You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

861

Monday, March 11th 2019, 2:58am

Lâm Lập Quả nêu 3 khả năng:

một là Lâm Bưu tiếp quản quyền lực quá độ hoà bình, đợi 5,6 năm vẫn chưa được tiếp quản, trong thời gian trên có thể thay đổi lớn, chưa chắc Lâm giữ được vị trí hiện nay;
hai là Lâm bị người khác thay thế;
ba là Lâm Bưu tiếp quản quyền lực sớm, biện pháp là trừ phăng B-52 (Mao), thực hiện khởi nghĩa vũ trang.

Lập Quả thay mặt Lâm Bưu trao cho Vu Tân Dã nhiệm vụ vạch kế hoạch hành động, mang mật danh Kỷ yếu công trình 571 (571 đồng âm với cụm từ khởi nghĩa vũ trang).
Cốt lõi của kế hoạch hành động này là giết Mao, nói Mao không phải người Mác xít chân chính, mà là hôn quân phong kiến lớn nhất trong hách sử, thực hiện đạo Khổng Mạnh, khoác áo Mác-Lenin, cai trị kiểu Tần Thuỷ Hoàng; cuộc đấu tranh với Mao là cuộc đấu tranh một mất một còn, hoặc chúng ta xơi gọn hắn, hoặc hắn nuốt chửng chúng ta.

Có hai thời cơ chiến lược:
một là khi chuẩn bị tốt rồi, có thể xơi gọn đối phương,
hai là khi phát hiện kẻ thù há rộng miệng định nuốt chửng chúng ta, khi ấy dù chuẩn bị tốt hay chưa, cũng phải một trận sống mái.

Sách lược do kế hoạch trên đưa ra là:
Giương ngọn cờ B-52 đánh vào lực lượng của B-52‖, lợi dụng cuộc họp cấp cao quãng mẻ lưới bất gọn, hoặc trước tiên chặt hết móng vuốt, tạo ra sự thật đã rồi, buộc B-52 nghe lời, hoặc dùng các phương tiện đặc chủng như hơi độc, vũ khí vi trùng, máy bay ném bom, tên lửa, tai nạn ôtô, ám sát, bắt cóc, phân đội du kích ở thành thị… để giết Mao Trạch Đông. Sau đó, Lâm Lặp Quả cho thành lập đội huấn luyện quân sự cho cán bộ cơ sở, thực chất là các phân đội cơ động có sức chiến đấu mạnh ở Thượng Hải.

Hình như nhận ra dấu vết tập đoàn tâm Bưu sắp nổi loạn, ngày 15-8-1971, Mao Trạch Đông rời Bắc Kinh tuần du phương Nam, nhằm nhắc nhở lãnh đạo các địa phương cần vạch rõ ranh giới với Lâm Bưu. Từ 16 đến 27-8 tại Vũ Xương, Mao lần lượt gặp Chính uỷ Đại quân khu Vũ Hán Lưu Phong, Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ Hà Nam Lưu Kiên Huân, Tư lệnh Quân khu tỉnh Vương Tân, Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ Hồ Nam Hoa Quốc Phong, điểm tên phê phán Lâm Bưu và đồng đảng tổ chức tập kích bất ngờ tại Hội nghị Lư Sơn:
“Tôi không tin Hoàng Vĩnh Thắng chỉ huy nổi Quân Giải phóng làm phản! Bên dưới còn có các sư đoàn, trung đoàn, còn có các cơ quan chính trị, hậu cần, anh điều động quân đội làm phản, ai nghe theo?”

Ngày 28-8. Mao đến Trường Sa, lần lượt gặp lãnh đạo các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Mao nói với Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu Đinh Thịnh, Chính uỷ Lưu Hưng Nguyên:
“Các ông quan hệ với Hoàng Vĩnh Thắng mật thiết như vậy, Hoàng đổ, các ông thế nào?”

Câu nói đáng chú ý nhất của Mao tại đây là:
“Tôi dự định 23-9 về Bắc Kinh, 25 đến 29-9 họp Hội nghị Trung ương 3 khoá 9. Hội nghị sẽ nêu ra sai lầm của Lâm Bưu, cử thêm Trương Xuân Kiều, Lý Đức Sinh vào Thường vụ Bộ chính trị, Trương Xuân Kiều làm Phó Chủ tịch Đảng.”

Ngày 31-8, Mao đến Nam Xương, gặp Tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh Hứa Thế Hữu, Tư lệnh Đại quân khu Phúc Châu Hàn Tiên Sở, Chủ nhiệm Uỷ ban cách mạng Giang Tây Trình Thế Thanh. Mao phê phán Lâm Bưu và phe cánh tổ chức tập kích bất ngờ, hoạt động bí mật, có kế hoạch, có tổ chức, có cương lĩnh… Mao nói:
“Hội nghị Lư Sơn mới giải quyết vấn đề Trần Bá Đạt, chưa đụng đến Lâm Bưu. Đương nhiên Lâm phải chịu một số trách nhiệm. Đối với Lâm vẫn phải theo phương châm ngăn trước ngừa sau, trị bệnh cứu người, song với những vụ mắc sai lầm về nguyên tắc lớn, sai lầm về đường lối, phương hướng, thi người đứng đầu cũng khó sửa lắm.”

Trình Thế Thanh xin gặp riêng Mao, tố cáo ba việc:
1. Trong thời gian Hội nghị Lư Sơn, Diệp Quần bảo Trình phải kiên trì yêu cầu đặt chức danh Chủ tịch nước;
2. Thượng tuần tháng 7, Chu Vũ Trì đến Nam Xương, dùng máy bay chở đi số xe lội nước mà họ nhờ Nhà máy Giang Nam chế tạo.
3. Lâm Lập Hằng (con gái Lâm Bưu) có lần đến Nam Xương ở tại nhà Trình, đã nghiêm túc nói với bà vợ ông ta: “Sau này bớt đi lại với nhà họ Lâm, làm không tốt mất đầu đấy.”

862

Monday, March 11th 2019, 3:00am

Thông tin trên khiến Mao thêm cảnh giác. 0 giờ ngày 3-9, Mao từ Nam Xương tới Hàng Châu, cho gọi lãnh đạo tỉnh Chiết Giang, và Chính uỷ Quân đoàn 5 Không quân Trần Lệ Vân đến gặp trên chuyên xa. Lệ Vân là thành viên Hạm đội liên hợp, được Lâm Lập Quả cử đứng đầu lực lượng này ở Hàng Châu. Lệ Vân vừa đến, Mao nghiêm mặt chất vấn:
“Quan hệ của anh với Ngô Pháp Hiến thế nào? Tại Lư Sơn, Ngô Pháp Hiến đã tìm gặp mấy người, trong đó có anh. Vương Duy Quốc ở Thượng Hải và một người nữa ở Phúc Kiến. Tám uỷ viên Trung ương trong Không quân các anh đã làm những gì rồi?”

Trần Lệ Vân cúi gằm mặt. Mao nói tiếp:
“Các anh bị lừa dối. Đối với những người mắc sai lầm vẫn là trị bệnh cứu người. Phải theo chủ nghĩa Mác-Lenin, không theo chủ nghĩa xét lại, phải đoàn kết, chớ chia rẽ, phải quang minh chính đại, chớ giở mưu ma chước quỷ. Tôi cũng không hiệu mấy viên đại tướng hiện nay (chỉ Hoàng, Ngô, Lý, Khưu), cũng không rõ tình hình tư tưởng Hoàng Vĩnh Thắng hiện nay ra sao. Tôi không tin quân đội muốn tạo phản. Quân đội phải thống nhất, phải chỉnh đốn…”

Nghe Mao nói, Trần Lệ Vân thấy như sét đánh ngang tai, đâu dám thực hiện nhiệm vụ của Hạm đội liên hợp nữa.
Lúc đó, từ biệt thự ven biển Bắc Đới Hà, Lâm Bưu và Diệp Quần tim mọi cách thăm dò lịch trình của Mao trong chuyến đi này, cũng như việc Mao gặp những ai, nói những gì đề lựa chọn thời cơ ra tay.
Đêm 5-9, Tham mưu trưởng Không quân Quảng Châu Cố Đồng Chu mật báo Chu Vũ Trì nội dung cuộc đàm thoại giữa Mao với Hoa Quốc Phong, Đinh Thịnh, Lưu Hưng Nguyên.
Chiều 6-9-1971, Chu Vũ Trì đáp máy bay lên thẳng tới Bắc Đới Hà trao cho Lâm Lập Quả. Đọc xong bản ghi qua điện thoại dài tới 16 trang, Lâm Bưu và Diệp Quần lòng như lửa đốt. Đến đoạn Ngày 23-9 Mao về Bắc Kinh, 25 đến 29 họp Hội nghị Trung ương 3 khoá 9. Hội nghị sẽ nêu ra sai lầm của Lâm Bưu, cử thêm Trương Xuân Kiều và Lý Đức Sinh vào Thường vụ Bộ chính trị, Trương Xuân Kiều làm Phó Chủ tịch Đảng, Lâm Bưu tức điên lên, quyết một trận sống mái.
6 giờ sáng 6-9, nhân dịp cùng Tham mưu trưởng quân đội Triều Tiên tới Vũ Hán, Lý Bằng đã bí mật gặp Chính uỷ Đại quân khu Vũ Hán Lưu Phong. Trở về Bắc Kinh trong ngày, Lý Bằng đã báo cáo Hoàng Vĩnh Thắng nội dung phát biểu của Mao tại Vũ Hán do Lưu Phong vừa mật báo. Hoàng thông báo ngay cho Diệp Quần qua đường điện thoại bảo mật.
Ngày 7-9, Chu Vũ Trì quay lại Bắc Kinh, trao cho Giang Đàng Giao nhiệm vụ chỉ huy giết Mao Trạch Đông, khi đoàn tàu chở Mao qua Thượng Hải trên đường trở về Bắc Kinh dự Quốc khánh.

Mao nghỉ tại biệt thự Uông Trang một tuần. Uông Đông Hưng kể lại, tối 8-9, một đồng chí tốt cho người đến ngầm nói với Mao: “
“ở Hàng Châu có người chuẩn bị máy bay, có người chỉ trích chuyên xa của Chủ tịch cản trở họ đi lại.”
Uông nửa đêm gọi điện cho Trần Lệ Vân bàn việc di chuyển chuyên xa, Trần thoái thác bận việc, cho thư ký đến gặp. Tình hình đó thôi thúc Mao quyết đoán di chuyển sớm. 13 giờ 40 phút ngày 10, Mao rời Thiệu Hưng. 15 giờ 35 phút rời ga Hàng Châu, 18 giờ 10 phút tới Thượng Hải.

9 giờ tối 8-9, Lâm Lập Quả lên máy bay Trident số 256 về Bắc Kinh, mang theo lệnh viết tay:
“Làm theo mệnh lệnh do các đồng chí Lập Quả, Vũ Trì truyền đạt.
Ngày 8-9
Lâm Bưu”

11 giờ 30 tối 8-9, tại cứ điểm bí mật trong sân bay Tây Giao (Bắc Kinh), Lâm Lập Quả nói:
“Tình hình rất khẩn cấp, chúng ta đã quyết định ra tay tại Thượng Hải. Chúng ta nghiên cứu ba biện pháp. Một là dùng súng phun lửa, B.40 tấn công chuyên xa của Mao, lai là dùng pháo cao xạ 100 ly bắn thẳng vào chuyên xa. Ba là Vương Duy Quốc mang theo súng ngắn, nhân lúc gặp Mao, ra tay trên xe lửa.”

Lập Quả quay sang Giang Đằng Giao:
“Ông xuống Thượng Hải thống nhất chỉ huy, chỉ có ông đảm đương nổi việc này. Sau khi Thượng Hải khởi sự, Vương Phi chỉ huy tiểu đoàn cảnh vệ trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân đánh vào Điếu Ngư Đài. Thủ trưởng (Lâm Bưu) nói rồi, ai hoàn thành nhiệm vụ, người đó là khai quốc nguyên huân.”

Giang Đằng Giao nêu ý kiến:
“Nếu chuyên xa dừng tại sân bay Hồng Kiều Thượng Hải, thì cho nổ kho dầu gần đó, lợi dụng tình trạng nhốn nháo khi cứu hoả, xông lên thịt luôn B-52. Thêm một phương án nữa là đánh sập cầu Thạc Phóng, khi chuyên xa di chuyển giữa Thượng Hải và Tô Châu.”

Đến Thượng Hải, Mao ở luôn trên chuyên xa. Uông Đông Hưng lệnh cho lực lượng cảnh vệ địa phương rút hết ra ngoại vi. Uông trực tiếp chỉ huy cảnh vệ thiện chiến thuộc Trung đoàn cảnh vệ trung ương, bố trí bảo vệ nghiêm ngặt, đặt cả trạm gác tại kho dầu sân bay cách chuyên xa 150 mét.
Mao cho gọi Tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh Hứa Thế Hữu đến ngay Thượng Hải. Sáng 11, Hứa vừa xuống máy bay, liền cùng Vương Hồng Văn (Phó Chủ nhiệm Uỷ ban cách mạng Thượng Hải) được đưa ngay lên chuyên xa gặp Mao.

863

Monday, March 11th 2019, 3:02am

Vương Duy Quốc nhận nhiệm vụ mưu sát Mao, y giấu súng ngắn trên xe hình như bị phát giác; nên không được tiếp cận chuyên xa. Mao bảo Vương Hồng Văn mời Hứa Thế Hữu và mọi người ăn trưa, Hồng Văn cố tình kéo cả Duy Quốc cùng đi. Bữa trưa kéo dài hai giờ, Vương Duy Quốc không sao rời nổi bàn ăn.

