You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

1,021

Monday, November 4th 2019, 3:48am

Như vậy đấy, Trung Quốc chiếm ưu thế về nguyên tắc “Lịch sử” nhưng lại thiếu những chứng cớ được hệ thống luật biển hiện đại chấp nhận, mà hai nguyên tắc “Thềm đại lục vươn ra” và “Chiếm trước” lại trở thành có lợi cho các quốc gia Đông Nam Á mà bất lợi cho Trung Quốc. Trên tầng nấc pháp lý, vấn đề Nam Sa đã rơi vào tình thế bị động cực kỳ nghiêm trọng [đối với Trung Quốc].
Nói thẳng ra, giả thử bây giờ nổ ra một cuộc chiến tranh xung quanh quần đảo Nam Sa ở Nam Hải, thì trên toàn thế giới có lẽ chỉ có 1,3-1,4 tỷ người [ý nói người Trung Quốc và người Hoa] cho rằng Trung Quốc không phải là kẻ xâm lược!

————
Chú thích của người dịch:
[1] Lâm Tôn 林遵 (1905-1979), học trường Hải quân Hoàng gia Anh, được đào tạo về tàu ngầm tại Đức, 1934 về TQ; từng là Phó đại sứ của Sứ quán TQ tại Mỹ, rồi Tư lệnh Hạm đội II đóng tại vùng Trường Giang. 1948 là thiếu tướng hải quân Trung Hoa Dân Quốc. 1949 dẫn quân gia nhập Quân Giải phóng TQ, trở thành một trong những người sáng lập hải quân TQ. 1955 được phong thiếu tướng hải quân. Đảng viên Quốc dân Đảng TQ, đảng viên thuộc Ủy ban Cách mạng Quốc dân đảng TQ, Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc.

[2] Bản Trung văn viết là Trung Á, có lẽ in sai.

[3] Đảo Vĩnh Hưng, tên quốc tế Woody, rộng 2,13 km2, là đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị TQ chiếm, hiện có sân bay và thành phố Tam Sa do TQ lập ra. – Đảo Trung Kiện thuộc quần đảo Hoàng Sa, cách đảo Woody 178 km về phía Tây Nam. – Đảo Thái Bình , tên quốc tế Itu Aba, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; rộng 0,443 km2, là đảo duy nhất có nguồn nước ngọt. – Đảo Trung Nghiệp, tên quốc tế Thitu; rộng 0,33 km2; do Phillippines kiểm soát.

[4] Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa là 4 quần đảo lớn nhất ở Biển Đông. – Đông Sa, tên quốc tế Pratas Island, ở gần Hong Kong, tức gần đại lục TQ hơn cả; hiện do Đài Loan kiểm soát. – Trung Sa, tên quốc tế Macclesfield Bank; ở gần Phillippines, phần lớn là đảo san hô chìm dưới nước; bãi cạn Scarborough mà TQ gọi là đảo Hoàng Nham thuộc quần đảo này. (theo tài liệu của TQ)

[5] Một nguồn tin của mạng TQ nói trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, TQ trả cho Việt Nam 2 đảo đá trong Vịnh Bắc Bộ để xây dựng trạm radar, vì thế đường 11 đoạn phải bỏ mất 2 đoạn, còn lại 9 đoạn.

1,022

Tuesday, November 5th 2019, 5:56pm

Hoa Kỳ lên án mối đe dọa của Trung Cộng trên Biển Đông
BBC Tiếng Việt
5 tháng 11 2019

Đại diện Hoa Kỳ hôm 4/11 phát biểu tại tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Hoa Kỳ ở Bangkok (Thái Lan) rằng, Trung Cộng đã tìm cách "bắt nạt" các quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Theo đó, Trung Cộng bị cáo buộc rằng đã quân sự hóa vùng biển giàu tài nguyên này và tìm cách kiểm soát tuyến thương mại toàn cầu qua đây.
Theo tờ Guardian, Cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ, Robert O'Brien, cho biết thêm là các yêu sách chủ quyền của Trung Cộng với hầu hết khu vực Biển Đông - vốn đã bị Tòa Trọng tài thường trực (PCA) bác bỏ - là bất hợp pháp và là một hình thức mới trên thực tế của chủ nghĩa đế quốc.
Ông O'Brien, trong một bài phát biểu nói rằng, Bắc Kinh đã đe dọa để cố gắng ngăn chặn các quốc gia ASEAN khai thác tài nguyên ngoài khơi, ngăn chặn việc tiếp cận trữ lượng dầu khí trị giá 2, 5 ngàn tỉ đôla.
Ông O'Brien nhân dịp này cũng chuyển tới các nước thư của Tổng thống Hoa Kỳ Donald J. Trump, khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực, hoan nghênh ASEAN triển khai Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Ông cũng chuyển lời mời của tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump mời các lãnh đạo ASEAN đến Washington tham dự một cuộc họp đặc biệt vào một thời điểm thuận tiện vào quí đầu năm 2020.

