợi dây thép trói chặt quá không làm sao cởi ra nổi, anh đi đi lại lại trên đống xác người, miệng lảm nhảm như mê sảng. Chẳng biết mấy ngày đêm qua đi, cả ba đứa trẻ lịm dần tất thở. Anh Tưởng khát, chị Chu lấy áo thấm vào vũng nước trộn máu, vắt ra cho chồng uống, Song anh không nuốt nổi, gục đầu xuống lìa đời. Sau nhờ hai học sinh đến cứu, chị thoát chết, và vụ giết người rùng rợn này mới có ngày được phơi trần.

_________________________
Chú thích:
Đại Cách mạng Văn hóa Giai cấp Vô sản ( giản thể: 无产阶级文化大革命; phồn thể: 無產階級文化大革命; Bính âm: Wúchǎn Jiējí Wénhuà Dà Gémìng; thường gọi tắt là Đại Cách mạng Văn hóa 文化大革命 ) là một phong trào chính trị xã hội tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo từ ngày 16 tháng 5 năm 1966, với mục tiêu chính là để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt bị thất bại dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài,...
Tổng cộnng 1,5 đến 1,8 triệu người bị giết chết hay tự sát, khoảng 20 triệu người bị đưa về nông thôn lao động cưỡng bức trong nhiều năm. Khoảng 200 triệu người bị thiếu ăn thường xuyên.
Đại Cách mạng Văn hóa diễn ra trong 10 năm từ tháng 5/1966 tới tháng 10/1976, nên được gọi là "10 năm hỗn loạn", "10 năm thảm họa" ( 十年动乱, 十年浩劫: Thập niên động loạn, thập niên hạo kiếp). Tuy nhiên, dù Mao Trạch Đông tự tuyên bố chính thức là kết thúc năm 1969, ngày nay người ta vẫn cho rằng cuộc cách mạng này còn bao gồm cả giai đoạn từ 1969 đến 1976 khi Tứ nhân bang (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diêu Văn Nguyên) bị bắt giữ.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 9th 2019, 4:43pm)


852

Saturday, March 9th 2019, 1:12am

Nhận định:

Ngày nay, máu lệ chưa khô, nhưng người dân Trung Cộng lại để cho cái lũ cầm quyền súc sinh nầy đưa đường dẫn lối tới một kiếp nạn thứ 3 còn khũng khiếp hơn hai kiếp nạn trước.
Còn dân VN, có thấy chính các lãnh tụ của Đãng Cộng Sãn Tàu lại sẳn sàng cho người dân tàn sát và làm nhục chính hàng triệu đảng viên cốt cán của mình để tranh dành quyền lực chưa?

853

Sunday, March 10th 2019, 4:17am

Nhân vật số 4 đại bại dưới chân Giang Thanh
Trích dẫn từ: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội (千秋功罪毛泽东: Ngàn thu công tội Mao Trạch Đông, trang 101-106)

Đào Chú sinh năm 1908 được coi là bậc cách mạng lão thành ở Trung Quốc. Mao Trạch Đông từng nói Đào như con trâu có cặp sừng mạnh, dám chọi lại bất cứ ai. Năm 1953, Đào từng phê bình Lưu Thiếu Kỳ mắc sai lầm tả khuynh trong Cải cách ruộng đất. Đại cách mạng văn hoá bùng nổ, đang là Bí thư thử nhất Cục Trung Nam kiêm Chính uỷ thứ nhất Đại quân khu Quảng Châu, Đào được Mao điều lên Trung ương, đề bạt vượt cấp vào vị trí thứ 4 trong Đảng, giữ chức Thường trực Ban Bí thư, Phó thủ tướng, Trưởng ban Tuyên truyền, Cố vấn Tổ Cách mạng văn hoá. Rõ ràng Mao muốn ông ta xông pha trận mạc, đóng vai trò lớn trong cuộc đấu tranh lật đổ Bộ tư lệnh của Lưu Thiếu Kỳ.

Nhưng Đào Chú quả thật lạc hậu với tình hình chính trị trong nước. Ông chỉ coi Tổ Cách mạng văn hoá là một tổ chức lâm thời lệ thuộc Bộ Chính trị. Ông rất phản cảm với Giang Thanh, coi chức Tổ phó của mụ thấp hơn một Thứ trưởng, nên đã đề nghị Chu Ân Lai bổ nhiệm Giang làm Thứ trưởng Bộ Văn hoá để có danh nghĩa liên hệ công tác. Ông say sưa với việc khôi phục hoạt động của Ban Bí thư, mà không biết rằng Mao đã tính chuyện để Tổ cách mạng văn hoá thay thế chức năng Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Một lần Giang Thanh ép Đào Chú đến Viện Khoa học xã hội tuyên bố Chủ biên tạp chí Nghiên cứu triết học Ngô Truyền Khởi là phái tả. Đào Chú không đi, Giang đập tay vào thành ghế xa lông, trợn mắt lớn tiếng:
“Ông phải đến đó ủng hộ Ngô Truyền Khởi, không đi không được!”

Một tiếng chát dữ dội, Đào Chú đập tay xuống mặt bàn, mấy cốc trà nảy cả lên: “Tôi không đi! Đây là tổ chức của Đảng cộng sản. Bà can thiệp quá nhiều rồi!”

Đào Chú muốn nói Đảng có hệ thống tổ chức, bà không phải uỷ viên Trung ương, có tư cách gì chỉ huy uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị?
Câu nói trên không sai, lý ra là như thế. Nhưng trong Đại cách mạng văn hoá, Đảng cộng sản Trung Quốc trên thực tế đã trở thành giang sơn riêng của vợ chồng Mao-Giang rồi, Giang ra lệnh với thân phận Hoàng hậu, đại bất kính với Hoàng hậu là đại bất kính với Hoàng đế, làm sao Mao Trạch Đông có thể bỏ qua?

Giang Thanh sững người không nói nên lời. Từ khi nhậm chức Tổ phó Tổ Cách mạng văn hoá đến nay chưa ai dám đương đầu với bà ta như vậy. Được Mao ngầm cho phép, Giang quyết tâm lật Đào. Ngày 28-11-1966, tại lễ duyệt đại quân văn nghệ, Giang Thanh nói:
“Mao Chủ tịch và các chiến hữu của người Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh… đều khẳng định thành tích của chúng ta.”