13 giờ 12 phút ngày 11-9, Mao hạ lệnh đoàn tàu lập tức chuyển bánh, không cho một ai biết. Nghĩa là vào lúc Vương Duy Quốc và đồng đảng còn đang do dự, đùn đẩy nhau về các phương án mưu sát Mao, thì đoàn chuyên xa của Mao đã rời Thượng Hải, chạy như bay trên tuyến đường sắt Phố Khẩu-Thiên Tân. Trạm đầu tiên là Tô Châu.

Cầu Thạc Phóng nằm giữa Tô Châu và Vô Tích, Hạm đội liên hợp đã xem xét địa hình, thiết kế vị trí đặt thuốc nổ, nhưng họ vẫn theo phương án ngày 23-9 Mao về Bắc Kinh, nên mọi việc chưa triển khai. Đoàn chuyên xa của Mao an toàn qua cầu, 18 giờ 35 phút đến Nam Kinh, dừng lại 15 phút, Hứa Thế Hữu đứng trên sân ga chỉ huy bảo vệ đoàn tàu. Qua Nam Kinh là thoát khỏi vùng nguy hiểm.
13 giờ 10 phút ngày 12-9-1971, đoàn tàu về đến ga Phong Đài. Do Uông Đông Hưng thông báo trước, Tư lệnh Đại quân khu Bắc Kinh Lý Đức Sinh, Chính uỷ thứ hai Kỷ Đăng Khuê, Chủ nhiệm Uỷ ban cách mạng Bắc Kinh Ngô Đức, Tư lệnh khu cảnh vệ Bắc Kinh Ngô Trung đã có mặt. Mao hỏi han tình hình Bắc Kinh, rồi lệnh cho Lý Đức Sinh điều một sư đoàn thuộc Quân đoàn 38 đến cửa Nam Bắc
Kinh chờ lệnh. 16 giờ 5 phút ngày 12, đoàn tàu về đến ga Bắc Kinh, trong sự bảo vệ nghiêm ngặt. Mao lên ôtô về Trung Nam Hải.
Đêm 11-9, Vương Duy Quốc gọi điện thoại cho Chu Vũ Trì, hối hả nói, quên cả mật danh và ám ngữ:
“Chuyên xa của Mao Chủ tịch đã rời Thượng Hải trưa nay.”

Lâm Lập Quả nghe tin bật khóc. Tại biệt thự số 86 trên núi Liên Phong, Bắc Đới Hà, Lâm Bưu nghe tin mặt tái xanh, đôi mắt trân trân như tượng gỗ. Kế hoạch mưu sát Mao Trạch Đông hoàn toàn phá sản, Lâm Bưu quyết định thực hiện phương án 2, đem theo 5 uỷ viên Bộ chính trị Hoàng, Ngô, Diệp, Lý, Khưu xuống Quảng Châu, lập Trung ương riêng, đối kháng Mao. Tám máy bay, trong đó có 2 chiếc Trident, 2 chiếc Il-18, 1 chiếc lên thẳng Skylark được chuẩn bị để thực thi phương án này, phía Quảng Châu đã được lệnh sẵn sàng tiếp nhận máy bay hạ cánh, và bố trí phòng ở trên núi Bạch Vân.
15 giờ 12-9, Diệp Quần tổ chức lễ đính hôn cho con gái là Lâm Lập Hằng và Trương Thanh Lâm. Buổi tối tổ chức chiếu phim Hồng Công, số cảnh vệ và nhân viên phục vụ không trực ban đều bị hút cả nào đó. 20 giờ 10 phút, Lâm Lập Quả từ Bắc Kinh trở về, lưng giắt súng ngắn, tặng chị một bó hoa tươi chúc mừng, rồi vội vã vào phòng Lâm Bưu.
Lập Hằng lặng lẽ theo dõi, thấy tình hình khác thường, liền thông qua Đại đội trưởng cảnh vệ Phương Tác Thọ, báo cáo Trung ương. Mao Trạch Đông ra lệnh Trung Nam Hải và Điếu Ngư Đài vào báo động chiến đấu cấp 1.
22 giờ 30 phút, Uông Đông Hưng báo cáo Chu Ân Lai, lúc ấy đang họp tại Nhà Quốc hội. Một lát sau, Uông lại nhận được báo cáo thứ 2 của Lâm Lập Hằng:
“Có một máy bay Trident đậu trên sân bay Sơn Hải Quan.”

Chu cho ngừng ngay cuộc họp, trở về phòng lâm việc, gọi điện bảo Ngô Pháp Hiến làm rõ việc này. Pháp Hiến báo cáo:
“Đúng là có một máy bay đến Sơn Hải Quan, Hồ Bình nói đây là máy bay bay thử, sau khi sửa chữa. Tôi yêu cầu cho máy bay quay lại, Hồ Bình nói máy bay có chút trục trặc, tạm thời chưa thể bay trở lại.”

Sân bay Sơn Hải Quan thuộc Hải quân, Chu gọi điện cho Lý Tác Bằng nêu rõ:
“Phải có 4 người Chu Ân Lai, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng cùng ra lệnh, chiếc máy bay ở Sơn Hải Quan mới được cất cánh.”

Sự nhạy bén, lão luyện của Chu khiến người ta khâm phục, một cú điện thoại trên đã phá tan âm mưu của Lâm Bưu chạy xuống Quảng Châu lập Trung ương riêng.
23 giờ 30 phút, Lâm Lập Quả nhận được điện thoại của Chu Vũ Trì:
“Hỏng rồi, Thủ tướng đã điều tra chiếc máy bay 256. Thủ tướng đòi đưa máy bay trở lại Bắc Kinh.”

Đang lúc nhà họ Lâm bàn đối sách, chuông điện thoại lại reo lên.
Diệp Quần nhấc ống nghe, tiếng Chu Ân Lai quen thuộc:
- Đồng chí Diệp Quần, Lâm Phó Chủ tịch khỏe không?
- Đồng chí Lâm Bưu rất khỏe.
- Bắc Đới Hà có một chiếc máy bay, đồng chí có biết không?
- Có biết, con tôi bay đến đấy. Bố cháu nói nếu ngày mai thời tiết tốt, sẽ bay dạo trên trời.
- Phải chăng rời đi nơi khác?
- Vốn định đi Đại Liên, ở đây thời tiết lạnh rồi.
- Bay đêm không an toàn đâu.
- Chúng tôi không bay đêm, đợi sáng mai hoặc trưa mai thời tiết tốt mới bay.
- Đừng bay nữa, không an toàn: Nhất định phải nắm chắc tình hình thời tiết.

Chu Ân Lai chủ yếu nhắc nhở họ thời tiết chính trị không tốt hành động phiêu lưu không an toàn, rồi nói tiếp:
- Tôi muốn xuống Bắc Đới Hà thăm đồng chí Lâm Bưu.
Diệp Quần cuống lên:
- Thủ tướng đừng đến, đồng chí đến thì Lâm Bưu sẽ căng thắng, Thủ tướng dứt khoát đừng đến.

864

Monday, March 11th 2019, 3:03am

Lâm và Diệp cho rằng kế hoạch của họ bị lộ rồi. Chu Ân Lai đến thì chỉ còn nước ngồi chờ làm tù binh. Lâm bảo Diệp:
- Tôi cũng không nghỉ ngơi nữa, đằng nào thì đêm nay cũng không ngủ nổi. Mọi người nhanh chóng lấy đồ đạc. Chúng ta đi ngay.

Khu biệt thự yên tĩnh bỗng trở nên rối loạn. 23 giờ 40 phút, chiếc xe Hồng Kỳ chống đạn cỡ lớn của Lâm Bưu lao ra với tốc độ trên 100 km/giờ. Đại đội trưởng Không Tác Thọ đứng giữa đường ra hiệu cho xe dừng lại. Diệp Quần ra lệnh:
“Bộ đội 8341 không trung thành với Thủ trưởng, lao qua!”

Nếu Tác Thọ không đề phòng từ trước, chắc đã bị cán chết. Tham mưu cảnh vệ Lý Văn Phổ ngồi bên lái xe vẫn tưởng chuyến này đi Đại Liên, khi nghe Lâm Bưu hỏi Lập Quả: “Đến Irkutsk còn bao xa?”, liền lớn tiếng hét dừng xe, lái xe phanh lại theo thói quen.
Lý nhảy xuống xe, hỏi:
“Các người đưa thủ trưởng đi đâu?”

Lâm Lập Quả rút súng bắn luôn. Chiếc xe lại lao vút lên như điên, đến sân bay Sơn Hải Quan lúc 0 giờ 18 phút ngày 19-9-1971.
14 phút sau, chiếc Trident số 256 chở đoàn Lâm Bưu do Phan Cảnh Diễn điều khiển cất cánh bay về hướng Irkutsk, trong tình trạng không có lái phụ, hoa tiêu và nhân viên báo vụ. Sân bay điện báo cáo Lý Tác Bằng, ý thoái thác có thể trực tiếp báo cáo Thủ tướng. Chu Ân Lai được tin, lệnh cho Sở chỉ huy Không quân dùng đài đối không liên lạc với Phan Cảnh Diễn, yêu cầu bay trở lại, có thể hạ cánh tại sân bay Thủ đô hoặc Tây Giao. Ngô Pháp Hiến trực tiếp cầm máy liên tục gọi Phan, nhưng không thấy trả lời. Ngô gọi điện cho Uông:
“Máy bay của Lâm Bưu sẽ từ hướng Trương Gia Khẩu bay khỏi Hà Bắc, đi vào Nội Mông, có cho máy bay tiêm kích chặn lại không?”

Uông báo cáo Mao, Mao nói:
“Lâm Bưu vẫn là Phó Chủ tịch Đảng ta. Trời phải mưa, con gái phải lấy chồng, cứ để ông ta bay đi.”

1 giờ 50 sáng 13-9-1971, chiếc máy bay 256 vượt biên giới, bay vào vùng trời Mông Cổ. Chu Ân Lai cho ban bố lệnh cấm không: không một máy bay nào được cất cánh, nếu không có lệnh do Chủ tịch Mao Trạch Đông, Phó Chủ tịch Lâm Bưu, Thủ tướng Chu Ân Lai, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng và Tư lệnh Không quân Ngô Pháp Hiến liên danh ký tên.

Hơn 3 giờ sáng 13-9, Bộ Tư lệnh Không quân báo cáo: chiếc máy bay lên thẳng số 3685 bay khỏi sân bay Sa Hà, trên máy bay có Chu Vũ Trì, Vu Tân Dã, Lý Vĩ Tin, lái chính Trần Vân Tu, lái phụ Trần Sĩ Ấn. Trần Vân Tu không làm theo lệnh của các thành viên Hạm đội liên hợp, cho máy bay vòng lại, hạ cánh xuống một hẻm núi ở ngoại thành Bắc Kinh. Chu Vũ Trì nổ súng bắn chết Trần Vân Tu, Trần Sĩ Ấn nằm im vờ chết. Ba thành viên Hạm đội liên hợp hẹn nhau cùng tự sát. Chu Vũ Trì và Vu Tân Dã chết ngay. Lý Vĩ Tín bắn chỉ thiên, bị bắt.

Chiều 14-9, Thủ tướng Chu nhận được báo cáo của Đại sứ Trung Quốc tại Mông Cổ: 3 giờ sáng 13-9; chiếc máybay Trident số hiệu 256 của Hàng không dân dụng Trung Quốc bị rơi tại tỉnh Chentij gần Underkhan Mông Cổ, cả 9 người trên máy bay đều chết. Sau qua giám định, được biết 9 người trên gồm Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, Lưu Bái Phong, cùng phi công, lái xe, và 3 kỹ sư cơ khí.

Sáng 13-9, Mao Trạch Đông uỷ thác Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị, thông báo vụ Lâm Bưu bỏ chạy, đồng thời chuẩn bị chiến đấu khẩn cấp, bố trí bảo vệ Bắc Kinh, đề phòng các sự kiện đột phát. Chu còn trực tiếp gọi điện thoại cho lãnh đạo 29 tỉnh và thành phố trực thuộc, thông báo vụ Lâm Bưu, yêu cầu các nơi có biện pháp khẩn cấp, kiểm soát tình hình.
Ngày 3-10, theo đề nghị của Chu, Mao đồng ý xoá bỏ Tổ làm việc Quân uỷ Trung ương, bắt Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác, thành lập Hội nghị làm việc Quân uỷ Trung ương gồm 10 thành viên, do Diệp Kiếm Anh chủ trì. Mao dặn họ:
“Phàm thảo luận những vấn đề lớn, phải mời Thủ tướng tham gia.”

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 12th 2019, 12:48am)


865

Monday, March 11th 2019, 4:50am

Về nền pháp trị lạc hậu của Trung Quốc
Posted on 09/03/2019 by The Observer
Nguồn tiếng Trung: 半开化的华夏文化, Tạp chí Mùa xuân Bắc Kinh (Beijing Spring) ngày 10.11.2018.
Tác giả: Quang Mẫn (Trung Quốc) | Biên dịch: Đoàn Đức Thanh
Nguồn: Văn hóa Nghệ An

Trung Quốc không chỉ lạc hậu về chính trị, còn lạc hậu về pháp luật. Trung Quốc cổ đại không có được luật pháp như Luật Hammurabi, Luật La Mã, thậm chí cũng không có dù chỉ một mảnh của Tảng Đá Pháp Luật (Lögberg, Law Rock)Iceland.