1,023

Tuesday, November 5th 2019, 6:00pm

RCEP đạt thỏa thuận nhưng không có Ấn Độ
BBC Tiếng Việt
5 tháng 11 2019

Cũng trong ngày hôm qua, tại Thượng đỉnh ASEAN tổ chức ở Thái Lan, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (RCEP) do Trung Cộng hậu thuẫn đã đạt đến thỏa thuận sau 6 năm đàm phán.
15 quốc gia gồm 10 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, cùng 5 quốc gia khác gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và New Zealand, trong tuyên bố hôm 4/11, khẳng định rằng, họ đã thống nhất với các điều khoản của RCEP - hiệp ước thương mại lớn nhất thế giới hiện nay. Tuy nhiên, Ấn Độ đã quyết định không tham gia Hiệp định này.

HReuters đưa tin rằng, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cho biết ông không thể thỏa hiệp lợi ích của nông dân và công nhân tại nhà bằng cách tham gia hiệp ước thương mại khu vực do Trung Cộng lãnh đạo sau khi không giải quyết được mối lo ngại về tiếp cận thị trường của Delhi.
Việc ban đầu Ấn Độ có ý định tham gia Hiệp định này đã vấp phải sự phản đối gay gắt từ bên trong nội bộ đảng Hindu bảo thủ của Thủ tướng Modi - vốn được sự ủng hộ của những cơ sở kinh doanh nhỏ, cũng như từ đảng đối lập chính. Đảng đối lập khẳng định rằng, nếu Ấn Độ tham gia hiệp định, chẳng khác gì ném thị trường khổng lồ của Ấn Độ cho hàng hóa nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc. Ông Modi phát biểu tại Hội nghị cấp cao về RCEP vừa tổ chức ở Thái Lan:
"Tôi đã thử định lượng khả năng RCEP sẽ tác động như thế nào đến lợi ích của người dân Ấn Độ, và tôi không nhận được câu trả lời tích cực"

Ấn Độ lo lắng rằng, yêu cầu phải loại bỏ dần thuế quan khi tham gia RCEP sẽ mở rộng cửa thị trường nước này cho hàng hóa và nông sản nhập khẩu giá rẻ của Trung Quốc, cũng như hàng hóa nhập từ Úc và New Zealand. Điều này sẽ gây tổn hại cho các nhà sản xuất địa phương.

Tuy nhiên, các nhà đàm phán thương mại và các hiệp hội kinh doanh ở Ấn Độ ủng hộ RCEP cho biết khi tham gia RCEP ngành công nghiệp Ấn Độ sẽ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của các mặt hàng cao cấp như điện tử và kỹ thuật. Điều đó cũng như khả năng tiếp cận nhiều hơn vào thị trường nước ngoài sẽ giúp bù đắp sự suy thoái kinh tế của Ấn Độ.
Ông Vikram Kirloskar, Chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ (CII), một tổ chức kinh doanh hàng đầu ở nước này, cho biết, tích hợp tốt vào các chuỗi giá trị toàn cầu sẽ mang lại lợi ích lâu dài của ngành công nghiệp ở Ấn Độ. Liên đoàn này tường trình rằng, các hiệp định thương mại có lợi có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa mối quan tâm này.

Tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng sáu năm nay và xuất khẩu của nước này đã bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, cũng như việc các quốc gia khác ngày càng tăng cường các biện pháp bảo hộ mậu dịch. Tuy nhiên, Thủ tướng Modi cho biết, không có sự bảo đảm nào cho khả năng tiếp cận thị trường và các rào cản phi thương mại khi tham gia RCEP.
Vấn đề gai góc nhất với Ấn Độ là với Trung Cộng - đối tác thương mại lớn thứ hai của nước này. Hiện Ấn Độ thâm hụt thương mại 53 tỷ đô la với Trung Cộng trong năm 2018/19.