Trong câu trên, Đào Chú ở vị trí thứ 4 (sau Chu Ân Lai) không được nhắc đến, có nghĩa là Đào không còn là bạn chiến đấu thân thiết của Mao, có thể nã pháo vào ông ta được rồi.
Đúng vào lúc đó, Đào Chú gửi báo cáo lên Mao Trạch Đông, kiến nghị cho Vương Nhiệm Trọng thôi chức Tổ phó Tổ cách mạng văn hoá, trở lại Cục Trung Nam, trước mắt chủ yếu lâ chữa bệnh. Bất ngờ, Mao yêu cầu họp liên tịch giữa Bộ Chính trị và Tổ Cách mạng văn hoá đề gộp ý kiến với Vương.

Cuộc họp diễn ra vào 28-12 dưới sự điều khiển của Chu Ân Lai, ngoài các uỷ viên Bộ Chính trị, toàn thể thành viên Tổ Cách mạng văn hoá có mặt, nghĩa là thân phận của họ ngang với các uỷ viên Bộ Chính trị. Họ hăng hái phát biểu, Vương Lực, Quan Phong. Thích Bản Vũ ra đòn trước, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên đóng vai trung phong. Giang Thanh, Trần Bá Đạt, Khang Sinh phát biểu tổng kết.
Trước tiên họ phê phán Vương Nhiệm Trọng, rồi gió đổi chiều chĩa sang Đào Chú, phê phán ông đàn áp quần chúng, bảo vệ phái đi con đường tư bản, là phái bảo hoàng lớn nhất ở Trung Quốc, đại diện cho đường lối phản cách mạng Lưu-Đặng. Chỉ có 2 uỷ viên Bộ Chính trị phát biểu:
Lý Tiên Niệm nói:
“Phương thức và phương pháp công tác của Đào Chú không theo kịp tình hình”

Lý Phú Xuân nói:
“Tôi thấy để lão Đào cũng về Trung Nam cho yên chuyện.”

Hôm sau. Mao triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng, khen Đào Chú ―làm việc tích cực, có trách nhiệm, rồi chuyển sang phê bình Giang Thanh quá phóng túng, chưa qua Trung ương chính thức thảo luận mà nói một uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị mắc sai lầm về phương hướng, đường lối, rồi tuỳ tiện phê phán trong cuộc họp là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng.
Ngay sau đó, Mao gặp riêng Đào Chú, bảo Đào đi xem xét tình hình các tỉnh với tư cách uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị. Mao còn trao một danh sách 20 Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ, yêu cầu Đào bảo vệ khiến ông rất xúc động. Ông mang danh sách trên gặpChu. Sau khi trực tiếp thỉnh thị Mao, trong cuộc họp buổi chiều hôm đó, Chu chính thức truyền đạt chỉ thị của Mao, và tuyên bố Đào Chú sẽ lên đường sau tết dương lịch. Nhưng ông không đi nổi nữa.

854

Sunday, March 10th 2019, 4:20am

Ngày 30-12, Đoàn tạo phản Hồ Bắc lên Bắc Kinh, ra thông lệnh đòi Đào Chú nộp Vương Nhiệm Trọng. Vừa nhận chỉ thị của Mao bảo vệ một số cán bộ trong đó có Vương, Đào Chú như đã nắm được thượng phương bảo kiếm trong tay, bình tâm tiếp đoàn tạo phản trên tại Nhà Quốc hội. Vừa gặp, đám tạo phản đã như ong vỡ tổ. Chúng đến đây theo mật chỉ của Giang Thanh, cố ý gây chuyện nhằm lật đổ Đào Chú. Chúng hô khẩu hiệu, kết tội, chất vấn, nhục mạ Đào Chú 6 giờ liền.

Chiều 4-1-1967 khi tiếp Đoàn tạo phản Hồ Bắc, Trần Bá Đạt phê phán Đào Chú từ khi lên Trung ương không chấp hành đường lối của Mao, mà thực hiện đường lối Lưu-Đặng. Giang Thanh nói Đào là đại diện mới của Lưu-Đặng. Ngay tối hôm đó, cửa tây Trung Nam Hải vang lên khẩu hiệu “Đánh đổ Đào Chú!”. Loa phóng thanh trên ô tô liên tục phát lại phát biểu của Trần Bá Đạt lúc chiều.

Ngày 8-1, Mao chỉ định Vương Lực làm Tổ trưởng Tuyên truyền Trung ương (tương đương Trưởng ban Tuyên truyền). Mao thừa nhận Đào Chú đã bị đánh đổ. Thật ra trong cuộc họp Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng 10 ngày trước đó, Mao đã muốn phế truất Đào, nhưng thấy tình hình chưa thuận, liền quay sang diễn màn kịch bảo vệ ông, phê phán Giang Thanh, rồi nhắm trúng nhược điểm của Đào, khuyến khích Đào mạnh dạn đứng ra bảo vệ cán bộ cũ. Quả nhiên Đào Chú mắc mưu, đối chọi với Hồng vệ binh.