Trung Quốc là xã hội rừng rú bán khai
Từ thời cổ đại đến nay do sự tồn tại của lý luận huyết thống đã khiến mọi người Trung Quốc phải chấp nhận chế độ đẳng cấp tông pháp; [vai trò] cá nhân trong các mối quan hệ gồm cha chú, tôn trưởng, quan lại, hoàng đế, chỉ như nô lệ và công cụ; không có bất cứ độc lập gì; một xã hội như vậy tự nhiên không thể trở thành xã hội công dân, chỉ có thể là xã hội rừng rú gia tộc.

Hơn nữa, do chế độ đẳng cấp tạo ra tình trạng mọi người chênh lệch về địa vị, khiến mọi người không được bảo vệ quyền lợi như nhau bằng luật chung, vì vậy Trung Quốc chỉ có hình luật để trừng phạt hà khắc, không có dân luật bảo vệ quyền lợi.
Trong Hán ngữ cổ đại, “hình” (刑), “pháp” (法) và “luật” (律) đều có nghĩa là quy định hoặc điều lệ trừng phạt. Luật pháp của nhà Chu (1122 TCN-249 TCN) bao gồm “Lễ” và “Hình” hợp thành, trong đó “Lễ” là chính “Hình” là phụ, “Lễ không đến thứ dân, Hình không tới đại phu”; hình luật chuyên đàn áp bách tính thứ dân, chú trọng trấn áp tội gây loạn. Có thể thấy, đối tượng bảo vệ chính của hình luật là vương quyền.
Vào thế kỷ thứ 10 TCN, vị vua thứ 5 của nhà Chu là Chu Mục Vương (1054 TCN – 949 TCN) đã ra lệnh cho đại thần Lữ Hầu (吕候) chế định bộ hình luật, là bộ luật dùng vào việc trừng phạt thường dân, được gọi là “Lữ hình” (吕刑). Trong “Pháp kinh” (法经) của Lý Khôi (李悝, 455 TCN – 395 TCN) thì nội dung cả sáu phần gồm Đạo, Tặc, Tù, Bổ, Tạp, Cụ (盗、贼、囚、捕、杂、具) đều là hình luật.
Sau thời nhà Tần (221 TCN – 206 TCN), luật pháp của các triều đại khác nhau cũng đều dùng hình luật làm chính.

Vì kẻ cai trị của các triều đại nhấn mạnh trọng nông khinh thương, trọng tập thể khinh cá nhân, vì thế lịch sử luật pháp Trung Quốc hầu như không có bất cứ luật thương mại hay luật dân sự nào đáng kể, thậm chí không có khái niệm công pháp hay tư pháp, ngay cả đến Luật tố tụng (procedural law) cũng dường như chỉ là con số không.

Nhà tư tưởng của Anh là Henry James Sumner Maine (1822 – 1888 ) từng cho biết: Có thể biết được độ cao thấp của văn hóa một quốc gia bằng việc nhìn vào tỷ lệ giữa Dân luật và Hình luật. Nhìn chung quốc gia bán khai (mông muội) thì dân luật ít, hình luật nhiều; quốc gia tiến bộ thì dân luật nhiều, hình luật ít. Có nhà luật học Nhật Bản đã theo đó nhấn mạnh thêm rằng, Trung Quốc cổ đại chỉ có hình luật mà không có dân luật, là một quốc gia bán khai, văn hóa thấp kém.

“Hình không tới đại phu” là nguyên tắc luật pháp của Trung Quốc cổ đại, “trẫm chính là luật pháp” là nguyên tắc luật pháp của hoàng đế Trung Quốc. Mối quan hệ giữa hoàng đế và quốc dân là mối quan hệ giữa chủ và nô lệ, như vậy còn có chút nào gọi là tinh thần pháp trị?

Khi thích vương Lưu Kiến Đức (刘建德, ? – 50 TCN)triều Tây Hán ra ngoài săn bắn, vì nhà dân gây cản trở đường chạy tuấn mã của ông ta mà ông ta đã ra lệnh đốt 96 ngôi nhà và giết chết hai thôn dân muốn nói lý lẽ. Tội ác kinh khủng như vậy mà Hán Tuyên Đế (汉宣帝, 91 TCN – 48 TCN) chỉ cắt bỏ của ông ta tiền thuế ruộng 8 huyện.

Hoàng đế Hàm Phong (1851 – 1861) của nhà Thanh đã phát minh ra “Luật trấn áp tại chỗ”, khi bắt người giết người không cần phải báo lên, không phải nhất nhất tuân theo lệ thường, hệ quả mỗi năm ít nhất hàng ngàn người bị giết chết tùy tiện. Do bị cai tù bức hại, vào triều đại nhà Thanh số tù nhân chết trong tù mỗi năm lên tới hàng chục ngàn người.

Nho giáo phản đối công khai pháp luật
Hình luật nhà Chu nằm trong tay giới quý tộc cha truyền con nối và không được công bố công khai, giới quý tộc có thể tùy ý trừng phạt và tuyên án.

Vào năm 536 TCN, nước Trịnh thời Tử Sản (子产, ? – 522 TCN) cầmquyền đã đúc sách hình luật trên đỉnh đồng và cho công khai trước dân chúng, phá vỡ thông lệ cất giấu sách hình luật trong phủ quan, mở tiền lệ cho công khai luật lệ thành văn của Trung Quốc. Sự kiện này tương đương với thời kỳ Hy Lạp và La Mã công bố luật thành văn. Cách làm của Tử Sản đã bị các quan lại cấp cao phản đối mạnh mẽ.

Thầy của Tấn Bình công (晋平公, ? – 532 TCN) là Thúc Hướng (叔向, ? – khoảng 528 TCN) đã viết một lá thưcho Tử Sản nhằm cố gắng ngăn chặn hành động nghiêm trọng này. Thúc Hướng đã trích dẫn câu cổ ngữ “Nước sắp vong, chính lệnh nhiều” (Quốc tương vong, tất đa chế), dựđoán “ngày kết triều đại, nhà Trịnh suy bại”! “Vì triều chính nhà Hạ rối ren mà có Vũ hình (Hình pháp vua Vũ), vì triều chính nhà Thương rối ren mới có Thang hình (Hình pháp vua Thang), triều chính nhà Chu rối ren mà có Cửu hình.”

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 12th 2019, 12:00am)


866

Monday, March 11th 2019, 4:53am

Thúc Hướng chủ trương dùng nguyên tắc hình pháp bí mật làm cho thường dân rơi vào cảnh khủng bố “hình không thể biết, uy không thể lường”, quan lại có thể tùy tiện xử lý. Một khi dân thường biết các quy định pháp luật sẽ không cúi đầu tuân phục phán xử do quan lại tùy tiện đưa ra; mọi người hiểu biết pháp luật thì sẽ căn cứ theo luật để biện luận, quan lại sẽ mất oai phong.

Làm đỉnh công khai luật thành văn sẽ làm tăng tính minh bạch của pháp luật, làm cho mọi người đều biết rõ, khiến mọi người có khả năng phán xét đều có thể trở thành “quan tòa”. Đồng thời, các quy định pháp luật trở thành “thủ tục” không thể thay đổi một cách tùy tiện, làm cho việc tuyên án định tội phải theo một tiêu chuẩn công khai và thống nhất, ở mức nhất định sẽ hạn chế tình trạng bức hại tùy tiện của các quan lại đối với dân chúng.

Quan niệm luật pháp hiện đại cho rằng luật không công bằng là “luật bất hợp pháp”. Nhưng Trung Quốc ngày nay vẫn còn không ít luật ngầm không được công khai cho mọi người biết, điều có liên quan đến lợi ích thiết thân của mỗi người nhưng lại không để cho mọi người biết đến, có khi gọi nó là “chính sách nội bộ” (thổ chính sách). Ví dụ như trước đây người nộp đơn xin ra nước ngoài phải tiến hành “thẩm tra chính trị”, nhưng người như thế nào không được chấp thuận cho ra nước ngoài thì vẫn giữ bí mật trước người dân.

Khổng Tử khởi xướng “Đức chính Hình phụ”; “Lễ sáng dẫn dắt dân, luật trị kẻ ngang ngạnh”; “Với quân tử dùng tình [cảm hóa], với tiểu nhân dùng hình [uy hiếp]”, “Lễ giáo và vinh nhục dùng cho quân tử, là dùng tình lý để cai trị; gông cùm và roi vọt dùng cho tiểu nhân, là dùng hình phạt để cai trị.”

Có thể thấy, luật pháp chỉ dùng đối phó với tiểu nhân (tính cách xấu hoặc địa vị thấp kém). Như thế, luật pháp giống như kẻ tiểu nhân thuộc loại không đáng coi trọng, ngay cả đại học sĩ Đông Pha (东坡, 1037 – 1101) nổi tiếng cũng viết thơ: “Đọc sách vạn quyển không đọc luật”.
Nho giáo nỗ lực bảo vệ hệ thống Lễ trị. Vào năm 513 TCN, đại thần nước Tấn là Triệu Ưởng (赵鞅, tức Triệu Giản tử, ? – 476 TCN) và Tuân Dần (荀寅,tức Trung Hàng Văn tử) khắc luật hình lên đỉnh sắt công khai thị chúng. Khổng Tử lên án việc này cho rằng:
“Thứ bậc sang hèn không còn, lấy gì trị nước?”

Khổng tử không có chút khái niệm gì về bình đẳng, ông ta không quan tâm gì đến bình đẳng. Do đó ông ta thù ghét việc công bố công khai luật thành văn. Đúc luật hình lên đỉnh làm cho người dân hiểu biết, hệ quả dẫn đến “hình phạt tới được đại phu”. Điều này mâu thuẫn với chế độ đẳng cấp mà Khổng Tử cổ xúy, vì vậy ông ta nhất mực chống đối. Ông ta không muốn cho nông nô có địa vị pháp luật, khi đó nông nô bị tùy tiện biếu tặng như những món đồ.

Khổng Tử cho rằng: Nếu không công bố luật thành văn, người dân sẽ theo quán tính nhất nhất tuân phục, vua chúa có thể dễ dàng tùy ý thao túng dân chúng. Giờ đây nước Tấn công khai luật thành văn thì người dân sẽ noi theo luật pháp mà không tuân phục an bài của kẻ cai trị, như vậy nhất định sẽ khiến “không còn thứ bậc sang hèn”; và khi dân chúng đã biết các quy định luật pháp thì còn nói gì về chuyện “không cho họ hiểu biết”? Luật pháp và lễ giáo là vũ khí bí mật của kẻ cai trị, cũng là biểu tượng cho đặc quyền của thế lực cầm quyền, sao có thể dễ dàng làm cho bại lộ?

867

Monday, March 11th 2019, 5:32am

ASEAN trong cuộc đối đầu Trung – Mỹ
Posted on 10/03/2019 by The Observer
Tác giả: Bilahari Kausikan | Biên dịch: Trần Quang
Bài viết được đăng trên báo cáo Tầm nhìn An ninh Khu vực 2019 (tr.37-41) của Hội đồng Hợp tác An ninh Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (CSCAP).
Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông

Đông Nam Á luôn là đấu trường cho các cuộc cạnh tranh nước lớn. Trong khoảng một thập kỷ qua, quan hệ Mỹ-Trung đã và đang là trục cạnh tranh chính, và thách thức cơ bản đối với ASEAN là khối này phải xác định cho mình lập trường như thế nào khi Mỹ và Trung Cộng dò tìm một tạm ước mới.
Đây vẫn là thách thức chính. Nhưng ASEAN không nên tự dối mình rằng đó chỉ là một công việc như bình thường. Quan hệ Mỹ-Trung đã bước vào một giai đoạn mới của sự cạnh tranh cao độ trong dài hạn.

Đây chính là tình hình mới.
Sự cạnh tranh vẫn luôn là một phần cố hữu trong quan hệ Mỹ-Trung. Nhưng từ năm 1972 đến khoảng năm 2010, mặc dù đã có những giai đoạn căng thẳng, song quan hệ Mỹ-Trung nhìn chung vẫn nhấn mạnh sự can dự. Mỹ và Trung Cộng không phải là đối tác tự nhiên, cũng không phải là kẻ thù không thể tránh khỏi.

Đặc trưng của quan hệ Mỹ-Trung hậu Chiến tranh Lạnh là giữa họ cùng lúc tồn tại cả sự mất lòng tin chiến lược sâu sắc lẫn sự phụ thuộc lẫn nhau theo kiểu mới, chưa từng có trong lịch sử. Mỹ và Trung Cộng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Sự can dự và hợp tác sẽ không hoàn toàn chấm dứt trong tình hình mới. Nhưng nó sẽ có tính chọn lọc hơn nhiều, và giờ đây trọng tâm chung rõ ràng đã chuyển sang sự cạnh tranh. Không còn nghi ngờ gì nữa, bài phát biểu của Phó Tổng thống Pence vào ngày 4/10/2018 là tín hiệu dễ hiểu và rõ ràng về cách tiếp cận mới.