1,024

Tuesday, November 5th 2019, 7:28pm

Nga và Châu Phi: Ước mơ và ảo vọng
RFI Tiếng Việt
Mai Vân
Đăng ngày 02-11-2019
Trang bìa và hồ sơ chính các tạp chí Pháp của tuần lễ cuối tháng 10, đầu tháng 11/2019 này đều dành cho các chủ đề liên quan đến nước Pháp, đẩy lùi các đề tài quốc tế cũng rất lý thú vào những trang trong. Một trong những phân tích đáng chú ý là bài nhận định trên l’Express về tham vọng mới của tổng thống Nga Vladimir Putin tại châu Phi, muốn Matxcơva khôi phục hào quang của Liên Xô trước đây. Tuy nhiên đối với tạp chí Pháp, thời thế đã thay đổi, và tham vọng của Nga chỉ là ảo vọng mà thôi.
Trong bài “Ước mơ và ảo vọng của Nga tại châu Phi”, nhà bình luận Christian Makarian của L’Express đã ghi nhận thái độ nôn nóng của Vladimir Putin, vừa mới ký kết xong thỏa thuận với tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan về Syria, đã vội tiếp đón ngay khoảng 40 nguyên thủ quốc gia châu Phi ở Sotchi.

Nga muốn chi phối trở lại Châu Phi
Theo L’Express, mong muốn của giới lãnh đạo Nga là tái lập quyền chi phối châu Phi về mặt ý thức hệ như vào thời Liên Xô trước đây ngay khi lục địa này bắt đầu tiến trình phi thực dân hóa. Nhưng từ khi Liên Xô phân rã, vai trò toàn cầu của Nga bắt đầu suy giảm, điều mà ông Putin đã biết ngăn chặn bằng cách đích thân công du các nước châu Phi.
Một bước tiến quan trọng đã được thực hiện ở Ai Cập, nơi mà ngành ngoại giao Nga đã khéo léo tận dụng những sai lầm của cựu tổng thống Mỹ Barack Obama, đã dấn thân quá sâu vào việc bảo vệ cựu tổng thống Ai Cập Mohamed Morsi xuất thân từ hàng ngũ của Huynh Đệ Hồi Giáo.
Ngay khi quân đội Ai Cập dưới quyền thống chế Al-Sissi trở lại nắm quyền tại Cairo vào tháng 7 năm 2013, Putin đã lao ngay vào kẽ hở và ký kết nhiều hợp đồng với Ai Cập. Trước đó, tổng thống Nga đã làm điều tương tự với Algeri, với hy vọng khôi phục được quan hệ hữu nghị xưa cũ.

Tranh thủ cơ hội phương Tây có vẻ như muốn buông lơi châu Phi (Mỹ từ chối dấn thân sâu hơn vào lục địa châu Phi, trong lúc tổng thống Pháp tái khẳng định quyết tâm từ bỏ cách hành xử đáng chê trách của kiểu quan hệ truyền thống mẫu quốc-thuộc địa “Françafrique”), chủ nhân điện Kremlin tiếp tục mở rộng phạm vi ảnh hưởng.
Tuy nhiên, theo nhận định của tạp chí Pháp, nước Nga của Putin hoàn toàn không phải là Liên Xô; không còn ảnh hưởng ý thức hệ, không có chỗ dựa chính trị địa phương và thậm chí không đủ sức đầu tư cho các dự án lớn.
Việc bám rễ trở lại vào vùng Trung Đông nhờ cuộc xung đột rất đẫm máu tại Syria không có khả năng dẫn đến một động lực mới. Matxcơva hiện không thu hoạch được bất kỳ lợi ích thực sự nào từ các xung đột nội bộ khác nhau đang khuấy động lục địa đen – như ở Sudan, ở Cộng Hòa Trung Phi, cũng như ở Nigeria, ở Nam Phi (quốc gia mà Putin rất thích), thậm chí ở Algeri cũng không. Putin được một số nhà lãnh đạo châu Phi đánh giá tốt, nhưng ông còn lâu mới là bạn của châu Phi.