Từ 8-1, cơ quan hữu quan không gửi tài liệu cho Đào nữa, một tháng sau, điện thoại đỏ (dành cho lãnh đạo cấp cao) bị dỡ đi. Nơi ở của ông tăng thêm 4 lính gác. Đắc tội Giang Thanh, nhân vật số 4 trong Đảng bỗng chốc thành người tù.
Tháng 3-1968, theo lệnh Giang Thanh, lực lượng canh gác Đào tăng lên 2 tiều đội, trong nhà có 3 vọng gác, một cửa trước, một cửa sau, một người luôn theo sát bên cạnh 24/24 giờ, lúc ngủ cũng có lính gác đứng cạnh giường.
Tháng 8-1968, Đại hội phê phán Lưu-Đặng-Đào qui mô một triệu người được tổ chức trên quảng trường Thiên An Môn, chia làm ba khu vực, phê phán ba cặp vợ chồng Lưu, Đặng, Đào. Do phản kháng dữ dội, Đào Chú bị đánh thương tích đầy người.
Tháng 8-1968 phát hiện Đào bị ung thư tuyến tuỵ, nhờ Chu Ân Lai can thiệp được phẫu thuật cắt tá tràng, 18-10-1969, Đào Chú bị đưa đi lưu đày ở An Huy, 43 ngày sau ông qua đời.
Việc Đào Chú bị đánh đổ với tội danh phái bảo hoàng lớn nhất đã chỉ ra phương hướng hành động cho các tổ chức tạo phản, không ai dám đứng ra bảo vệ các đảng uỷ nữa. Các bí thư tỉnh uỷ, tỉnh trưởng bị cô lập hoàn toàn. Bộ máy đảng và chính quyền các cấp bị Hồng vệ binh đánh cho tơi tả.
Đầu tháng 1-1967, các phái tạo phản liên minh cướp quyền ở Thượng Hải.
Ngày 14-1 cướp quyền ở Sơn Tây, rồi Quý Châu 25-1, Sơn Đông 27-1, Bắc Kinh 28-1, Hắc Long Giang 31-1… Tham gia ban lãnh đạo là có xe riêng, thư ký riêng, thật hấp dẫn, nên nhiều kẻ có dã tâm điên cuồng lao vâo các cuộc đấu tranh đoạt quyền, thế là diễn ra nội chiến toàn diện; bắt đầu là gậy gộc cuốc xẻng, rồi phái tạo phản cướp vũ khí của quân đội hoặc quân đội cung cấp vũ khí cho phái tạo phản mà mình ủng hộ, từ súng trường tự động đến súng máy, lựu đạn, thậm chí pháo lớn, ở Thành Đô sử dụng cả xe tăng.
Qua 20 tháng xã hội đại loạn, đấu tranh cướp quyền và chống cướp quyền, 29 tỉnh và thành phố trực thuộc trong cả nước đã thành lập chính quyền mới mang tên Uỷ ban cách mạng. Các bí thư đảng uỷ và tỉnh trưởng hầu hết bị đánh đổ, đứng đầu chính quyền mà phần lớn là chỉ huy quân đội đóng tại địa phương, một số người cầm đầu các phái tạo phản tham gia chính quyền các cấp.

Vì sao tự huỷ hoại giang sơn như vậy?
Phải chăng Mao Trạch Đông phát điên rồi?
Không, Mao không điên, mục tiêu của ông ta là trị những người tham gia Đại hội 7.000 người và đồng liêu các cấp của họ, ghép cho họ tội danh đi con đường tư bản chủ nghĩa, đánh đồ hàng loạt.
Mao cần trút lên đầu họ món nợ lịch sử làm chết đói 37,55 triệu người và gây thiệt hại 120 tỉ NDT, vì họ xuyên tạc ba ngọn cờ hồng, làm hỏng mọi việc. Rồi Mao trực tiếp lãnh đạo phái tạo phản đánh đổ “phái đi con đường tư bản các cấp”, cứu nhân dân khỏi bể khổ “phục hồi chủ nghĩa tư bản”, thế là Mao trở nên sáng suốt hơn, vĩ đại hơn, một lần nữa làm đại cứu tinh của nhân dân. Đó là bối cảnh chính trị Mao phát động cướp quyền từ trên xuống dưới.

Trong nhật ký ngày 9-1-1967, Lâm Bưu viết:
“Cuộc đấu tranh đoạt quyền ở Thượng Hải do B-52 (Mao Trạch Đông) uỷ quyền Rắn Hổ Mang (Trương Xuân Kiều) và Lão Nương (Giang Thanh) thực hiện… Cướp quyền của ai? Lão Nương thay B-52 nã pháo, đánh đập, cướp bóc, bắt người, đấu đá, gieo hận thù khắp nơi.”

Tổ cách mạng văn hoá thay thế Bộ chính trị,
tổ làm việc Quân ủy thay thế Quân ủy trung ương

Tổ Cách mạng vãn hoá trung ương ủng hộ phái tạo phản các nơi chống quân đội, làm loạn quân đội. Phó tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh Nhiếp Phượng Trí bị phái tạo phản bắt cho vâo bao tải, đánh gãy 8 chiếc răng. Phó Tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh kiêm Tư lệnh Hạm đội Đông Hải Đào cũng bị dìm trong giếng nước tại nhà khách của Hạm đội, đầu chúc xuống, chết sặc. Nhiều tướng lĩnh cấp cao bị tuỳ tiện bất giam, khám nhà, hành hạ, có người tự sát, lãnh đạo Quân uỷ Trung ương lòng như lửa đốt.

855

Sunday, March 10th 2019, 4:42am

Nhận định:

Có thấy chính Mao Chủ Tịch của Đãng Cộng Sãn Tàu lại sẳn sàng cho người dân tàn sát và làm nhục hàng triệu đảng viên cốt cán chỉ để giữ vững quyền uy tối thượng của mình chưa?
Vậy thì đừng tưởng anh là đảng viên cốt cán thì an tòan nhé!
Tất cả “thiên hạ” chỉ là giun dế dưới gót chân của bạo chúa thôi !!!

856

Monday, March 11th 2019, 2:51am

Kết cục bi thãm tranh bá đồ vương
Trích dẫn từ: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội (千秋功罪毛泽东: Ngàn thu công tội Mao Trạch Đông, trang 117-135)

Chiều 22, Thường vụ Bộ Chính trị thảo luận vấn đề chức danh Chủ tịch nước. Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh chủ trương Chủ tịch Đảng kiêm Chủ tịch nước, tức là về hình thức, có nguyên thủ quốc gia. Như vậy là ngoài Mao, các uỷ viên Thường vụ đều tán thành ông làm Chủ tịch nước.
Sở dĩ xuất hiện cục diện trên vì Mao đã 4 lần, công khai nói không đặt chức danh Chủ tịch nước, bản thân không làm Chủ tịch nước, nhưng mặt khác lại gợi ý Lâm Bưu giới thiệu ông ta làm Chủ tịch nước. Mọi người không biết chắc ý đồ thật sự của Mao là gì. Cái Mao coi trọng là Chủ tịch Đảng và gắn với nó là Chủ tịch Quân uỷ Trung ương đầy quyền lực, chứ không phải Chủ tịch nước chỉ có quyền hờ.