Biểu hiện dễ thấy nhất của cách tiếp cận mới này là “cuộc chiến thương mại” của Trump. Ở chừng mực nào đó, thuật ngữ này đã bị dùng sai. Thương mại là công cụ; còn mục tiêu, như Chiến lược an ninh quốc gia được công bố vào tháng 12/2017 và Chiến lược quốc phòng được công bố vào tháng 1/2018 của Chính quyền Trump đã làm rõ, là sự cạnh tranh chiến lược.
Trung Cộng cáo buộc Mỹ sử dụng thương mại để cản trở và kìm hãm sự phát triển của mình. Trung Cộng không sai, mặc dù họ né tránh trách nhiệm của chính mình theo cách thuận tiện cho họ. Hầu hết sự chú ý đều tập trung vào việc áp thuế quan trả đũa. Điều này cuối cùng cũng phải chấm dứt, mặc dù hiện giờ không ai có thể dự đoán được là vào lúc nào, với phí tổn gì, hay có những tác động như thế nào đối với trật tự quốc tế.
Cả hai bên đều phát đi tín hiệu rằng họ sẵn sàng thảo luận và Trump đã gặp Tập Cận Bình bên lề hội nghị G20 tại Argentina vào cuối tháng 11/2018. Không rõ liệu họ có thể đi tới một thỏa thuận hay không. Trong bất kỳ trường hợp nào, bất kỳ thỏa thuận nào – nếu có – thì đó cũng là về thuế quan, nhưng phương diện quan trọng hơn của cuộc chiến thương mại là những điều luật mới của Mỹ nhằm hạn chế chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc: Đạo luật về hiện đại hóa đánh giá rủi ro đầu tư nước ngoài (FIRRMA) và Đạo luật phê chuẩn ngân sách quốc phòng đã được thông qua với sự ủng hộ mạnh mẽ của cả hai đảng vào tháng 8/2018. FIRRMA – và các điều luật khác đang được thảo luận – xác định khuôn khổ luật pháp mới cho quan hệ của Mỹ với Trung Quốc.

Không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Chính quyền Trump có khuynh hướng thay đổi cách tiếp cận; và các chính quyền kế nhiệm cũng sẽ không dễ dàng thay đổi các điều luật mới này.
Đây không chỉ là vấn đề về cá nhân Trump. Tính cách của ông làm gia tăng sự không chắc chắn trong quan hệ Mỹ-Trung. Ông không phải là một sự lầm lẫn sẽ qua đi khi có chính quyền mới. Cách tiếp cận của ông đối với Trung Cộng là một sự điều chỉnh cái được coi là điểm yếu của những người tiền nhiệm của ông. Xét cho cùng, Tổng thống George W. Bush là người đầu tiên gán cho Trung Cộngcái mác “đối thủ chiến lược” trước khi sự kiện ngày 11/9/2001 chuyển hướng sự chú ý của Mỹ sang Trung Đông. Sự “xoay trục” hay “tái cân bằng” của Tổng thống Obama cũng là biểu hiện của cùng một thái độ đó. Nhưng Chính quyền Obama hầu như không muốn cạnh tranh mạnh mẽ, sự xoay trục giống một khẩu hiệu hơn là một chính sách: nó được thực thi một cách do dự và Trung Đông vẫn gây xao lãng, đặc biệt là đối với Ngoại trưởng Kerry. Quan hệ Mỹ-Trung nhìn chung vẫn nhấn mạnh sự can dự.

Cả hai đảng cũng như các nhóm lợi ích khác nhau giờ đây có chung nhận thức rằng Mỹ đã quá dễ dãi đối với Trung Cộng: cộng đồng an ninh, những người ủng hộ nhân quyền và tự do tôn giáo, và quan trọng nhất là giới kinh doanh Mỹ. Những người nòng cốt ủng hộ Trump tin rằng Trung Cộng đã đánh cắp công ăn việc làm của họ. Điều này không đúng. Việc làm mất đi là do những nguyên nhân sâu xa hơn. Nhưng niềm tin này là một thực tế chính trị mà không đảng nào có thể phớt lờ. Người kế nhiệm Trump có thể ít gai góc hơn và dễ dự đoán hơn ông. Tuy nhiên, khả năng là bất kỳ ai kế nhiệm Trump cũng sẽ phải áp dụng cách tiếp cận cứng rắn đối với Trung Cộng. Thái độ hoài nghi đối với “thương mại tự do” với Trung Cộng bao trùm ở cả hai đảng.

868

Monday, March 11th 2019, 5:33am

Nước Mỹ của Trump thường được mô tả là đang rút lui. Cách mô tả này đang bóp méo một thực tế phức tạp hơn. Cả Chiến lược an ninh quốc gia 2017 lẫn Chiến lược quốc phòng 2018 đều không phải là những văn kiện theo chủ nghĩa biệt lập. Những văn kiện này và bài phát biểu của Phó Tổng thống Pence cho thấy rõ Chính quyền Trump tin rằng đây là thời kỳ cạnh tranh nước lớn và họ quyết tâm cạnh tranh chứ không rút lui. Chúng thể hiện một khái niệm hẹp và ít hào phóng hơn về sự lãnh đạo, ưu tiên chủ nghĩa song phương hơn chủ nghĩa đa phương, và trở lại với cách tiếp cận cũ là hòa bình thông qua sức mạnh. Người ta có thể có những sự nghi ngại nghiêm túc về khái niệm lãnh đạo và cách tiếp cận này. Nhưng chính xác thì không thể mô tả chúng là một “sự rút lui” được.

Người ta cũng có thể tranh luận về việc liệu cách tiếp cận mới có xứng đáng với cái giá phải trả hay không, và dự luật cuối cùng vẫn chưa được đệ trình. Nhưng một đánh giá thẳng thắn chắc hẳn sẽ kết luận rằng ít nhất là cho đến nay, Trump đã có được nhiều điều mà ông từng nói rằng ông mong muốn, cả trên trường quốc tế lẫn trong nước.
Việc đảng Dân chủ tiếp quản Hạ viện trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11/2018 sẽ không tạo ra sự khác biệt đáng kể. Quả thật, Hạ viện do đảng Dân chủ lãnh đạo có thể nhấn mạnh hơn vào các vấn đề nhân quyền trong quan hệ Mỹ-Trung. Sẽ là không khôn ngoan nếu mong đợi những thay đổi thực chất và to lớn.

Trung Cộng đã hiểu sai về những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Họ dường như đã bắt đầu tin vào chính những gì họ đã tuyên truyền, rằng nước Mỹ đang sa sút và không thể gượng dậy. Bắc Kinh đã khái quát hóa quá mức trải nghiệm của họ về thái độ miễn cưỡng của Chính quyền Obama đối với việc nhấn mạnh những khía cạnh mang tính cạnh tranh trong quan hệ Mỹ-Trung. Họ đã hoàn toàn bỏ qua thái độ ngày một chua chát của giới kinh doanh Mỹ – vốn là một yếu tố tạo sự ổn định trong lịch sử quan hệ Mỹ-Trung – đối với Trung Cộng kể từ chính quyền thứ 43 thời Bush, chủ yếu là về tình trạng trộm cắp tài sản trí tuệ và ép buộc chuyển giao công nghệ.

Đến cuối thời Hồ Cẩm Đào và theo cách kiên quyết hơn nhiều dưới thời Tập Cận Bình, chính sách đối ngoại của Trung Cộng bắt đầu có giọng điệu đắc thắng và áp dụng cách tiếp cận tham vọng và quyết đoán hơn nhiều. Đỉnh điểm của cách tiếp cận mới này nằm ở sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và bài phát biểu của Tập Cận Bình tại Đại hội 19 của Đảng Cộng sản Trung Cộng(ĐCSTQ) vào tháng 10/2017 mà rõ ràng đã từ bỏ cách tiếp cận “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình.

Tham vọng toàn cầu và thái độ quyết đoán tất nhiên đã được thể hiện rõ ràng trong bài phát biểu này. Nhưng trên thực tế, trọng tâm của bài phát biểu tại Đại hội 19 ĐCSTQ lại là tình hình trong nước. Điểm quan trọng nhất là việc Tập Cận Bình định nghĩa lại “mâu thuẫn chính” mới mà Trung Cộng đang phải đối mặt – mâu thuẫn giữa “sự phát triển không cân bằng, không tương xứng và nhu cầu ngày càng gia tăng của người dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn” và do đó, về đòi hỏi cấp thiết của việc đem lại sức sống mới cho ĐCSTQ để đáp ứng những nhu cầu đó.

Điều này đặt ra một nghị trình vô cùng phức tạp ở trong nước về kinh tế, xã hội và chính trị mà Tập Cận Bình đã làm rõ rằng sự cai trị của ĐCSTQ phụ thuộc vào đó.
Nghị trình này bao gồm việc đưa ngành công nghiệp lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, giảm tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, thúc đẩy sự đổi mới, bảo vệ môi trường, đem lại sức sống mới cho khu vực nông thôn, xử lý nợ, thúc đẩy tăng trưởng cân bằng trong khu vực, giải quyết vấn đề dân số già hóa, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội, huy động nội lực xã hội, giáo dục, nhà ở, an ninh lương thực, xoa dịu căng thẳng xã hội. Mỗi vấn đề tự thân nó đã là một thách thức lớn.
Hơn nữa, Đại hội 19 ĐCSTQ chỉ đề cập một cách gián tiếp tới một vấn đề quan trọng còn sót lại từ Đại hội 18 ĐCSTQ vào năm 2012. Đại hội 18 ĐCSTQ đã thừa nhận rằng tăng trưởng giảm tốc là trạng thái “bình thường mới”, và mô hình vốn đã tạo nên sự tăng trưởng ngoạn mục của Trung Cộng trong những năm 1990 là không bền vững trong dài hạn.
Phiên họp toàn thể năm 2013 diễn ra sau Đại hội 18 ĐCSTQ đã đề ra một nghị trình cải cách, trong đó vạch ra vai trò lớn hơn của thị trường trong các lĩnh vực then chốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, việc thực hiện cũng chỉ có thể được cho là ở mức khiêm tốn.
Nâng cao vai trò của thị trường tức là nới lỏng sự kiểm soát. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế mà không gây rủi ro đối với quyền kiểm soát của ĐCSTQ?

Tuy nhiên, nếu không nâng cao hiệu quả và bảo đảm tăng trưởng bền vững, thì sự cầm quyền của ĐCSTQ, vốn có được tính hợp pháp chủ yếu nhờ thành tựu kinh tế, cũng có thể bị đẩy vào nguy hiểm. Đâu là thế cân bằng phù hợp giữa thị trường và đảng?
Không có câu trả lời rõ ràng. Tuy vậy, đối với Trung Cộng, đây là một câu hỏi căn bản – thậm chí có lẽ còn liên quan đến sự tồn tại . Duy trì ĐCSTQ là lợi ích sống còn nhất trong tất cả các lợi ích cốt lõi của Trung Cộng.

869

Monday, March 11th 2019, 5:34am

Việc giải quyết nghị trình trong nước mà Đại hội 19 ĐCSTQ đã đề ra sẽ cần tới nhiều thời gian và đòi hỏi phải có nguồn lực lớn. Các nguồn lực của Trung Cộng dù dồi dào nhưng không vô tận. Việc liên tục bổ sung các nguồn lực trên quy mô cần thiết để giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự tăng trưởng bền vững. Tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải có một mô hình mới. Mô hình mới đòi hỏi phải có một thế cân bằng mới giữa sự kiểm soát và tính hiệu quả.

Vẫn còn phải chờ xem Tập Cận Bình sẽ xử lý ra sao với câu hỏi trọng tâm này. Ông sẽ phải xử lý những sự cân nhắc mâu thuẫn lẫn nhau. Ông đã tìm cách trấn an các doanh nghiệp tư nhân đang chịu sức ép từ các biện pháp kiểm soát mới về tài chính và điều tiết. Nhưng ông cũng đã làm rõ rằng các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước sẽ tiếp tục giữ vị thế đặc quyền trong nền kinh tế. Không ai có thể đoán được sự cân bằng này cuối cùng sẽ được ấn định như thế nào. Cho đến nay, Tập Cận Bình rõ ràng đã chọn cách nhấn mạnh vào sự kiểm soát của đảng. Luận điệu mang màu sắc xã hội chủ nghĩa đã len lỏi trở lại vào những ngôn từ chính thức.

Việc Tập Cận Bình nhấn mạnh sự kiểm soát mạnh mẽ hơn của đảng có thể đã làm trầm trọng thêm thách thức cốt lõi là tìm kiếm một mô hình mới dựa trên thế cân bằng mới giữa sự kiểm soát và tính hiệu quả.
BRI là một nỗ lực giải quyết thách thức then chốt trong nước này, cũng như là một biểu hiện của tham vọng toàn cầu. BRI xử lý thách thức này bằng cách đưa ra bên ngoài và xuất khẩu mô hình tăng trưởng của Trung Cộng– dựa trên sự phụ thuộc cao độ vào hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng do các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước dẫn dắt – mà Đại hội 18 ĐCSTQ từ năm 2012 đã thừa nhận là không bền vững ở Trung Cộng. BRI “câu giờ” để tìm ra một sự cân bằng mới giữa thị trường và đảng, nhưng tự thân nó không đặt ra một mô hình mới.
BRI và sự trỗi dậy của Trung Cộng dựa trên nền tảng toàn cầu hóa hậu Chiến tranh Lạnh do Mỹ dẫn dắt. BRI có thể thành công hay không nếu giữa Mỹ và Trung Cộng nổ ra xích mích dữ dội kéo dài về thương mại, hay nếu thế giới chuyển sang chủ nghĩa bảo hộ?

Trung Cộnglà nước hưởng lợi chính từ toàn cầu hóa hậu Chiến tranh Lạnh; họ rất có thể sẽ là kẻ thua cuộc chính nếu trật tự đó suy yếu vì nước Mỹ dưới thời Chính quyền Trump không còn tiếp nhận định nghĩa cởi mở và hào phóng về sự lãnh đạo nữa.
Trung Cộng không thể thay thế vai trò lãnh đạo của Mỹ. Ý tưởng về tính phổ quát của mô hình chính trị dân chủ tự do của Mỹ vẫn luôn là một ảo tưởng. Nhưng sự cởi mở và hào phóng của Mỹ cho phép các biến thể kinh tế của mô hình Mỹ phát triển trên toàn thế giới và gắn chặt với Mỹ. Chính Trung Cộngthời kỳ hậu Mao Trạch Đông là một ví dụ.
Mỹ không còn sẵn sàng tỏ ra cởi mở hay hào phóng như vậy nữa. Nhưng trật tự quốc tế cởi mở không thể được dẫn dắt trên cơ sở một mô hình phần lớn vẫn đóng cửa và chủ yếu mang màu sắc trọng thương của Trung Quốc. Điều mà Bắc Kinh vẫn chưa quyết định chính là Trung Cộng cần mở cửa hơn như thế nào và bao nhiêu.