1,025

Wednesday, November 13th 2019, 4:50am

Hồng Kông: Phải chăng đã tới điểm không thể đảo ngược ?
RFI Tiếng Việt
Tú Anh
Đăng ngày 12-11-2019

Một sinh viên Hồng Kông thiệt mạng, một thanh niên bị cảnh sát bắn trọng thương, một người ủng hộ Trung Quốc bị người biểu tình châm xăng đốt, cửa hàng Trung Quốc bị đập phá, truyền thông Bắc Kinh lại nói đến can thiệp quân sự trong khi Giáo hội Công Giáo lo ngại xung đột leo thang và có thêm nạn nhân mới nếu chính quyền không nhượng bộ.
Từ thứ Sáu tuần trước, sau cái chết của sinh viên Alex Chow vì thương tích nặng trong bối cảnh xung đột với cảnh sát, bạo lực tại Hồng Kông gia tăng một cách đáng ngại.
Trong tang lễ cũng như trong khuôn viên trường đại học của Alex Chow, xuất hiện những khẩu hiệu đòi trả thù. Hệ quả là lần đầu tiên từ khi phong trào chống dẫn độ biến thành việc chống Bắc Kinh chà đạp nguyên tắc “một nước hai chế độ”, xảy ra nhiều vụ sinh viên Hoa lục bị sinh viên Hồng Kông hăm dọa.

Theo AFP, căng thẳng được thấy rõ tại phần đông các trường đại học vào sáng thứ Ba. Trên những con đường dẫn về các trường đại học đều có người biểu tình chiếm lĩnh hoặc có các chướng ngại vật do các nhóm trẻ đeo mặt nạ hay khẩu trang dựng lên. Trường Bách Khoa náo loạn khi cảnh sát xông vào tìm bắt một nữ sinh viên tranh đấu. Vì lo sợ bị trả thù, nhiều sinh viên Hoa lục đã về nước cho dù mới tựu trường.
Trong lúc đó, nhiều khu phố của Hồng Kông bị tê liệt vì hàng loạt hoạt động “xung kích”. Hệ thống chuyên chở công cộng gần như bị ngưng trệ trong ba ngày liên tiếp.

Sự kiện làm cho dân Hồng Kông tức giận nhất là vừa xong tang lễ Alex Chow, vào sáng thứ Hai đã xảy ra vụ cảnh sát rút súng bắn vào bụng một thanh niên biểu tình 21 tuổi. Đoạn băng video đã thúc đẩy đông đảo dân Hồng Kông xuống đường phản kháng. Một phụ nữ chia sẻ với RFI :
“Phải chăng Trung Quốc muốn tái diễn cuộc thảm sát Thiên An Môn ?”.

Vài giờ sau, một đoạn băng khác cho thấy một người đàn ông ủng hộ Bắc Kinh, sau một cuộc cãi vã, bị châm xăng đốt thành đuốc. Người bị bắn và người bị đốt đều đang được chăm sóc trong tình trạng hiểm nghèo.
Hôm nay, từng nhóm thanh niên đeo khẩu trang lại tiếp tục tấn công hàng quán do người Trung Quốc làm chủ, lập chướng ngại vật cản trở lưu thông trên đường phố và đường sắt. Tại khu Trung Hoàn, nơi tập trung các công ty quốc tế và cửa hiệu sang trọng, vào giờ nghỉ trưa, hàng ngàn nhân viên tham gia một cuộc mít-tinh đột phát với khẩu hiệu kêu gọi “Đấu tranh cho Tự Do, Ủng hộ Hồng Kông”.

Tình hình Hồng Kông đi về đâu ?
Trước bầu không khí bạo lực này, các cường quốc Tây phương yêu cầu đặc khu trưởng Hồng Kông Lâm Trịnh Nguyệt Nga thỏa hiệp với phong trào dân chủ. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Mỹ lên án bạo lực ở cả hai phía. Bộ Ngoại Giao Anh kêu gọi hai bên đối thoại.
Tuy nhiên, Bắc Kinh, cũng như chính quyền đặc khu dường như vẫn từ chối nhượng bộ chính trị. Hôm thứ Hai, bà Lâm Trịnh Nguyệt Nga khuyến cáo phe biểu tình đừng mơ tưởng có thể làm thay đổi chính trị.
Tại Bắc Kinh, hai tờ báo phản ảnh quan điểm của đảng Cộng Sản Trung Quốc đe dọa dùng biện pháp mạnh. Bài xã luận của Nhân Dân Nhật Báo cho là cảnh sát Hồng Kông hành động chừng mực còn thẩm phán thì quá rộng lượng. Theo xu hướng này, Hoàn Cầu Thời Báo kêu gọi cảnh sát Hồng Kông cần cứng rắn hơn và có thể tin cậy vào sự tiếp tay của lực lượng võ trang của Trung Quốc đóng tại Hồng Kông.