Mao đã hứa riêng sẽ nhường Lâm Bưu chức Chủ tịch Đảng, còn mình sang làm Chủ tịch nước. Vì thế, một khi Lâm kiên trì kiến nghị Mao làm Chủ tịch nước, có nghĩa là Lâm ép Mao nhường chức Chủ tịch Đảng cho mình.
Trong mắt Mao, việc làm đó đã hoàn toàn phơi trần dã tâm cá nhân của Lâm Bưu. Cùng một đề nghị Mao làm Chủ tịch nước, Chu Ân Lai và Khang Sinh nêu ra thì được Mao coi là thiện, song Lâm Bưu nêu ra lại bị coi là ác ý, là mưu toan tiếm quyền. Cơn giận lôi đình của Mao khởi nguồn từ đây.
Lâm Bưu cho rằng: Mao chân thành muốn chuyển giao quyền lực cho mình. Sau khi mắc tội ác tày trời làm chết đói 37,55 triệu người trong Đại tiến vọt và quay lưng lại với toàn Đảng trong Đại cách mạng văn hoá, Mao phải hiểu rõ hơn ai hết rằng sau khi ông ta qua đời, chỉ có Lâm Bưu có thể giữ vững cục diện. Tách khỏi sự ủng hộ của Lâm Bưu thì không thể có vị trí lịch sử luôn luôn đúng đắn của Mao Trạch Đông.
Lâm không tin rằng Mao có thể đùa cợt, giăng bẫy hại Lâm. Đến khi nhận ra âm mưu quỷ kế của Mao, Lâm phẫn nộ nói với vợ con:
“Mọi người không thấy hắn giống một tên lưu manh sao? Giống lắm! Nếu sau này ta thua hắn, thì chỉ thua ở chỗ không đủ lưu manh bằng hắn mà thôi.”

Khi bị Mao từng bước dồn ép sau, Lâm cha nói với Lâm con:
“Lão Hổ, con hãy nhớ, ta không cai trị nổi đất nước này. Ngay trong tình hình bình thường, ta cũng không biết quản lý đất nước ra sao. Một nước lớn như thế này, kinh tế, chính trị, văn hoá… đều rất phức tạp. Ta không thích công việc hành chính, không thích giao lưu, sức khỏe cũng không tốt, không thể quản lý đất nước. Ta tự biết mình, chưa bao giờ muốn làm Chủ tịch nước. Ta chỉ biết chút ít về quân sự, rất nhiệt tình đối với thống nhất đất nước, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân, nhưng năng lực có hạn. Ta muốn giữ vững quyền lực tham gia đời sống chính trị, đảm bảo quân đội phát huy vai trò bình thường, thế là đủ.”

Đoạn trên Lâm nói rõ không làm Chủ tịch nước, đoạn dưới thể hiện muốn giữ vững cục diện, cầm lái, làm Chủ tịch Đảng kiêm Chủ tịch Quân uỷ Trung ương.
Phát biểu tại Thành Đô, Mao nói phe Lâm Bưu muốn Mao làm Chủ tịch nước là động tác giả, muốn Lâm làm Chủ tịch Đảng là thật.

Nhưng đó là chuyện về sau, xin độc giả trở lại Hội nghị Lư Sơn tháng 8-1970. Trước cuộc họp chính thức, Lâm đã có cuộc nói chuyện riêng rất dài với Mao. Lâm báo cáo cuộc tranh luận giữa Trương Xuân Kiều và Ngô Pháp Hiến khi thảo luận dự thảo hiến pháp, và ngỏ ý muốn nói vài lời về vấn đề này trước Hội nghị. Mao trả lời:
“Có thể nói, nhưng không nêu tên.”

Đến lúc này, Lâm vẫn cho rằng Giang Thanh giới thiệu Trương Xuân Kiều làm Thủ tướng, để Giang làm Chủ tịch Đảng là dã tâm của bà ta, chứ không phải ý đồ của Mao.
Chiều 23-8, Hội nghị khai mạc dưới sự điều khiển của Mao Trạch Đông. Mở đầu, Lâm Bưu nói:
“Tôi vẫn kiên trì quan điểm Chủ tịch Mao Trạch Đông là thiên tài. Đồng chí Mao Trạch Đông là người Mácxít-Leninnít vĩ đại nhất thời đại ngày nay. Đồng chí đã kế thừa, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin một cách thiên tài, sáng tạo và toàn diện.”

Về chức Chủ tịch nước, Lâm Bưu nói khá mập mờ:
“Dự thảo hiến pháp lần này thể hiện một đặc điểm là khẳng định vị trí lãnh tụ vĩ đại, nguyên thủ quốc gia và thống soái tối cao của Mao Chủ tịch, khẳng định tư tưởng Mao Trạch Đông là tư tưởng chỉ đạo nhân dân cả nước, điều này rất quan trọng, là linh hồn của hiến pháp.”

Khang Sinh hoàn toàn tán thành và ủng hộ phát biểu của Lâm Bưu. Khang nói mọi ý kiến đều tán thành Mao làm Chủ tịch, Lâm làm Phó Chủ tịch làm nước, nếu Mao không nhận thì Lâm mới làm Chủ tịch nước, nếu cả hai đều không nhận, thì bãi bỏ chương này trong hiến pháp. Mao lặng im, theo dõi tình hình, tìm đối sách.

Sớm 24-8, Diệp Quần gặp Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác truyền đạt ý kiến của Lâm Bưu:
1. Phải ủng hộ phát biểu của Lâm Bưu, kiên trì quan điểm thiên tài;
2. Kiên trì đặt chức Chủ tịch nước, để Mao giữ chức vụ này;
3. Có thể móc nối một số uỷ viên trung ương trong Không quân, Hải quân, Tổng cục chính trị để họ phát biểu, chú ý không nêu tên;
4. Chĩa mũi nhọn chủ yếu vào Trương Xuân Kiều, sau Trương là Giang Thanh, nhưng không được đụng đến Giang nửa chữ.

857

Monday, March 11th 2019, 2:53am

Sáng 24, theo đề nghị của Ngô Pháp Hiến, những người dự hội nghị lên hội trường nghe băng ghi âm phát biểu của Lâm Bưu. Buổi chiều, các tổ thảo luận, Diệp Quần đi khắp nơi tung tin bài nói của Lâm đã được Mao đồng ý.
Tại Tổ Hoa Bắc, Trần Bá Đạt ca ngợi phát biểu của Lâm Bưu về việc dự thảo hiến pháp khẳng định vị trí của Mao, Trần nói viết được như vậy là trải qua nhiều cuộc đấu tranh và là kết quả đấu tranh; có người đang lợi dụng sự khiêm tốn của Mao, mưu toan hạ thấp tư tưởng Mao.