Ta không nên hiểu bất kỳ điều nào trong số này là ngụ ý rằng Trung Cộng sẽ thất bại. ĐCSTQ là một tổ chức có khả năng thích ứng, là sự lặp lại mới nhất của sự thử nghiệm chính trị và kinh tế đã có từ cuối triều đại nhà Thanh vào thế kỷ 19. Nhưng cách tiếp cận của Trump đối với thương mại chắc chắn đã làm phức tạp hóa các vấn đề đối với ĐCSTQ và khiến cho việc giải quyết nghị trình trong nước được đề ra trước đó trở nên khó khăn hơn. Phản ứng trước những vấn đề này có khả năng sẽ là những sự ứng biến không tối ưu được thực hiện trong bối cảnh “bình thường mới”, tức là tăng trưởng chậm hơn dù vẫn ở mức đáng kể.

Thái độ phản đối BRI đang trở nên rõ ràng trên phạm vi quốc tế, trong đó có Đông Nam Á. Sẽ chẳng có ai xa lánh việc cộng tác với Trung Quốc. Làm vậy sẽ là ngu ngốc. Nhưng BRI sẽ được thực hiện một cách chắp vá và nảy sinh nhiều vấn đề. Một số dự án sẽ hoạt động tốt hơn các dự án khác, một số sẽ đình trệ và một số sẽ thất bại. Mới đây, những dấu hiệu nhỏ nhưng đáng kể của thái độ phản đối tầm nhìn đầy tham vọng về Trung Cộng của Tập Cận Bình đã xuất hiện chính bên trong Trung Quốc, vốn đang bị dồn ép bởi cú sốc của cuộc chiến thương mại đã đẩy Bắc Kinh vào thế khó.

Vị thế của Tập Cận Bình không bị đe dọa. Tuy vậy, hiện giờ giọng điệu đắc thắng đã giảm bớt, tham vọng đã được hạ thấp, và đã có nỗ lực nhằm cải thiện bầu không khí trong quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và ASEAN. Trung Cộng đã trả đũa thuế quan của Mỹ, nhưng phản ứng của họ không quá gay gắt. Nhưng các vấn đề căn bản vẫn chưa được giải quyết và Tập Cận Bình không thể tỏ ra yếu đuối. Đây chỉ là những điều chỉnh về chiến thuật, chứ không phải những lập trường mới mang tính xác định của Trung Cộng.

870

Monday, March 11th 2019, 5:35am

Về phía Mỹ, niềm tin rằng cuộc chiến thương mại đang gây tổn hại cho Trung Cộng– vốn không sai lầm trong trung và ngắn hạn – không đem lại cho Chính quyền Trump sự khích lệ nào để giảm bớt sức ép. Việc đàm phán lại thành công hiệp định thương mại tự do (FTA) với Hàn Quốc, thay thế Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) bằng Thỏa thuận Mỹ-Mexico-Canada với điều khoản mà trên thực tế đem lại cho Mỹ quyền phủ quyết việc các đối tác của nước này ký kết thỏa thuận thương mại với Trung Cộng, và việc Nhật Bản bằng lòng với các cuộc đàm phán thương mại song phương củng cố niềm tin rằng Trung Cộng đang phải chịu sức ép và có nguy cơ bị cô lập.

Trong lịch sử, thời kỳ của sự thống trị không bị tranh cãi của Mỹ là một giai đoạn khác thường và ngắn ngủi: từ khoảng năm 1989 đến khoảng năm 2008-2009. Trong phần lớn thế kỷ 20, hệ thống quốc tế bị chia rẽ bởi những tầm nhìn cạnh tranh của phương Tây và của phe chủ nghĩa cộng sản về trật tự toàn cầu với việc Trung Cộng là một thành viên trên thực tế của phe ủng hộ phương Tây từ năm 1972 cho tới khi Liên Xô sụp đổ, để cho Bắc Kinh tự do theo đuổi các lợi ích của chính họ một cách quyết đoán.

Chúng ta giờ đây đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp sang một tình huống bình thường hơn về mặt lịch sử mà ở đó trật tự toàn cầu và khu vực bị chia rẽ và cạnh tranh nước lớn diễn ra. Nhưng sự cạnh tranh cao độ vẫn là một điều gì đó chưa đến mức “chiến tranh lạnh mới”. Phép ẩn dụ đó khiến cho người ta nhầm lẫn. Trung Cộng hội nhập với nền kinh tế thế giới và phụ thuộc qua lại với Mỹ ở mức lớn hơn nhiều so với Liên Xô trước đây. Sự phức tạp của tình hình mới nằm ở đây. Sẽ không dễ dàng tách rời Trung Cộng, dù một số nhân vật trong Chính quyền Trump có thể rất muốn làm như vậy, trừ phi nước này tự tách ra bằng cách theo đuổi chế độ tự cung tự cấp. Điều đó rất không có khả năng diễn ra vì làm như vậy tức là tự chuốc lấy thất bại.

Chính quyền Trump đã gán cho Trung Cộng cái nhãn của một “cường quốc theo chủ nghĩa xét lại”. Các yếu tố của chính sách phục thù được đưa vào câu chuyện về “sự phục hưng vĩ đại” mà với nó, ĐCSTQ hợp pháp hóa sự cầm quyền của mình. Trung Cộng không hài lòng với mọi khía cạnh của trật tự hậu Chiến tranh Lạnh dựa trên sự toàn cầu hóa do Mỹ dẫn dắt. Trung Cộng muốn vị thế mới của mình được công nhận. Nhưng Trung Cộng lại có thái độ nước đôi đối với trật tự hiện tại và không tỏ rõ sự bất mãn. Sẽ là quá lời nếu gọi một Trung Cộng đã hưởng lợi lớn từ toàn cầu hóa là “theo chủ nghĩa xét lại”. Vì lẽ nào Trung Cộnglại muốn đạp đổ tất cả?

Việc Tập Cận Bình bảo vệ toàn cầu hóa có thể được hiểu là một biểu hiện gián tiếp của mối quan ngại về việc tương lai của trật tự đó có ý nghĩa gì đối với Trung Cộng. Câu hỏi quan trọng là Trung Cộng sẽ phản ứng trước những sức ép mới như thế nào. Không phản ứng không phải là một lựa chọn đối với Bắc Kinh.

Giờ đây, có thể dễ dàng nhận thấy rõ rằng đó không chỉ là vấn đề Trung Cộng mua thêm đậu nành hay máy bay Boeing của Mỹ để giảm thâm hụt thương mại, như những gì mà ban đầu Bắc Kinh có thể đã nghĩ. Điều mà Chính quyền Trump muốn giành được từ Trung Cộng không hoàn toàn rõ ràng nhưng hầu như chắc chắn sẽ đòi hỏi phải có những thay đổi về cấu trúc đối với nền kinh tế Trung Cộng mà ĐCSTQ vốn đã miễn cưỡng đưa ra.

Hơn nữa, nguyên nhân sâu xa khiến cho các doanh nghiệp nước ngoài phải đối mặt với một sân chơi còn lâu mới bình đẳng ở Trung Cộng. Điều này đem lại vị thế đặc quyền cho các doanh nghiệp Trung Cộng, dù quốc hữu hay tư nhân, liên kết với ĐCSTQ. Trung Cộng sẽ không thay đổi cấu trúc nhà nước của mình. Bất kỳ sự nhượng bộ nào nhằm giảm bớt căng thẳng trong thương mại tất yếu đều sẽ không triệt để, và Bắc Kinh đã tỏ rõ rằng họ sẽ không đáp ứng các yêu cầu của Mỹ khi phải chịu sức ép.
Trung Cộng có thể tìm cách trở nên độc lập hơn trong các lĩnh vực then chốt của ngành công nghệ và có thể sẽ làm được điều này nếu có đủ thời gian. Tuy nhiên, sức ép đang hiện hữu ngay lúc này. Vì Trung Cộng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ ít hơn nhiều so với xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, nên phạm vi để áp thuế trả đũa bị hạn chế và có thể đã cạn kiệt.

Bài phát biểu của Phó Tổng thống Pence cho thấy rõ Mỹ sẽ hành động chống lại Trung Cộng trên một mặt trận rộng lớn chứ không chỉ về thương mại. Trung Cộng có lẽ sẽ đáp trả theo cách tương tự. Nhưng không ai có thể dự đoán chính xác là bằng cách nào. Tất cả những gì chúng ta có thể khẳng định là vì bất kỳ sự nhượng bộ nào mà Trung Cộng sẵn sàng và có thể đưa ra cũng không có khả năng làm giảm sức ép, nên sớm muộn chính sách của Trung Cộng đối với Mỹ và các nước bạn bè, đồng minh của nước này, trong đó có các nước ở ASEAN, sẽ một lần nữa chuyển sang cứng rắn. Như đã lưu ý trước đó, Tập Cận Bình không thể tỏ ra yếu đuối.

Cho đến nay, Bắc Kinh đã phát đi những tín hiệu lẫn lộn. Chuyến thăm của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mattis đã bị hủy bỏ, nhưng chuyến thăm của Ngoại trưởng Pompeo thì không. Trong Sách Trắng về thương mại với Mỹ được đưa ra gần đây, Trung Cộng đã tìm cách mô tả bản thân là nạn nhân và trước đó đã tìm cách tạo ra mối quan tâm chung với châu Âu để chống lại Chính quyền Trump. Nước này không có khả năng thành công. Châu Âu không hài lòng với các phương pháp của Trump nhưng họ có nhiều mối quan ngại tương tự về Trung Cộng. Và châu Âu không thể đối phó với một nước Nga đang trỗi dậy mà không có Mỹ.

871

Monday, March 11th 2019, 5:36am

Trong gần một thập kỷ, cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung ở Biển Đông đã và đang đại diện theo cách nào đó cho cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung nói chung. Về mặt chiến lược, tình hình ở Biển Đông đang bế tắc. Trung Cộng sẽ không từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình đối với hầu hết Biển Đông. Các đảo được cải tạo và việc triển khai các phương tiện quân sự ở đó là một sự đã rồi. Nhưng Trung Cộng cũng không thể ngăn chặn Mỹ và các đồng minh của nước này hoạt động trong, qua và trên Biển Đông mà không có nguy cơ kích động một cuộc chiến tranh không mong muốn vì nước này không thể chiến thắng.

Chính quyền Trump đã nới rộng phạm vi hoạt động của Hạm đội 7 để tiến hành các hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông. Nhật Bản và các đồng minh khác của Mỹ cũng đang bắt đầu phản đối những yêu sách của Trung Cộng. Mỹ đã phát đi tín hiệu về ý định của nước này tiến hành các hoạt động phô trương sức mạnh thậm chí với quy mô lớn hơn ở Biển Đông. Điều này làm gia tăng nguy cơ xảy ra những tai nạn mà Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiện đang được ASEAN và Trung Cộng thảo luận sẽ hầu như không làm được gì để giảm bớt và bất luận thế nào thì cũng còn lâu mới hoàn thành. ASEAN không nên tự dối mình rằng COC sẽ tạo ra bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào.

Mỹ và Trung Cộng sẽ không nhanh chóng hay dễ dàng đạt được một tạm ước mới; cả hai bên đều không có khả năng đạt được mọi thứ họ muốn ở nhau. Điều này ngụ ý rằng ASEAN sẽ phải tìm cách vượt qua một giai đoạn dài mà khi đó sự lộn xộn và sự không chắc chắn đều ở mức cao hơn bình thường. Tuy vậy, chiến tranh có chủ đích không có khả năng nổ ra. Chỉ khi Mỹ ủng hộ Đài Loan giành độc lập thì Trung Cộng mới buộc phải chiến đấu. Điều này không có khả năng diễn ra. Nếu có tai nạn xảy ra trên Biển Đông hay nơi nào khác, thì cả hai bên có thể sẽ tìm cách kiềm chế nó.
ASEAN phải có khả năng đối phó với những tình huống chưa tới mức nổ ra chiến tranh Mỹ-Trung. Trước đây, ASEAN đã từng xử lý những tình huống phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều. Nhưng điều này sẽ đòi hỏi sự nhanh nhẹn, tính đoàn kết và quyết tâm cao hơn những gì ASEAN đã thể hiện trong những năm gần đây.

Một số nhà phân tích suy đoán rằng ASEAN có thể có những cơ hội ngắn hạn và trung hạn nếu các công ty nước ngoài dịch chuyển hoạt động sản xuất từ Trung Cộng sang Đông Nam Á. Suy đoán này khả thi nhưng thiển cận. Việc dịch chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Cộng nói thì dễ hơn làm, và dù có chiến tranh thương mại hay không thì cũng sẽ chẳng có ai từ bỏ thị trường Trung Cộng, dù các khoản đầu tư mới và được nâng cấp có thể sẽ bị trì hoãn. Một cuộc chiến thương mại kéo dài có khả năng làm thay đổi căn bản các chuỗi cung ứng. Những mối quan ngại về an ninh chuỗi cung ứng có thể đẩy nhanh tiến trình này. Những sự thay đổi trong các chuỗi cung ứng có thể chặn đứng hoặc làm phức tạp nghiêm trọng nỗ lực của các nước thành viên ASEAN trong việc di chuyển lên phía trên chuỗi giá trị. Trong mọi trường hợp, các nước thành viên ASEAN phải chống lại sự cám dỗ của việc hành động như một cửa sau để các công ty Trung Cộng tiến vào Mỹ.