Máu sẽ đổ thêm ?
Giáo hội Công Giáo Hông Kông, luôn hậu thuẫn dân chủ và nhân quyền, kêu gọi chính quyền lắng nghe yêu sách của phong trào dân chủ và làm sáng tỏ cái chết của Alex Chow. Trong một bài giảng, phụ tá tổng giám mục Joseph Hạ Chí Thành cảnh báo:
“Trong một xã hội văn minh, không một người có lương tâm nào chấp nhận một nghi án như thế. Nếu sự thật không được phơi bày, tình hình Hồng Kông sẽ suy thoái thêm và sẽ có thêm nạn nhân trong tương lai”.

1,026

Wednesday, November 13th 2019, 5:51am

Nhận định (Thursday, December 29th 2016):

VN sau 1975 có tượng là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (火 水 未 濟)
Quẻ Vị Tế (未 濟),ở sau quẻ Ký Tế (既 濟), là quẻ cuối cùng của 64 quẻ Dịch có một ý nghĩa sâu sắc. Thánh Hiền không để quẻ Ký Tế kết thúc bộ Kinh Dịch, mà lại để quẻ Vị Tế, là cốt cho ta thấy sự đời vô cùng, vô tận, trí con người khó mà lường được, mà giới hạn được.
Quẻ Ký Tế (既 濟) sẽ tiếp theo là Quẻ Vị Tế (未 濟). Nghĩa là một công cuộc trong ngắn hạn có thể xem như đã xong (mission accomplished) nhưng trong dài hạn thì việc lớn hơn vẫn chưa xong (the task is not done yet).
Sẽ không có chuyện Quẻ Vị Tế (未 濟) đi ngược lại để trở thành quẻ Ký Tế (既 濟).
Dòng đời luôn luôn chuyễn biến không ngừng nghĩ nên sẽ không một ai có thể nói mọi sự đã chấm dứt (all things cease to change). Đây chính là cốt tủy của kinh Dịch (chưa xong mà không thể làm cho xong được vì việc đời không bao giờ xong mà chỉ có thể làm cho tốt hơn mà thôi).
Bởi vậy Duy Vật Biện Chứng Pháp là một quái thai của thời đại, ăn cắp Dịch lý mà phản lại Dịch lý, khi cho rằng từ tiền đề đi đến phản đề và kết thúc vĩnh viễn nơi tổng đề.
Cho nên, cuối quẻ Dịch thánh nhân để quẻ Vị Tế là ý muốn khuyên ta đừng bao giờ quên lo liệu, đề phòng, đừng bao giờ ngừng cố gắng hòan thiện sửa đổi mọi việc trong ngòai. (Trích Kinh Dịch Đại Tòan /Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê).
Vậy thì những tên bán nước VN có thể nào ngồi đó và cùng gia đình an hưởng những đồng tiền xương máu của dân chúng không ?

Trường hợp của Hongkong thì cũng giống như VN sau 1975, đó là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (火 水 未 濟), mà diễn biến kế tiếp không phải là quẻ Thủy Hỏa Ký Tế (水 火 既 濟), thì là quẻ gì? Và đâu là hào động?
Câu hỏi nầy có vẻ hơi thừa vì chỉ có những kẻ “khiếm thị tâm thần” (mental vision impaired) thì mới không thấy mà thôi.
Xin thưa ngay: đó chính là hào Sơ Lục (dân chúng).

Vì sao? (hãy nhìn thật kỹ những gì Trung Cộng làm qua bàn tay của chính quyền Hong Kong).
Vì một khi bất công chồng chất, đói khổ lan tràn, dân oan đầy dẫy, mất ruộng, mất vườn, mất cả biển khơi, không kế mưu sinh, không nơi tá túc thì mới đầu là trộm cướp sau sẽ sinh bạo lọan. Mà hể bạo lọan thì sẽ bị đàn áp thẳng tay. Rồi thì “mắt đền mắt, răng đền răng”. Và “máu sẽ gọi máu”. Dân chúng từ yếu mềm đau khổ sẽ trở nên phẩn nộ hung dữ điên cuồng (con giun xéo lắm cũng oằn).