Tổ trưởng Lý Tuyết Phong mời Uông Đông Hưng phát biểu. Uông nói:
“Tôi hoàn toàn ủng hộ bài nói quan trọng của Phó Chủ tịch Lâm Bưu, hoàn toàn tán thành phát biểu vừa rồi của đồng chí Trần Bá Đạt. Tôi thay mặt Văn phòng Trung ương và Bộ đội 8341, kiên quyết yêu cầu đặt chức chủ tịch nước, kiến nghị lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch làm Chủ tịch nước. Tình hình đồng chí Bá Đạt vừa nói là vô cùng nghiêm trọng. Trong Đảng ta còn một số kẻ có dã tâm, khôn khéo phản đối lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch, đó là đường lối Lưu Thiếu Kỳ không có Lưu Thiếu Kỳ, đại diện cho đường lối phản động của Lưu. Chúng tôi rất mong muốn Phó Chủ tịch Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch nước.”

Do thân phận đặc biệt của Uông, mọi người cho rằng ý kiến của ông ta có thể biểu hiện ý hướng chân thực của Mao, nên đều lắng tai nghe. Họ cảm thấy đã nắm được long mạch của Mao. Thì ra mấy lần Mao nói không làm Chủ tịch nước chỉ là sự khiêm tốn vĩ đại. Về sau xuất hiện tin ngắn số 2 của Tổ Hoa Bắc, phần cuối viết:
“Mọi người nhiệt liệt hoan nghênh phát biểu hôm qua của Phó Chủ tịch Lâm, cho rằng bài nói này có ý nghĩa chỉ đạo cực lớn đối với Hội nghị Trung ương 2 khoá 9. Nghe phát biểu của các đồng chí Bá Đạt, Đông Hưng tại tổ, cảm thấy càng hiểu sâu hơn phát biểu của Phó Chủ tịch Lâm. Nhất là khi được biết trong Đảng ta còn có người mưu toan phủ nhận lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch là thiên tài vĩ đại nhất của thời đại ngày nay, mọi người tỏ ra cảm phẫn mạnh mẽ nhất, cho rằng ngày nay đã trải qua 4 năm Đại cách mạng văn hoá mà trong Đảng còn có kẻ tư tưởng phản động như vậy, tình hình thật nghiêm trọng. Loại người này là những kẻ có dã tâm, có âm mưu, những phần tử phản động cực đoan, phần tử phản cách mạng một trăm phần trăm, là những kẻ đại diện cho đường lối phản động Lưu Thiếu Kỳ không có Lưu Thiếu Kỳ, lâm tay sai của đế quốc, xét lại và phản động, lâm những ké xấu, phải lôi cổ chúng ra cho mọi người biết, phải đưa chúng ra khỏi đảng, đấu cho chúng đổ sụp, thối rữa ra, phải băm vằm chúng ra, toàn Đảng lên án chúng, cả nước hỏi tội chúng. Tự đáy lòng mình, mọi người tán thành khôi phục chương Chủ tịch nước trong hiến pháp, điều 2 hiến pháp tăng thêm Mao Chủ tịch là Chủ tịch nước, Lâm Phó Chủ tịch là Phó Chủ tịch nước…”

Phát biểu tại các tổ Trung Nam, Tây Nam, Tây Bắc… Diệp Quần, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác đều tập trung ủng hộ bài nói của Lâm Bưu. Bản tin ngắn số 2 của Tổ Hoa Bắc vừa phát ra, mọi người phấn khích, đòi lôi ra những kẻ phản đối Mao là thiên tài.
Trần Bá Đạt đang ngắm cảnh núi rừng thì Uông Đông Hưng chạy đến lo lắng nói:
“Tôi vừa gặp Giang Thanh. Bà ta nói phát biểu của chúng ta đi chệch hướng. Thế là thế nào?”

Trần bình tĩnh:
“Kiến nghị Mao Chủ tịch làm Chủ tịch nước là thiên kinh địa nghĩa, đừng sợ. Trương Xuân Kiều dựa vào Giang Thanh ủng hộ nên mới dám coi thường Lâm Phó Chủ tịch. Hắn là kẻ có dã tâm, có âm mưu. Ông yên tâm đi, Mao Chủ tịch không thể chỉ cần bà xã mà không cần bạn chiến đấu thân thiết và người kế tục.”

Đến lúc này, Trần và Uông vẫn cho rằng Mao và Lâm không thể tách rời, vị trí người kế tục của Lâm Bưu không thể, lung lay, Mao thà từ bỏ vợ, chứ không từ bỏ người kế tục; sau Mao, chỉ có Lâm Bưu khống chế được tình hình rối loạn sau Đại cách mạng văn hoá; một nhà chính trị lớn mưu lược sâu xa như Mao sẽ không mắc sai lầm hồ đồ trong những vấn đề lớn. Mọi người đâu có ngờ rằng trong nội tâm sâu thẳm, Mao chỉ muốn truyền ngôi cho Giang Thanh, Lâm chỉ đóng vai chuyền 2, nhiệm vụ của Lâm là đoạt quyền từ tay Lưu Thiếu Kỳ, chuyển cho Giang Thanh. Khi Lâm giữ rịt lấy không chịu trao, Mao phải đích thân đứng ra buộc Lâm trao quyền. Đương nhiên, Mao sẽ không trực tiếp trao quyền cho Giang Thanh, mà cần chọn vai chuyền 2 khác, một người mà Mao cho rằng sẽ tự nguyện, tự giác trao quyền cho Giang Thanh, đưa Giang vào, ghế Chủ tịch Đảng sau khi Mao về chầu trời. Đó là một chính khách loại hai, loại ba, yếu kém một chút, xem đi, xét lại, Mao chọn được Hoa Quốc Phong. Mao muốn thực hiện gia đình trị, lại không muốn chịu tiếng xấu gia đình trị. Vấn đề này sẽ nói tiếp ở phần sau.

Thấy phe Lâm Bưu muốn bắt Trương Xuân Kiều, Giang Thanh cuống lên, sáng 25 cùng Trương đến cầu cứu Mao. Chiều 25, Mao hẹn Lâm đến gặp. Lâm đưa vợ đi cùng, nhưng, vừa vào cửa, cảnh vệ chặn Diệp Quần lại, chỉ cho một mình Lâm Bưu vào. Mao vẻ mặt nghiêm túc, nói thẳng:
“Đồng chí Lâm Bưu, vừa lên Lư Sơn tôi đã nói Hội nghị này phải là hội nghị đoàn kết, thắng lợi, đừng làm cho nó biến thành hội nghị chia rẽ, thất bại. Không khí hội nghị hai ngày qua không bình thường!”