Để ngăn chặn những sự không chắc chắn trong dài hạn và tận dụng mọi cơ hội có thể có, ASEAN cần phải hành động một cách táo bạo trong giai đoạn 2 của tiến trình hội nhập kinh tế, vốn nhắm tới việc tạo ra một thị trường chung và nền tảng sản xuất chung ở Đông Nam Á. Ở đây, những nhân tố thành công then chốt là nền chính trị trong nước của các nước thành viên ASEAN; tức là cái nằm trong tay chúng ta chứ không phải trong các chính sách của Trung Cộng hay Mỹ. ASEAN cần nhận ra rằng rủi ro lớn nhất mà họ phải đối mặt là thái độ miễn cưỡng chấp nhận rủi ro mà hoạt động ra quyết định của ASEAN đã bị tiêm nhiễm trong những năm gần đây.
------------------
Bilahari Kausikan nguyên là Tổng trưởng (Permanent Secretary) Bộ Ngoại giao Singapore.

872

Monday, March 11th 2019, 6:00pm

Nhận định:

Chu Dịch ghi nhận có 64 quẻ, tức là trong tiến trình thiên biến vạn hóa trong vũ trụ, từ thũa khai thiên lập địa tới nay, con người chỉ có thể nói đến 64 thời khắc điển hình mà thôi. Điều nầy chẳng khác nào khi xem một đọan phim mà ta chớp mắt đến 64 lần rời rạc. Có nghĩa là mắt ta chỉ nhìn được 64 hình (frames hay snap shots) trong suốt đọan phim đó (video clip).
Thế thì còn đâu là cốt tủy của Kinh Dịch?
Học Kinh Dịch là phải “mở mắt liên tục” để thấy được cái “động” chứ không phải cái “tỉnh”. Cái “tỉnh” chỉ được dùng để phân tích, đối chiếu, suy đóan mà thôi. Cái “động” mới là thực thể cần nắm bắt. Học Kinh Dịch là học cách nắm bắt một thực thể sống động. Học Kinh Dịch không phải là ngồi đó để say sưa thưởng ngọan 64 bức tranh trừu tượng.

Đến thời Khổng Tử thì ông ta lại làm cho tầm nhìn của người xưa trở nên hạn hẹp và cục bộ hơn với học thuyết tôn quân và điển chế xã hội. Có nghĩa là Khổng Tử đã trao cho chúng ta một cặp mắt kính (kính mát, cận thị, viễn thị, lọan thị…) để nhìn ngắm 64 bức họa đồ nầy. Có thể nói Khổng Tử là người có công ghi chép để lưu truyền lại và làm cho chúng ta có thể hiểu được Kinh Dịch một cách dễ dàng hơn, qua việc giảng giải 64 thí dụ (quẻ) của học thuyết xã hội chính trị của ông ấy.

Nhưng dù gì đi nữa, nói cho cùng, đây cũng chỉ là một phiên bản Tàu của một di sãn văn hóa Bách Việt là Kinh Dịch. Trên cơ sở đó thì phiên bản Chu Dịch nầy đúng là một sáng tác của người Tàu, cũng giống như bọn Trung Cộng đã ăn cắp từ những thành quả khoa học kỷ thuật tây phương, để mà chế tác ra các sãn phẩm kỷ thuật số của chúng. Dĩ nhiên có những sãn phẩm cấp cao của chúng cũng đạt được những công dụng gần bằng với các sản phẩm thật của tây phương.

Do đó hậu duệ của Bách Việt có thể xuyên qua Chu Dịch để mà tìm về bản thể uyên nguyên của Kinh Dịch. Chỉ cần đừng để cho mình lạc lối trong các câu, chữ, lời lẽ huyền hoặc, dị đoan, mê muội.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 11th 2019, 11:42pm)


873

Tuesday, March 12th 2019, 1:31am

Chúng ta chưa, nếu không muốn nói là không thể, đi ngược lại thời gian được. Mà nếu có đi ngược lại được thời gian thì chưa chắc chúng ta muốn sống trong một môi trường giống y như vậy. Vì sao?
Vì chúng ta đã biết cái gì lợi, cái gì hại cho cuộc sống của chúng ta trãi qua thời gian (time test).Thế cho nên những thứ rác rưởi như: chế độ vua chúa cha truyền con nối, chuyên chính vô sãn, bạo lực cách mạng, trọng nam khinh nữ, phân biệt giai cấp, phân biệt lý lịch, làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu…sẽ không còn sức lôi cuốn của chúng nữa.

Trước hết, chúng ta đang hiện hữu trong thời đại hiện tại, năm 2019, không phải là 2,000 năm trước đây, cũng không phải là 100 hay 200 năm tước đây. Cái gì đã qua đi chỉ còn là di tích. Ngay chính cái hiện tại rồi cũng sẽ qua đi, nếu không chứng minh được giá trị với thời gian thì cũng sẽ không thể nào tồn tại, không thể nào níu kéo, không thể nào lưu giữ.
Chẳng hạn như thói “trọng nam khinh nữ” của người Tàu có còn sức lôi cuốn hay không? Có lợi hay có hại?
Rất tiếc gia đình 9 người gồm: Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, Lưu Bái Phong, cùng phi công, lái xe, và 3 kỹ sư cơ khí, không còn sống sót để trả lời cho câu hỏi nầy.
May ra có thể hỏi Lâm Lập Hằng (con gái Lâm Bưu) vì sao lại tiết lộ và báo cáo âm mưu của cha mẹ anh em mình để cho họ phải chết thãm. Phải chăng vì những câu như:
“Nữ sinh ngọai tộc” (con gái sinh ra là người ngòai họ).
“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai là có, mười con gái cũng là không).
“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (ở nhà thì tùy quyền cha, đi lấy chồng thì tùy quyền chồng, chồng chết thì tùy quyền con trai).

Nghĩa là cả đời người đàn bà từ lúc sinh ra cho đến lúc chết thân phận của họ có cũng như không. Họ bị đè nén, áp bức, làm nô bộc, thậm chí bị giết chết khi chưa ra đời chỉ vì là con gái, hay bị ăn thịt bởi chính cha mẹ và anh em của mình khi họ đói. Đừng già mồm bảo rằng chuyện nầy chỉ xãy ra trong thời phong kiến, còn bây giờ là thời đại cách mạng, bọn chúng tôi có ăn mừng ngày phụ nữ 8 tháng 3. Nếu quý nhau như thế sao bây giờ nước Tàu thiếu đàn bà trầm trọng vậy?

Bởi vậy bạo chúa và bọn quan lại ác ôn củaTàu đều chết dưới tay đàn bà.
“Anh hùng nan quá mỹ nhân quan” (Trùm băng đãng Tàu không qua khỏi cửa ải của người đẹp).

Thôi nhé, mặt trời và trái đất không vì nước Tàu và các anh, dù có là “con trời”, mà ngừng quay đâu.

874

Saturday, March 16th 2019, 5:19am

Lập luận của “Phái cải cách-mở cửa của Trung Cộng”
Trích dẫn từ: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội (千秋功罪毛泽东: Ngàn thu công tội Mao Trạch Đông, trang 207-211)

Trong tim óc những người Trung Quốc 50 tuổi trở lên, chủ nghĩa xã hội bạo lực Mao Trạch Đông đã sớm mất hết thanh danh, hoàn toàn phá sản; điều quan trọng nhất hiện nay là phải cho lớp trẻ biết bộ mặt thật về thời đại Mao.

Công cuộc cải cách-mở cửa là phủ định chứ không kế thừa đường lối cực tả (Ba cuộc cải tạo lớn: Đại tiến vọt và Đại cách mạng văn hoá). Vạch rõ ranh giới này, cải cách-mở cửa mới có đia vị lịch sử chính thống uốn nắn cái sai, trở lại cái đúng, mở ra con đường mới. Bảo vệ những sai lầm của Mao thì không thể tăng cường vị trí cầm quyền của ĐCS cũng không thể mang lại tính hợp pháp cho cải cách-mở cửa.
Từ khi hoàn thành “Ba cuộc cải tạo lớn” đến đêm trước “cải cách-mở cửa”, kết quả tiêu diệt chế độ tư hữu là làm cho toàn bộ đất nước và nhân dân tuyệt đối bần cùng hoá. Trong 20 năm ấy. Trung Quốc đã tiến hành các cuộc vận động nắm khâu cách mạng, thúc đẩy sản xuất, mỗi cuộc vận động đều nói nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất.
Vậy lực lượng sản xuất Trung Quốc phát triển đến mức nào?
Đời sống nhân dân được cải thiện bao nhiêu?

Về ăn:
- năm 1956, bình quân tiêu dùng lương thực mỗi người 204 kg, năm 1976 còn 190 kg, giảm 14 kg;
- dầu thực vật năm 1956 mỗi người 2,565 kg, năm 1976 còn 1,595 kg, giảm 0,97 kg.
Về mặc:
- năm 1959 bình quân mỗi người gần 9,72 mét vải các loại năm 1976 còn 7,85 m, giảm 1,87 m, riêng năm 1968 mỗi người chỉ được phát 3 mét phiếu vải.
Trong 20 năm từ 1958 đến 1978, lương công nhân các xí nghiệp sở hữu toàn dân chẳng những không tăng, mà thực tế còn giảm 5,7%, từ 582 NDT giảm xuống còn 549 NDT/ năm.
Theo thống kê của Bộ Nông Lâm năm 1973, có 72 huyện sản lượng lương thực dừng lại ở mức thời kỳ đầu giải phóng, gần một triệu đội sản xuất (chiếm 20% tổng số đội sản xuất trong cả nước) bình quân phần phối cả năm mỗi người dưới 40 NDT. Các đội này cơ bản không có phân phối tiền mặt. Có đội thậm chí ngay duy trì tái sản xuất giản đơn cũng rất khó khăn.

Ông Vạn Lý nói:
“Tháng 6-1977. Trung ương Đảng cử tôi làm Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ An Huy. An Huy hồi đó là một tỉnh nông nghiệp lớn, đồng thời là trọng điểm tai hoạ của sai lầm tả khuynh. Đại diện của “Lũ bốn tên” tại An Huy rất tích cực triển khai phong trào học tập Đại Trại, tình hình nông thôn đặc biệt nghiêm trọng, đời sống nông dân vô cùng khó khăn, ăn đói, mặc rét, nhà ở không ra nhà, bàn ghế cũng đều bằng đất, tìm không ra thứ đồ gỗ nào. Tôi thật không ngờ giải phóng mấy chục năm rồi mà nhiều vùng nông thôn vẫn nghèo như vậy.
Tôi không thể không tự hỏi mình: Do nguyên nhân nào?
Có thể gọi đây là chủ nghĩa xã hội sao?
Rốt cuộc công xã nhân dân có vấn đề gì?
Vì sao nông dân không tích cực?
Năm tôi vừa đến An Huy, 28 vạn đội sản xuất trong toàn tỉnh, chỉ có 10% giữ được mức ăn no mặc ấm, 60% thu nhập bình quân đầu người hàng năm dưới 60 NDT, 40% dưới 40 NDT. Sau Công xã nhân dân hoá nảy sinh 3 năm khó khăn, khắp nơi đầy rẫy người mắc bệnh phù thũng và chết đói. Theo thống kê tương đối chuẩn xác, trong 3 năm Đại tiến vọt, 73 huyện ở An Huy có 6,33 triệu người chết đói, đứng đầu cả nước về tỷ lệ này.”

Đại tiến vọt và Đại cách mạng văn hoá là sự phát triển ác tính của chủ nghĩa xã hội bạo lực Mao Trạch Đông.
Ba năm Đại tiến vọt, cả nước có 37,55 triệu người chết đói, thiệt hại kinh tế khoảng 120 tỉ NDT.
Mười năm Đại cách mạng văn hoá, theo lời Diệp Kiếm Anh tại lễ bế mạc Hội nghị công tác trung ương ngày 30-12-1978, có 100 triệu người bị đấu tố 20 triệu người chết, lãng phí 800 tỉ NDT. Cộng thêm thu nhập quốc dân thiệt hại 500 tỉ (lời Lý Tiên Niệm tại Hội nghị kế hoạch toàn quốc 20-12-1977) thì lãng phí và thất thu 1.300 tỷ NDT.
Từ năm 1949 thành lập CHND Trung Hoa đến năm 1976 khi Mao qua đời, không có nội chiến, không có thiên tai nghiêm trọng, mà có trên 57,55 triệu người chết không bình thường (chết đói hoặc bị giết), thiệt hại kinh tế 1.420 tỉ NDT. Đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước trong gần 30 năm đó là 650 tỉ NDT. Những thiệt hại trong hai sự kiện trên lớn gấp hơn hai lần tổng đầu tư xây dựng cơ bản trong 30 năm ấy. Có nghĩa là Mao Trạch Đông đã thiêu sạch 2/3 khoản tiền vốn quý giá lẽ ra có thể dùng để xây dựng đất nước và cải thiện đời sống nhân dân. Đó là bản kê tổng thành tích của Mao trong xây dựng đất nước theo đường lối lấy đấu tranh giai cấp làm then chốt.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 16th 2019, 10:02pm)


875

Saturday, March 16th 2019, 5:23am

Có người mù quáng gây rối đã liệt kê những số liệu phát triển kinh tế quốc dân được thổi phồng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch để tô điểm cho thời đại Mao, phủ nhận kinh tế quốc dân hậu kỳ Đại cách mạng văn hoá đã đứng bên bờ vực sụp đổ

Câu chuyện do Chương Hàm Chi kể dưới đây đã bác bỏ mạnh mê những kẻ gây rối trên:
Ngày 25-10-1971, với đa số áp đảo, Đại hội đồng LHQ đã thông qua nghị quyết số 2758, thừa nhận đại diện Chính phủ CHND Trung Hoa là đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc tại THQ, nước CHND Trung Hoa là 1 trong 5 uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo An, Tháng 4-1975, Trung Quốc cử Đặng Tiểu Bình dẫn đầu Đoàn đại biểu dự Kỳ họp đặc biệt thứ 6 LHQ. Mọi việc sắp xếp xong xuôi, đột nhiên phát hiện sang Mỹ phải dùng USD, không thể dùng NDT, liền khẩn cấp lệnh cho các ngân hàng trong cả nước tập hợp USD.
Được bao nhiêu?
38.000 USD, đó là toàn bộ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hồi ấy.
Tôi không tin, tra Tổng biểu dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc những năm qua, số liệu trong biểu năm 1974 là 0000 (vì dưới 100.000 không tính, nên là 4 con số 0). Đặng Tiểi Bình dẫn Đoàn đại biểu sang New York với toàn bộ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc, ở trong khách sạn sang trọng, nảy sinh chuyện khó xử là Đoàn không có tiền boa nhân viên phục vụ. Trưởng đoàn Đặng Tiểu Bình đem toàn bộ kinh phí cá nhân của mình cho nhân viên phục vụ khách sạn, khi về nước chỉ có một thanh sôcôla làm quà cho cháu gái.
Dự trữ ngoại tệ của nước ta hiện nay bao nhiêu?
1.200 tỉ USD, vượt Nhật Bản, đứng đầu thế giới.
Cải cách mở cửa đã cứu vãn nền kinh tế quốc dân đang bên bờ vực thầm sụp đổ.