Hào Sơ Lục sẽ biến thành hào Sơ Cửu (âm biến thành dương, hào động).
Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (火 水 未 濟) sẽ trở thành quẻ Hỏa Trạch Khuê (火 澤 睽).
Khuê là chia rẽ, là chống đối nhau, là không hợp tác với nhau. Sự chia rẽ, sự bất hợp tác ấy đã được tượng hình trong quẻ Khuê.
Sự đời biến dịch chẳng cùng: trị mà bất công sẽ sinh loạn. Cho nên thời của quẻ Khuê là thời lọan. Đúng với câu “ Thượng bất minh, hạ tắc lọan” (Trên mà không trong sáng thì dưới sẻ sinh ra lọan).

Thì cũng bởi vì trong thời của quẻ Vị Tế: kẻ dỡ thì chiếm ngôi cao, còn người giỏi thì bị dẵm xuống thấp. Trên thì kiêu căng, dưới thì căm tức. Nộ khí xung thiên, óan hờn sôi sục, thì xã hội lọan ly đưa đến thời của quẻ Khuê. Cái thế biến động là một điều không tránh khỏi. Nhân đó ngọai bang lại sẽ thừa cơ quấy nhiểu và xâm chiếm.
Từ quẻ Vị Tế do hào Sơ Lục động nên biến thành quẻ Khuê (Trị thành lọan).
Từ quẻ Khuê thì hào nào sẽ động ? và sẽ biến thành quẻ gì ?
Tất cả cũng do hào động nầy mà ra cả.
“Con giun xéo lắm cũng oằn”
Dân chúng từ yếu mềm đau khổ sẽ trở nên phẩn nộ hung dữ điên cuồng (âm biến thành dương). Hào Sơ Lục của quẻ Vị Tế đã động để biến thành hào Sơ Cửu của quẻ Khuê.
Mà “ý dân là ý trời” nên hào Lục Ngũ của quẻ Khuê bắt buộc phải dộng theo (âm biến thành dương).
Hoặc là tự diễn tiến, hoặc là bị chuyễn hóa.
Sẽ không còn một con đường nào khác hơn!!!
Vấn đề là biến động theo chiều hướng nào? Tốt hay xấu ?
Cho nên quẻ Hỏa Trạch Khuê sẽ biến thành quẻ Thiên Trạch Lý (天 澤 履).

1,027

Thursday, November 14th 2019, 7:23pm

Vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông: Cái kết được báo trước của VNCH
11/11/2019
Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ

Ngày 7/4/2014, tôi đặt chân tới Thủ đô Washington của Hoa Kỳ, sau một chuyến bay dài đưa tôi ra khỏi Trại giam số 5 ở Thanh Hóa, nơi tôi bị giam suốt 3 năm rưỡi với bản án 7 năm tù do bị kết “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Ngay sau đó, tôi được nhập học tại Viện Quốc Gia Phát Triển Dân Chủ (National Endownment for Democracy - NED) cho dù tiếng Anh của tôi lúc đó chỉ ở mức ABC. Tuy nhiên, nhờ có tiếng Pháp mà tôi thông thạo, tôi cũng đã xoay xỏa được với ngôn ngữ của Washington và Lincoln để rồi 8 tháng sau, ngày 11/12/2014, tôi thuyết trình về đề tài “Thực hiện nhân quyền để dân chủ hóa Việt Nam” (Implementing Human Rights as a Path to Democracy in Vietnam) tại NED.

Trong số những người đến chúc mừng tôi sau thuyết trình, có một phụ nữ nhỏ nhắn, điềm đạm, tự giới thiệu là Jackie Bông và đề nghị chụp ảnh cùng tôi và vợ tôi, Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà. Lúc đó có ai đó nói: “Chị Jackie Bông nguyên là phu nhân của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người bị Việt Cộng ám sát khi sắp làm Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa”. Thực tình lúc đó tôi không chú ý tới chi tiết này, không chỉ vì phía trước tôi là cả một thách thức to lớn đặt ra cho bất cứ nhà hoạt động lưu vong nào mà còn vì tôi chưa bao giờ nghe tên của Giáo sư Bông. Thực vậy, sau 30/4/1975, các tài liệu chính thức về chiến tranh Việt Nam chỉ nhắc tới các lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa tại nhiệm, dù chỉ vài ngày như Vũ Văn Mẫu hay Nguyễn Xuân Oánh.