858

Monday, March 11th 2019, 2:54am

Lâm cố ý tỏ ra kinh ngạc:
“Có vấn đề gì vậy, thưa Chủ tịch?”

Mao nói:
“Bá Đạt dẫn đầu, một là kiên trì đặt chức Chủ tịch nước, hai là kiên trì thuyết thiên tài. Cổ động một số người, lừa dối một số người khác gây rối, với thế san bằng Lư Sơn, cho trái đất ngừng quay, Họ san bằng Lư Sơn tôi cũng không làm Chủ tịch nước, tôi khuyên ông cũng đừng giữ chức vụ này.”

Lâm nói:
“Tôi vốn muốn đặt chức Chủ tịch nước là để Chủ tịch đảm đương, chứ không phải tôi muốn ngồi vào vị trí này. Có lẽ trong phát biểu của tôi tại buổi khai mạc có gì không thoả đáng?”

Mao nói:
“Tôi biết ông và Trần Bá Đạt có quan điểm nhất trí về vấn đề thiên tài. Nhưng tình hình hai người khác nhau. Bá Đạt là phần tử chống cộng chui vào Đảng cộng sản, hôm nay tôi nhắc nhở ông phải giữ khoảng cách, vạch rõ ranh giới với hắn.”

Lâm nói:
“Vâng, tôi sẽ lưu ý mấy uỷ viên Trung ương trong quân đội.”

Mao cố ý nói đây là cuộc đấu tranh giữa Trần Bá Đạt và Trương Xuân Kiều. Mao nói tiếp:
“Còn Trương Xuân Kiều tiếp tục xem xét hai năm. Hai năm sau tôi nghỉ rồi, giao ông xử lý!”

Lời hứa hai năm nữa sẽ chuyển giao quyền lực tạm làm Lâm Bưu yên lòng.
Mao lại gặp Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, một phiếu phủ định bốn phiếu, các uỷ viên Thường vụ Bộ chính trị đều tán thành không đặt chức Chủ tịch nước.

Sau đó, Mao triệu tập Hội nghị Thường vụ Bộ chính trị mở rộng, nghiêm túc tuyên bố ba điều:
1. Ngừng họp ngay, chấm dứt thảo luận về phát biểu của Lâm Bưu tại buổi khai mạc.
2. Thu hồi bản tin ngấn số 2 của Tổ Hoa Bắc.
3. Không được bắt người, phải đoàn kết theo tinh thần Đại hội 9. Phát biểu của Trần Bá Đạt tại Tổ Hoa Bắc trái với tinh thần Đại hội 9.

Tuy biết rõ người đứng đầu gây chuyện là Lâm Bưu, nhưng Mao lôi Trần Bá Đạt ra trị, làm yên lòng Lâm Bưu, vi Trần vốn là công cụ của Mao, nay con thuyền của Mao chưa bục, mà Trần đã thay thay đổi chủ, một mực ngả theo ý Lâm. Mặt khác, Lâm đã đặt 6 đường truyền tin chuyên dụng tại nơi ở để chỉ huy quân đội trong cả nước, lại có 2 máy bay lên thẳng Skylark sẵn sàng chờ lệnh trên núi, không thể ép Lâm quá mức. Đề phòng ngừa bất trắc, Mao lại gọi Hứa Thế Hữu, uỷ viên Bộ Chính trị, Tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh đến dặn dò…

Trong hai ngày 26 và 27, Chu Ân Lai, Khang Sinh liên tục gặp Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác, buộc họ viết kiểm điểm. Ngày 29, Mao chỉ thị Lâm chủ trì Hội nghị Thường vụ Bộ chính trị mở rộng, Trần Bá Đạt và Ngô Pháp Hiến kiểm điểm lần đầu. Trần nhận khuyết điểm phát ngôn mang tính kích động, không nghe theo lời Mao, kiên trì đòi đặt chức Chủ tịch nước, xuyên tạc phát biểu của Lâm, làm rối loạn tư tưởng mọi người, nói lung tung về thiên tài. Ngô Pháp Hiến nhấn mạnh đã mắc lừa Trần Bá Đạt, đổ mọi lỗi cho Trần, bảo vệ Lâm Bưn-Diệp Quần.

Ngay từ đầu, Chu Ân Lai đã chỉ định Hoàng Vĩnh Thắng ở lại Bắc Kinh ―trông nhà, nên 31-8, Hoàng mới lên Lư Sơn. Vừa gặp Hoàng, Diệp Quân ứa nước mắt:
“Mấy ngày qua gay quá, may mà ông lên muộn, không dính vâo.”

Diệp quay sang Ngô Pháp Hiến:
“Ông mắc sai lầm, nhưng không sao, còn có Lâm Bưu và Hoàng Vĩnh Thắng. Chỉ cần không liên luỵ đến hai vị này, thì mọi chuyện dễ giải quyết, chức vụ của ông không thay đổi.”

Ngày 6-9-1970, Hội nghị bế mạc. Trần Bá Đạt bị cách ly thẩm tra.
Sau khi rời Lư Sơn, Mao Trạch Đông nêu Uông Đông Hưng thành tấm gương sau khi kiểm điểm vẫn được trọng trụng, để ép và dụ Diệp, Ngô, Lý, Khưu kiểm điểm, tiến tới ép và dụ Lâm Bưu kiểm điểm. Một ngày cuối tháng 9, Mao cử Uông tới thuyết phục Lâm Bưu, với lời dặn dò:
“Cố gắng để Lâm Bưu viết kiểm điểm. Chỉ cần Lâm nhận thức được sai lầm của mình, tôi vẫn hoan nghênh ông ta. Bản kiểm điểm này phải gắn với những sai lầm trong lịch sử.”

859

Monday, March 11th 2019, 2:55am

Gặp Uông, Lâm phàn nàn:
“Hiện nay tôi không còn cách nào liên hệ với Hoàng Vĩnh Thắng và một số người, kể cả ông, vì sợ Giang Thanh, Trương Xuân Kiều lại kể tội trước mặt Chủ tịch. Tôi không hình dung nổi vì sao Chủ tịch lại tin vào những lời lẽ xằng bậy, gây ly gián của họ!”

Uông nói:
“Tôi cũng không sao giải thích nổi vấn đề trên. Song tôi nghĩ trong tình hình này, để chủ động, Lâm Phó Chủ tịch nên viết kiểm điểm gửi Chủ tịch có lẽ tốt hơn.”