Nay có người nói Đại cách mạng văn hoá không đẩy kinh tế quốc dân tới bên bờ vực thẳm, xây dựng kinh tế trong Đại cách mạng văn hoá đạt thành tựu lớn biết chừng nào, toàn là những lời lẽ lảm như chữa lành vết thương rồi quên ngay những đau đớn đã qua.

Phân biệt chế độ tốt hay xấu, chính sách hay hoặc dở, một là xem việc cải thiện đời sống nhân dân, hai là xem tốc độ phát triển.
Năm xưa Mao Trạch Đông phát động Đại tiến vọt nhằm đuổi kịp Anh, vượt Mỹ về tốc độ. Kết quả “đuổi và vượt” là:
Giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Trung Quốc năm 1955 chiếm 47% thế giới, đến 1980 tụt xuống còn 2,5% ; năm 1955 gấp 2 lần Nhật Bản, năm 1960 ngang nhau, năm 1980 chỉ bằng 1/4 Nhật Bản. Giá trị tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người của Trung Quốc năm 1955 bằng 1/2 Nhật Bản, năm 1980 chưa đến 1/20.
Tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ năm 1960 nhiều hơn Trung Quốc 460 tỉ USD, đến 1980 con số này là 3.680 tỉ USD. Khoác lác vô biên đuổi kịp Anh, vượt Mỹ, kết quả ngày càng tụt xa, đại tiến biến thành đại thoái.

Lịch sử tuyên cáo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội không tưởng tiêu biểu là ba ngọn cờ hồng (đường lối chung, Đại tiến vọt, công xã nhân dân) của Mao Trạch Đông đã phá sản hoàn toàn.

Mao Trạch Đông muốn đất nước và nhân dân giàu lên, về kinh tế đuổi kịp và vượt các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, thường xuyên đưa ra khẩu hiệu “giải phóng lực lượng sản xuất”, vội vã muốn đầy sản xuất lên, song biện pháp lại là “phê phán khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa”, “ngăn chặn phục hồi chủ nghĩa tư bản”, “túm lấy phái đương quyền trong Đảng đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, về chính sách cụ thể lại không chấp nhận những biện pháp có lợi cho lực lượng sản xuất phát triển, như phản đối “ba tự, một bao” (thị trường tự đo, đất phần trăm, tự chịu lỗ lãi, và khoán sản tới hộ), “cắt cái đuôi tư bản chủ nghĩa”.
Mao phản đối cả chế độ lương 8 bậc và việc phát tiền thưởng cho công nhân.

Trong lĩnh vực kinh tế, khuynh hướng “tự phát tư bản chủ nghĩa” (tức những nỗ lực của mọi người theo đuổi làm nhiều hưởng nhiều, phát tài làm giàu) là linh hồn sống của lực lượng sản xuất tiên tiến. Diệt linh hồn này thì không bao giờ có lực lượng sản xuất tiên tiến.
Muốn giàu lên phải khôi phục danh dự cho khuynh hướng “tự phát tư bản chủ nghĩa” bị phê phán bao nhiêu năm này. “Cáp tiêm diệt phú” (không cho ai giàu lên trước) là tử huyệt của chủ nghĩa xã hội bạo lực, là nguồn gốc khiến Mao thất bại trong lãnh đạo kinh tế. Mao cho rằng đó là “chính đạo” mác xít, quyết không thay đổi. Nhưng cho đến chết Mao cũng không hiểu nổi:
Vì sao phát triển sản xuất theo lý luận của Mao, sản xuất không lên được?
Cải tạo đất nước theo tuyên ngôn Đảng cộng sản, vì sao càng cải tạo, đất nước càng nghèo, nhân dân càng khổ?
Đó là bi kịch của một người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng muốn làm việc tốt cho đời.
Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, Mác-Ăng-ghen đã có một số câu sai lầm (như tiêu diệt chế độ tư hữu), về sau Tư bản luận tập 1 (trang 832) đề ra: “thiết lập lại chế độ sở hữu cá nhân, trên cơ sở cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất”

876

Saturday, March 16th 2019, 5:24am

Mác đưa ra chủ trương trên do được các công ty cổ phần gợi ý. Công ty cổ phần là tài sản chung của toàn thể cổ đông, là cơ sở chiếm hữu cộng đồng, cổ phiếu trong tay mỗi cổ đông trên cơ sở nây là chế độ sở hữu cá nhân được tái thiết lập đó. Cổ phiếu trong tay cá nhân đương nhiên thuộc về cá nhân, đương nhiên là chế độ tư hữu. Đây là sự bổ sung và uốn nắn đối với Tuyên ngôn Đảng cộng sản.

Qua nghiên cứu, khảo chứng đến bạc đầu, các học giả phái “tả” một mực khảo chứng “chế độ sở hữu cá nhân” thành “chế độ công hữu”. Các học giả tương đối trung lập nói câu thách đố do Mác để lại này có thể treo cao, nhưng không thể mang ra chỉ đạo “cải cách-mở cửa”, để tránh xa chế độ tư hữu, tránh xa chủ nghĩa tư bản, giữ vững con đường cách mạng chính thống.

Cải cách-mở cửa phải uốn nắn cái sai, trở lại cái đúng, là uốn nắn sai lầm của Mao Trạch Đông: “tiêu diệt chế độ tư hữu” và “cắt cái đuôi tư bản chủ nghĩa”, thiết lập lại chế độ “sở hữu cá nhân”, phát triển kinh tế tư doanh. Bác bỏ quyền sở hữu cá nhân là chủ nghĩa xã hội không tưởng, giả hiệu, lừa bịp dân chúng.

Đất phần trăm, tự chịu lỗ lãi, thị trường tự do và khoán sản đến hộ là thiết lập lại chế độ “sở hữu cá nhân” trên cơ sở “chiếm hữu cộng đồng tư liệu sản xuất” mà Mác nói.
Công cuộc cải cách-mở cửa ở Trung Quốc hiện nay đã kế thừa và phát triển “ba tự một bao”, khiến nó càng vẻ vang, rực rỡ. Từ chế độ khoán gắn với sản lượng ở nông thôn, đến chế độ khoán, cho thuê, bán cho cá nhân kinh doanh trong các xí nghiệp quốc doanh vừa và nhỏ ở thành thị, và chuyển đổi các xí nghiệp lớn sang chế độ cổ phần, đều nhằm thiết lập lại chế độ “sở hữu cá nhân trên cơ sở cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất”.
Rõ ràng đây là chủ trương của Mác, mà phái tả cứ một mực khăng định làm như vậy là phục hồi chủ nghĩa tư bản. Luận cứ của họ là những câu nói của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông.
Phái cải cách không còn sùng bái các miếu thần tạo ra những khốn khổ, nghèo nàn đến mạt hạng, mà trực tiếp thỉnh giáo Mác. Kết quả họ phát hiện: sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, thiết lập lại chế độ sở hữu cá nhân mới đúng, mới là chủ nghĩa Mác thật sự, mới là con đường thẳng đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, trong các tác phẩm của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, nhất là trong các vấn đề chủ nghĩa xã hội là gì, xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào, có rất nhiều thứ mác xít giả hiệu, chống chủ nghĩa Mác. Ít nhất, họ đã hoàn toàn sai lầm trên vấn đề căn bản là phải thiết lập lại chế độ sở hữu cá nhân (tức chế độ tư hữu), thất bại mang tính chế độ của các nước xã hội chủ nghĩa đã chứng minh họ sai lầm rồi.

Cái chủ nghĩa xã hội mà Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông thực hiện là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác giả hiệu. Lý luận của họ không thể trở thành tiêu chuẩn đánh giá cái đúng, cái sai hiện nay. Công cuộc cải cách-mở cửa thu được thành công lớn bởi đã chấp hành chính sách mác xít lớn: thiết lập lại chế độ sở hữu cá nhân này.

877

Saturday, March 16th 2019, 5:46am

Nhận định:

Thì ra các anh học trò làm theo lời thầy, mà vẫn không thể hiểu được “Kinh tế thị trường” với cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, là cái thá gì?
Thì nay quan thầy của các anh đã giải thích rằng:
“Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” chính là: “chế độ sở hữu cá nhân trên cơ sở cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất”.
Các anh đã làm rất tốt: cho mọi người tha hồ tự do kinh doanh nhưng lấy quốc doanh làm chính với sự chủ đạo của nhà nước (thật ra là “sân sau” của các “nhóm lợi ích”).
Cho nên các lãnh vực tư nhân thì rất phát triển nhưng các xí nghiệp quốc doanh thì càng ngày càng “lỗ” nặng (thật ra thì bị các quan tham “rút ruột”).

Nhưng mà này nói cho các anh biết, theo lời thầy của các anh, thì ông tổ của thầy trò các anh đã được gợi hứng từ sự tiến bộ của bọn “Tư Bản Chủ Nghĩa đang dãy (hòai mà không) chết” đấy!
Mác đưa ra chủ trương trên do được các công ty cổ phần gợi ý.”

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Mar 16th 2019, 9:58pm)


878

Sunday, March 17th 2019, 3:17am

“Anh hùng nan quá mỹ nhân quan”
À, thế “anh hùng” trong câu nói trên là người như thế nào nhỉ ?
Có phải “anh hùng” là “trùm băng đãng” như NP đã “bôi bác” không nhỉ?

Vâng, nếu anh hùng là những mẫu người như “108 anh hùng Lương Sơn Bạc” trong truyện “Thủy Hử” hay các bậc đế vương như Đường Minh Hòang, hoặc là các võ tướng như Sở Bá Vương Hạng Võ thì quả thật bản chất của họ chẳng khác chi là trùm các băng đãng tội phạm của thời nay.
Đúng thế! Vì sao?
Vì cái bọn vô lại nầy rất say mê chém giết, coi mạng người như cỏ rác và chỉ điên cuồng mưu bá đồ vương để thỏa mãn thú tính của chúng mà thôi. Thường khi, bọn chúng sẳn lòng đày đọa bá tánh chỉ để mua vui cho người đàn bà mà chúng sủng ái: Tây Thi, Bao Tự, Dương Qúy Phi, Đác Kỷ, Điêu Thuyền, Ngu Cơ … Thế cho nên bọn chúng đã phải thân bại danh liệt và chết dưới tay những người đàn bà nầy!

Bọn chúng chỉ khác nhau ở chổ là “thành” hay “bại” mà thôi. Cho nên có câu:
“Chớ lấy thành bại mà luận anh hùng”.
Chỉ hơn nhau ở chổ thằng nào lưu manh hơn thằng nào thôi. Cũng như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu đó. Trong 3 tên thì ít ra là có 2 tên chết dưới tay của đàn bà.

Có người nói rằng:
“Chúa không cần biết cái đầu của anh thông minh đến đâu mà chỉ ghi nhớ trái tim của anh nhân ái như thế nào”
Bởi vì tình thương và lòng trắc ẩn là hai phẩm chất mà Chúa đã ban tặng cho chúng ta để phân biệt con người và lòai vật.

Cho nên không cần biết anh chị là ai, Cộng Sãn hay Quốc Gia, Tây hay Tàu, nếu anh chị không có tình thương và lòng trắc ẩn (love and compassion), thì anh chị cũng chưa đủ tiêu chuẩn làm người.
Đó cũng là lý do tại sao NP quý mến các nghệ sĩ hơn là các danh nhân, dù là địa vị của họ có khi khác nhau “một trời một vực”.

879

Sunday, March 17th 2019, 5:58am

Hệ thống Thiên hạ của Trung Quốc: Lịch sử và hiện tại
Posted on 25/11/2014 by The Observer
Tác giả: June Teufel Dreyer
Biên dịch: Phạm Trang Nhung

Khi Trung Quốc nổi lên như là một cường quốc kinh tế và quân sự vượt trội trên thế giới, một vài học giả Trung Quốc lại tiếc nuối nhắc về một thời kì khác, khoảng thế kỉ 5 trước Công nguyên, khi thiên hạ đã từng thái bình dưới sự cai trị của một hoàng đế đạo đức và nhân từ kiểu Nho gia. Những hồi tưởng về lịch sử này rõ ràng gợi ý rằng – dưới sự lãnh đạo của một nước Trung Quốc đức độ, người ta có thể quay trở lại thời kì hoàng kim.