Sau này, thỉnh thoảng tôi lại gặp bà tại các cuộc họp của cộng đồng Việt Nam hay hội thảo về Việt Nam. Mùa thu năm ngoái, nhân danh tổ chức “Họp mặt dân chủ” (The Assembly for Democracy in Vietnam -ADVN) bà mời tôi dự Hội thảo có tên “Nhìn lại cuộc chiến Việt Nam” (Vietnam War Revisited). Tôi đã dự Hội thảo và thấy rằng Jackie Bông là một phụ nữ năng nổ và có tài tổ chức, điều này khiến tôi bắt đầu tò mò về người chồng quá cố của bà, Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Cuối tháng 10 vừa qua, khi mùa thu đã nhuộm vàng cả vùng Thủ đô Washington, Jackie Bông mời vợ chồng chúng tôi điểm tâm tại Phở 95 ở Van Dorn Plaza và sau đó mời chúng tôi về thăm nhà bà.
Đó là một căn hộ sang trọng tại tầng 15 Chung cư Watergate. Trong nhà treo ảnh gia đình Jackie Bông hồi bà còn nhỏ, ảnh gia đình chồng bà, Lacy Wright, ảnh cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa, Ellsworth Bunker, đang khoác tay cô dâu Jackie Bông chụp năm 1976... Đặc biệt, có vài tủ gỗ quý kiểu cổ mang từ Việt Nam sang mà tôi rất mê. Bà nói tên bà là Thu Vân, Jackie Bông Wright là tên bà có sau khi tái giá, nhưng mọi người gọi ngắn lại là Jackie Bông. Tặng vợ chồng tôi cuốn hồi ký “Mây Mùa Thu” (Capital Books xuất bản 2002), bà giải thích: “Mây Mùa Thu, tức Thu Vân đấy. Cuốn này cũng đã được xuất bản bằng tiếng Anh vẫn với cái tên này, “Autumn Cloud”. Bà còn cho tôi mượn cuốn “Giáo sư Nguyễn Văn Bông – Di cảo (Nguyễn Ngọc Huy Foundation – Mekong-Tỵnạn xuất bản 2009) và nói đây là bản duy nhất bà còn.
Jackie Bông nói tôi khi nào đọc xong hai cuốn sách này mà cần hỏi thêm về Giáo sư Bông thì bà sẽ giải đáp. Lẽ tất nhiên tôi đã không bỏ lỡ cơ hội. Ngoài ra, ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bí thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng nhiệt tình cung cấp cho tôi một số thông tin liên quan Giáo sư Bông.
Vậy là tôi đã có những phương tiện cơ bản trong tay để làm một nghiên cứu nhỏ về nhân-vật-bị-ám-sát-khi-sắp-làm-Thủ-tướng nhân 48 năm ngày ông qua đời (10/11/1971 – 10/11/2019).

Việt Nam hóa chiến tranh
Điều đáng chú ý đầu tiên là vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông diễn ra trong bối cảnh Mỹ đang tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” (Vietnamization).
Chính thức thì cái tên “Việt Nam hóa chiến tranh” có nguồn gốc từ "Phi Mỹ hóa chiến tranh" (De-Americanization) chỉ xuất hiện sau khi Richard Nixon vào Nhà Trắng với "Học thuyết Nixon", học thuyết này dựa trên chiến lược "Răn đe thực tế" thay cho chiến lược "Phản ứng linh hoạt" của người tiền nhiệm Lyndon Johnson. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird coi “Việt Nam hóa chiến tranh” là "Học thuyết Nixon trong hành động", là "biện pháp kết thúc sự tham gia của Mỹ, bước mở đầu tăng cường lực lượng đồng minh ở châu Á". Tóm lại là chuyển dần trách nhiệm tiến hành chiến tranh từ Mỹ sang Việt Nam Cộng hòa. Trên thực tế, chiến lược này đã bắt đầu với Robert McNamara, Bộ trưởng quốc phòng của hai tổng thống Mỹ, John Kennedy và Lyndon Johnson.