Đôi mất Lâm Bưu toé ra những tia sáng lạnh, nhìn thẳng Uông Đông Hưng:
“Ông muốn tôi để người ta nắm gáy hay sao? Đây là cá nhân ông quan tâm tôi, hay có người cử ông tới đây làm thuyết khách?”

Uông cứng họng, im lặng. Lâm nói tiếp:
“Nếu tôi viết kiểm điểm, Chủ tịch sẽ công bố trong toàn đảng, như vậy chẳng khác gì tôi thừa nhận sai lầm trước toàn đảng, toàn quân và toàn dân. Không! Tôi không thể mắc lừa mấy kẻ cầm bút ấy. Tôi chẳng có sai lầm gì cả, tôi cũng không viết kiểm điểm trái với lòng mình.”

Uông hỏi:
“Vậy chúng ta kết thúc vụ này như thế nào? Cứ căng thẳng thế này không phải là biện pháp.”

Lâm nói:

“Tôi không thể trả lời vấn đề này. Tôi, Diệp Quần và các đồng chí trong Tổ làm việc Quân uỷ Trung ương đều đang bị thẩm tra. Lịch sử của chúng tôi không thể nghi ngờ. Mọi việc để Chủ tịch quyết định, tôi xưa nay vẫn tin vào sự lãnh đạo và quyết đoán sáng suốt của Người.”

Như hạ quyết tâm cuối cùng khi lâm trận, Lâm Bưu ngả người trên xa lông, không nói gì nữa. Uông Đông Hưng gượng gạo ra về. Lâm Bưu mang tính cách một nhà quân sự, chỉ có thắng bại, không có thoả hiệp, chiết trung. Nhớ lại thời chiến tranh giải phóng, Lâm và Bành Chân bất đồng về phường châm chiến lược. Bành Chân khi ấy là uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Cục Đông Bắc, Chính uỷ Liên quân Dân chủ Đông Bắc, sau lưng có Lưu Thiếu Kỳ ủng hộ. Lâm tuy là Tư lệnh Đông Bắc, nhưng trong Đảng chỉ là uỷ viên Trung ương. Cuối cùng báo cáo Mao Trạch Đông, Mao quyết định cử Lâm Bưu làm Bí thư Cục Đông Bắc, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên quân Dân chủ Đông Bắc, Bành Chân bị giáng xuống làm Phó Bí thư kiêm Phó Chính uỷ.
Sau giải phóng, từ Đàm Chính đến La Thụy Khánh, ai trái ý Lâm Bưu, người đó gặp vận đen. Giang Thanh. Trương Xuân Kiều là cái thá gì?
Dựa vào mụ đàn bà và mấy gã cầm bút liệu có ngăn nổi dòng thác toàn đảng, toàn quân và toàn dân phản đối Đại cách mạng văn hoá không?
Liệu cố bịt nổi miệng thế gian, không cho người ta tính sổ nợ làm chết đói mấy chục triệu người không?
Chỉ có dựa vào Lâm Bưu này, dựa vào Dã chiến quân thứ 4 của ta, không được Lâm Bưu ủng hộ thì không có Đại cách mạng văn hoá, không có vị trí tối cao của Mao Trạch Đông ngày nay.
Trần Bá Đạt nói đúng: Mao không thể chỉ cần vợ, không cần người kế tục. Ngày 8-10, Mao gửi thư ngắn thăm hỏi, nhắc Lâm giữ gìn sức khỏe. Trong thư trả lời ngày 10, Lâm lùi để tiến:
“Tôi cảm thấy sâu sắc không theo kịp lời dạy của Chủ tịch về đường lối và tư tưởng, không thích ứng được sự phát triển của tình hình cách mạng, không thích hợp làm người kế tục, xin Chủ tịch định liệu, tôi hoàn toàn ủng hộ quyết định của Chủ tịch.”

Mao xem xong, viết thư trả lời:
“Tôi không thể làm trái với qui định trong Điều lệ Đảng và quyết định của Đảng. Hai ta vẫn cơ bản nhất trí về đường lối và những vấn đề nguyên tắc lớn.”

Sách lược của Mao là làm yên lòng Lâm Bưu, rồi vặt dần lông cánh của Lâm.
Ngày 6-11, Mao cho công bố quyết định thành lập Tổ Tuyên truyền-tổ chức Trung ương do Khang Sinh làm Tổ trưởng, và năm tổ viên: Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Kỷ Đăng Khuê, Lý Đức Sinh. Tổ này phụ trách công tác của Ban Tổ chức Trung ương, Trường Đảng Trung ương, Nhân dân nhật báo, Tạp chí Hồng Kỳ, Tân Hoa Xã, Cục Phát thanh-truyền hình, Quang minh nhật báo, Cục Biên dịch Trung ương. Chức Tổ trưởng của Khang Sinh chỉ là danh nghĩa, Kỷ Đăng Khuê và Lý Đức Sinh bận quá nhiều việc quân đội và chính quyền, chỉ là hai dải áo, thực quyền của bộ máy này nằm trong tay Giang Thanh. Nó chính là ―Tổ cách mạng văn hoá đã xoá bỏ sau Đại hội 9 nay sống lại dưới tên gọi khác, là biến dạng của Ban Bí thư, là Tổ làm việc Trung ương đối kháng Tổ làm việc Quân
uỷ Trung ương.
Mười ngày sau, Tổ ra chỉ thị triển khai cuộc vận động phê phán Trần Bá Đạt, chỉnh phong.

860

Monday, March 11th 2019, 2:57am

Mao tổng kết 3 chiêu trong cuộc đấu tranh với tập đoàn Lâm Bưu là:
1. Ném đá (phê vào các bản kiểm điểm của Diệp Quần, Ngô Pháp Hiến… rồi công bố trong toàn Đảng);
2. Trộn cát (cử những người không thuộc Dã chiến quân thứ 4 như Kỷ Đăng Khuê, Trương Tài Thiên vào Tổ làrn việc Quân uỷ Trung ương);
3. Khoét chân tường (cải tổ Ban lãnh đạo Đại quân khu Bắc Kinh).

Mao Trạch Đông phê bình Tổ làm việc Quân uỷ Trung ương không phê phán Trần Bá Đạt. Ngày 20-2-1971, Tổ viết báo cáo kiểm điểm về vấn đề này. Mao phê vào báo cáo trên:
“Vì sao mấy đồng chí cứ bị động mãi về vấn đề phê phán Trần Bá Đạt? Phải suy nghĩ kỹ vấn đề này, biến bị động thành chủ động.”