Theo đó, hoàng đế nhân từ duy trì một pax sinica (nền hòa bình kiểu Trung Hoa) và cai trị thiên hạ (tianxia), hay toàn bộ thế giới dưới bầu trời này.
Điều này đặc trưng bởi hệ thống triều cống, mà ở đó những người cai trị các vùng đất xung quanh Thiên triều đến thăm triều đình, thực hiện nghi thức khấu đầu, tức là cúi rạp mình để tỏ lòng tôn trọng, và dâng tặng sản vật địa phương làm quà. Đổi lại vị trí cai trị của họ được hợp thức hóa. Họ được tặng lịch của triều đình và nhận các vật phẩm xa xỉ biểu trưng cho nền văn minh Trung Hoa thượng đẳng. Kết quả là đại đồng, hay sự hòa hợp vĩ đại.

Tuy nhiên, trật tự lý tưởng này được cho là đã bị phá hủy với sự xuất hiện của những cường quốc tư bản tham tàn vốn ham muốn mở rộng đế chế tài chính của mình và áp đặt hệ thống thương mại và quan điểm Westphalia về chủ quyền, với quan niệm rằng tất cả các quốc gia dân tộc đều bình đẳng với nhau và không có một chính quyền nào cao hơn chính quyền quốc gia. Bởi vì điều này cho phép các quốc gia tự do hành động theo quan điểm riêng về lợi ích của họ, kết quả tất yếu là chiến tranh tất cả chống lại nhau theo tư tưởng của Hobbes và một thế giới thất bại. Cách giải quyết tình trạng chẳng lấy gì làm tốt đẹp này, theo ý kiến của các học giả mà điển hình là Zhao Tingyang, là phục hồi thiên hạ, với sự lãnh đạo của Trung Quốc trong vai trò là phán quan của cả thiên hạ đó.[1]

Vấn đề là thời kì hoàng kim đó chưa bao giờ tồn tại và dường như tỏ ra không hiệu quả trong thời kì hiện đại. Nhà Hán học quá cố Yang lien-sheng của trường Havard đã khẳng định thẳng thừng rằng:
“Trật tự thế giới với Trung Quốc làm trung tâm là một ảo tưởng đã bị hiện thực bác bỏ nhiều lần theo nhiều mức độ khác nhau, đôi khi gần như phủ định hoàn toàn.”[2]

Như các học giả Trung Quốc khác đã chỉ ra, cần có vũ lực để duy trì sự thống nhất của đế chế lẫn bảo vệ nó khỏi kẻ thù bên ngoài. Trong công thức của Wang Gungwu, thực tiễn của đế chế có trọng tâm là võ, hay vũ lực, với vỏ bề ngoài là đức, hay đạo đức.[3] Thuật cai trị khôn ngoan dựa vào việc đạt được sự cân bằng giữa hai yếu tố này.
Mặc dù triều thần ca tụng sự tinh thông Nho học của hoàng đế, thực tế họ lại cư xử như những đệ tử Pháp gia, những người cho rằng xã hội có trật tự hay không phụ thuộc vào luật lệ rõ ràng và việc xử phạt kẻ phạm tội thay vì lòng nhân từ.

Những người khác cũng nhấn mạnh rằng quan niệm về sự vượt trội của hình mẫu Trung Quốc trong việc ngăn chặn chiến tranh là ngớ ngẩn đối với bất kì ai quen thuộc với các chi tiết trong lịch sử Trung Quốc vốn đầy rẫy xung đột.[4]

Nho giáo cũng không phải là một mô hình phù hợp với một thế giới quốc tế hóa.
Vạn Lý Trường Thành, một trong những tinh hoa của nền văn minh Trung Hoa cổ đại, cũng là biểu tượng cho chủ nghĩa biệt lập của đế chế. Nó được xây dựng để ngăn chặn man di.[5]

Hơn thế nữa, kinh điển Nho giáo cũng không khuyên người ta nên xem trọng những mối quan hệ với người ngoài như quan hệ với người thân.[6]
Trong quan niệm của Nho giáo về một vương quốc có trật tự, các mối quan hệ mở rộng từ thành viên gia đình ra bên ngoài, với mức độ sâu sắc giảm dần. Quan niệm về đạo hiếu gần như không có ý nghĩa nếu kì vọng ai đó đối xử với mọi người như với anh em ruột thịt.
Cũng như vậy, quan điểm hạ thấp tầm quan trọng của phụ nữ và không coi trọng thương nhân của họ hiện nay cũng không được hưởng ứng nhiều.

Một mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế khác là những người chấp nhận tình trạng làm chư hầu cho đế chế Trung Quốc không nhất thiết phải chấp nhận quan niệm về sự bất bình đẳng giữa nước mình với Trung Quốc và vẫn tiến hành đàm phán như là những bên bình đẳng.
Vào giữa thế kỉ 15, vua xứ Ayudhya (Thái Lan ngày nay – NBT) đã từ chối yêu cầu của sứ thần triều Minh rằng ông phải khấu đầu để thể hiện sự kính trọng với hoàng đế. Với vị vua này và những người khác, việc được thừa nhận chỉ nhằm một mục đích thực dụng – trong trường hợp này là nhận sự hỗ trợ của triều đình để đối trọng lại những kẻ có tham vọng bá chủ khác.[7]

880

Sunday, March 17th 2019, 6:00am

Sự khác biệt về sức mạnh giữa những người cai trị Trung Quốc và các nước khác thậm chí có thể dẫn đến sự đảo lộn vai trò: Năm 1138, người sáng lập triều Nam Tống đã chấp nhận địa vị chư hầu trước triều Kim man di.[8]
Vào thế kỉ 18, dưới áp lực từ Nhật Bản, nước Ryukyu (Lưu Cầu) đã triều cống cho cả Mạc phủ Tokugawa lẫn Bắc Kinh.[9]
Kể cả người Triều Tiên, những người sùng kính trung thành nhất với chế độ thiên hạ, cũng thường ngần ngại trước yêu cầu của Hoàng đế Hồng Vũ (Chu Nguyên Chương – ND) nhà Minh về việc cống nạp ngựa, rõ ràng là vì họ muốn dự trữ trong trường hợp có xung đột với nhà Minh ở Mãn Châu.
Vào thời nhà Thanh, mặc dù liên tục gửi triều cống, nhưng các vị vua Triều Tiên đã xem thường nhà Thanh và cố tình giữ lại lịch của triều Minh đối lập.[10]

Rất lâu trước khi người phương Tây đến, đã có sự thay đổi dần dần từ chế độ triều cống sang thương mại. Dưới thời nhà Minh, đã có những trao đổi thương mại giữa Ryukyus và một phần Đông Nam Á.[11]
Tư thương giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã tồn tại ngay cả trong thời kì sakoku (Tỏa Quốc – ND) vào thế kỉ 17 khi Nhật Bản về mặt lý thuyết đã đóng cửa với giao thương bên ngoài.[12]
Triều đình Trung Quốc từ cuối những năm 1400 cũng cho thấy sự quan tâm đến tăng trưởng thương mại. Bất chấp những hậu quả nghiêm trọng, kể cả việc bị xử trảm, đến thế kỉ 15, một hệ thống thương mại đã phát triển rộng khắp Đông Nam và Bắc Á. Bởi cường quốc phương Tây đầu tiên là Bồ Đào Nha mãi đến năm 1524 mới đến khu vực này, điều này đã bác bỏ luận điểm rằng thương mại là do người phương Tây áp đặt.

Hơn nữa, việc áp đặt các hiệp ước thương mại không nhất thiết dẫn đến sự thua thiệt của các quốc gia vốn là thành viên của hệ thống thiên hạ trên danh nghĩa hay thực tế. Nghiên cứu của Hamashita Takeshi cho thấy rằng thay vì trở thành nạn nhân bị động của các cường quốc tham lam bên ngoài, người phương Tây đã mang đến cho các nước đó những cơ hội mới. Vốn chưa hề yếu ớt trong hệ thống thiên hạ, những quốc gia này ngày càng tăng cường sự tự chủ của mình.

Trong một trường hợp, vào năm 1884, một công sứ từ Quảng Đông nói với quan chấp chính của Xiêm rằng việc dừng cống nạp cho Trung Quốc là không phù hợp với luật quốc tế, qua đó viện dẫn đến cả hệ thống triều cống và (quy tắc) thương mại. Viên chấp chính đáp lại bằng cách đề nghị đàm phán. Cả hai bên thấy nước họ có quan hệ chư hầu trong khi đồng thời thảo luận về một hiệp định giữa những bên bình đẳng. Người Triều Tiên tương tự cũng kết hợp các yếu tố của hệ thống chư hầu và thương mại để thu lợi nhiều nhất.[13]

Nếu (hệ thống) thiên hạ có vấn đề, vậy chủ quyền kiểu Westphalia thì sao?
Trong khi rõ ràng là mọi nhà nước đều không bình đẳng về quy mô và sức mạnh, và rằng sự hiện diện của một trọng tài tối cao có lẽ sẽ có ích trong việc giải quyết mâu thuẫn, dường như rất ít người sẵn sàng trao quyền đó cho Bắc Kinh. Với phần lớn nhà hoạch định chính sách, viễn tưởng về bình đẳng hấp dẫn hơn nhiều so với viễn tưởng về việc phụ thuộc vào một người cai trị nhân từ.

Cũng có người đặt câu hỏi về việc người cai trị Trung Quốc có thể nhân từ đến đâu: Thật khó để hình dung Tập Cận Bình, những người tiền nhiệm và có lẽ cả kế nhiệm của ông ta trong vai trò này. Khả năng các lãnh đạo Bắc Kinh sẽ trở thành những người xây dựng luật chơi cho thế giới để đảm bảo pax sinica toàn cầu cũng gây nên những lo ngại tương tự như những gì nhà thơ trào phúng người La Mã Juvenal thế kỉ 1 từng đặt ra: “Quis custodiet ipso custodies” – Ai sẽ giám sát người giám sát?

Những người ủng hộ sự phục hồi thiên hạ như là hình mẫu cho thế giới ngày nay về cơ bản đang xuyên tạc quá khứ để định hình lại tương lai, bóp méo quá khứ để theo đuổi một mưu đồ chính trị mà nếu không phải là nguy hiểm thì cũng chỉ là dối trá. Với tất cả những thiếu sót của nó, chủ quyền có lẽ là lựa chọn được nhiều người ủng hộ nhất. Hay nói theo kiểu Winston Churchill về dân chủ, chủ quyền có lẽ là dạng quản trị thế giới tệ nhất, nhưng còn tốt hơn tất cả những dạng khác.
June Teufel Dreyer là giáo sư ngành khoa học chính trị tại Đại học Miami. Bà là thành viên Viện Nghiên cứu Chính sách đối ngoại (FPRI) và là thành viên Ủy ban kinh tế và an ninh Mỹ-Trung. Bài báo này được trích từ một bản dài hơn đăng trên The Journal of Contemporary China với sự cho phép của biên tập viên.
Biên tập: Lê Xuân Hùng |Bản gốc tiếng Anh: Yale Global
————————
[1]Xem Tingyang Zhao, “A Political World Philosophy in Terms of All-Under-Heaven (Tian-xia), Diogenes, 221 (2009), pp. 155.
[2] Lien-sheng Yang, “Historical Notes on the Chinese World Order,” in John K. Fairbank, ed., The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge MA: Harvard University Press, 1968), p.20.
[3] Gungwu Wang, “Early Ming Relations With Southeast Asia: A Background Essay,” in Fairbank, p. 49
[4] Xem Alistair Iain Johnston, Cultural Realism: Strategic Culture and Grand Strategy in Chinese History (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1998 ). Johnston lập luận thuyết phục trên nền tảng nguồn tài liệu dồi dào rằng người Trung Quốc cũng không ít quan tâm đến vấn đề quân sự hơn bất kì nền văn minh nào khác. Các học giả trước đó không nghĩ như vậy do họ đã hiểu nhầm các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc.
[5] Arthur Waldron, The Great Wall of China: From History to Myth (Cambridge, U.K.: Cambridge University Press, 1990), passim.
[6] Daniel Bell, “War, Peace, and China’s Soft Power: A Confucian Approach,” Diogenes, 221 (2009), p. 31.
[7] Geoff Wade, Ming China and Southeast Asia in 15th Century: A Reappraisal, (Singapore: Asian Research Institute Working Paper No. 28, July 2004), p.2
[8] Feng Zhang, “Rethinking the „Tribute System‟: Broadening the Conceptual Horizon of Historical East Asian Politics,” Chinese Journal of International Politics, Vol. 2, 2009, p. 555.
[9] Feng Zhang, p. 565.
[10] Peter Perdue, “Rethinking the Chinese World Order: Historical Perspectives on the Rise of China,” Journal of Contemporary China, forthcoming, p. 12.
[11] Takeshi Hamashita “China and Japan in an Asian Perspective,” (2007), http://www.india-seminar.com/20070573-takeshi-hamashita.htm [1], pp. 22-23; 34.
[12] Kwan-wai So, Japanese Piracy in Ming China During the 16th Century (East Lansing, MI: Michigan State University Press, 1975), p. 214; Ronald Toby, State and Society in Early Modern Japan: Asia in the Development of the Tokugawa Bakufu (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1984), p. 200.
[13] Takeshi Hamashita, East Asia and the Global Economy: Regional and Historical Perspectives (New York: Routledge, 2008 ), p. 136.

2 users apart from you are browsing this thread:

2 guests

Similar threads