Phê Trần là cái cớ, thật ra Mao muốn họ tố cáo và phê phán Lâm Bưu.
Hội nghị phê Trần, chỉnh phong tổ chức tại Bắc Kinh từ 15 đến 29-4, chủ yếu giải quyết vấn đề Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác.

Ngày 19, Lâm Bưu về Bắc Kinh nhằm ổn định tinh thần họ.
Ngày 29, Mao uỷ quyền Chu Ân Lai kết luận hội nghị, nội dung chính là: Trước, trong và sau Hội nghị Lư Sơn, năm đồng chí trong Tổ làm việc Quân uỷ Trung ương về chính trị mắc sai lầm phương hướng, đường lối, về tổ chức mắc sai lầm bè phái, nhưng tính chất sai lầm vẫn là vấn đề nội bộ nhân dân, hoàn toàn khác với tính chất của phần tử chống cộng Trần Bá Đạt.
Mao vẫn chưa đạt mục đích ép Lâm kiểm điểm. Lâm có gửi cho Mao một lá thư, nhưng không phải kiểm điểm, mà là đặt điều kiện. Trong thư, Lâm cho rằng giữa hai người vẫn có lợi ích chung, là củng cố thành quả Đại cách mạng văn hoá. Lâm khuyên Mao trong 10 năm, không cách chức, không chặt đầu người của Lâm, thì có thể đảm bảo 10 năm không loạn. Diệp Quần cho rằng Mao không thể chấp nhận điều kiện trên, nên không cho chuyển thư đi. Lâm thấy mình có lý vì đã phụng mệnh hành sự (đề nghị đặt chức Chủ tịch nước theo ý Mao) nên nhiều lần đề nghị gặp Mao, trực tiếp nói rõ mọi chuyện, nhưng Mao biết mình đuối lý, dứt khoát không gặp, cũng như đối với Cao Cương trước đây.

Để yên lòng Lâm Bưu, Mao bảo Giang Thanh chụp cho Lâm bức ảnh đầu trần, đang chăm chú đọc tác phẩm của Mao. Ảnh chụp 6-9, ký tên Tuấn Lĩnh, đăng trên bìa đầu Báo ảnh Nhân dân và Báo ảnh Quân Giải phóng. Mao muốn nói với Lâm rằng: dù phong trào phê Trần, chỉnh phong diễn ra sôi động, Hoàng, Ngô, Diệp, Lý, Khưu đã kiểm điểm, nhưng đến lúc này, vị trí người kế tục của Lâm không lung lay. Đồng thời. Mao cũng muốn chứng tỏ với toàn đảng, toàn quân, toàn dân rằng quan hệ Mao-Lâm rất thân thiết, che đậy cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc ở tầng lớp cao.

Tướng quân bách chiến thân danh liệt
Sau thất bại ở Lư Sơn, Lâm Bưu muốn sử dụng vũ lực. Tháng 10-1970, Hạm đội liên hợp chính thức thành lập do Lâm Lập Quả làm Tư lệnh, Chu Vũ Trì làm Chính uỷ. Các thành viên nòng cốt của Hạm đội được bí mật lựa chọn kỹ từ Bộ Tư lệnh Không quân, các Quân đoàn không quân ở Thượng Hải, Vũ Hán, Quảng Châu, Nam Kinh, Hàng Châu.

Ngày 24-1-1971, Mao đột ngột quyết định cải tổ Đại quân khu Bắc Kinh. Diệp Quần sợ quá, giục Lâm Bưu sớm có quyết định. Nội bộ tập đoàn Lâm Bưu có hai mảng:
Một là loại tướng tá lão thành, đứng đầu là Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác. Họ đều là thân tín của Lâm Bưu, từng cùng Lâm nam chinh bắc chiến, vào sinh ra tử, nhưng khi phải lựa chọn giữa Mao và Lâm, họ lại do dự, không dám phiêu lưu. Quyền điều động quân đội tập trung trong tay Chủ tịch Quân uỷ Trung ương Mao Trạch Đông, điều động một trung đội cũng phải được Mao phê chuẩn, Lâm Bưu là Phó Chủ tịch Quân uỷ kiêm Bộ trưởng Quốc phòng không được quyền điều động một trung đội. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng trở xuống càng không có quyền ấy. Vì vậy, tuy Lâm có ý làm phản, nhưng không hề nói với Hoàng, Ngô, Lý, Khưu.
Hai là các thành viên Hạm đội liên hợp do Lâm Lập Quả đứng đầu là những kẻ có dã tâm, dám phiêu lưu, sẵn sàng liều mạng để đạt mục đích. Trong tình hình bị Mao dồn ép từng bước, ý kiến của Hạm đội liên hợp chiếm tư thế. Tư tưởng chủ đạo của vợ chồng Lâm Bưu hồi đó là nổi lên chống lại còn hơn ngồi chờ chết.
Lâm từng nói với Diệp:
“Bí quyết đảo chính là hai chữ QUYỀN và NHANH. Các cuộc đảo chính hiện đại có thể đoạt quyền trong một buổi sớm. Làm đảo chính, cái giá đoạt quyền phải nhỏ nhất, nhỏ nhất, nhỏ nhất, thu hoạch phải lớn nhất, lớn nhất, lớn nhất, thời gian phải nhanh nhất, nhanh nhất, nhanh nhất, nhưng tìm được một thích khách như Chuyên Chư cũng khó nhất, khó nhất, khó nhất.”

Chỉ cần tìm được một thích khách như Chuyên Chư, giết phăng Mao Trạch Đông, là có thể nắm chính quyền trong tay. Trong giai đoạn đầu đảo chính, Lâm Bưu dựa vào Hạm đội của Lâm con, mà không sử dụng Hoàng, Ngô, Lý, Khưu, việc này có lý do của nó. Từ 21 đến 24-3-1971, tại căn hầm toà nhà số 889 đường Cự Lộ Thượng Hải, theo lệnh Lâm bố, Lâm con cùng Chu Vũ Trì, Vu Tân Dã, Lý Vĩ Tín, nghiên cứu thảo luận kế hoạch khởi nghĩa vũ trang. Cuộc đảo chính vũ trang có âm mưu tính đã bước vào giai đoạn thực thi.

7 users apart from you are browsing this thread:

7 guests

Similar threads