Kể từ khi Kennedy vào Nhà Trắng cuối tháng 1/1963 cho đến khi vị tổng thống trẻ tuổi này bị ám sát vào tháng 11/1963, McNamara đã nâng số quân Mỹ tại Việt Nam từ 900 lên hơn 16.000. Đến năm 1965 khi Mỹ tiến hành chiến tranh không quân ra miền Bắc mang biệt danh “Chiến dịch sâm rền” thì số quân Mỹ đã là 184.000.
Như vậy, McNamara là “kiến trúc sư” của Chiến tranh Việt Nam.
Tuy vậy, khi đối diện với những thất bại quân sự trước Quân giải phóng miền Nam áp dụng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" nhằm vô hiệu hóa ưu thế áp đảo về pháo binh và không quân của Mỹ, với bộ óc thông minh của một cựu sinh viên Havard và Chủ tịch Hãng Ford McNamara hiểu rằng leo thang chiến tranh cũng sẽ bế tắc.
Trong cuộc họp ngày 17/12/1965 với Tổng thống Johnson tại văn phòng Nội các, trả lời câu hỏi “giải pháp quân sự không đảm bảo chiến thắng sao?” của Tổng thống, McNamara khẳng đinh: “Tôi đã nói: chúng ta không thể có giải pháp quân sự. Chúng ta cần phải tìm giải pháp khác” (1).

1,028

Thursday, November 14th 2019, 7:25pm

Điều trớ trêu là kế hoạch “rút chân” khỏi Việt Nam của Mỹ được hình thành chỉ hơn 9 tháng sau khi đơn vị chiến đấu đầu tiên, Lữ đoàn 9 thủy quân lục chiến, đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng, tức hầu như ngay khi nó được bắt đầu. Trớ trêu hơn nữa là kế hoạch này lại được khởi thảo bởi chính “kiến trúc sư” của cuộc chiến.

Cụ thể hóa quan điểm của mình, vào mùa xuân 1966, McNamara đã cùng phụ tá của mình là MacNaughton soạn thảo một “Kế hoạch tháo lui chiến thuật”. Ngày 14 tháng 10 năm 1966, McNamara đã gửi một báo cáo dài đến Tổng thống Johnson, thừa nhận thất bại của Mỹ trên mọi phương diện, từ chương trình bình định nông thôn ở miền Nam cho đến chiến dịch “Sấm rền” ném bom miền Bắc. Báo cáo này viết: “Nói tóm lại, chúng ta – từ góc cạnh của một cái nhìn đối với tầm quan trọng của cuộc chiến – sẽ thấy rằng không có tiến bộ nào đáng kể, mà còn tệ hại hơn. Cuộc chiến quan trọng này phải do người Việt Nam tự lo liệu; họ phải chiến đấu để giành chiến thắng”. Không nghi ngờ gì nữa, báo cáo này của McNamara chính là xuất phát điểm của “Việt Nam hóa chiến tranh”.(2)

Một tháng sau khi nhận được báo cáo của McNamara, Tổng thống Johnson đã yêu cầu Cố vấn an ninh quốc gia Walt Rostow và Robert Komer, thành viên Hội đồng an ninh quốc gia chuyên về Việt Nam, tìm một giải pháp hiệu quả hơn các chiến thuật chiến tranh tiêu hao và ném bom của McNamara. Kết quả là ngày 13 tháng 12 năm 1966, hai người này đã đề xuất bổ trợ chiến dịch tấn công quân chủ lực phía địch và ném bom tấn công bằng các nỗ lực tăng cường nhằm bình định hóa vùng nông thôn và tăng cường sức lôi cuốn của chính quyền Nam Việt Nam.

Để triển khai kế hoạch này, Johnson đã đã cử đến Sài Gòn Ellsworth Bunker làm Đại sứ Mỹ, Robert Komer làm chỉ huy một tổ chức chống nổi dậy mới có tên "Hoạt động dân sự và hỗ trợ cách mạng” (Civil Operations and Revolutionary Development Support program – CORDS), và Đại tướng Creighton Abrams, phó Tham mưu trưởng Lục quân, làm phó cho Đại tướng William Westmoreland, Tư lệnh quân Mỹ tại Nam Việt Nam (MACV) với nhiệm vụ tăng cường năng lực của quân lực Việt Nam Cộng hòa nhằm thay thế quân Mỹ trong chiến đấu chống các lực lượng Cộng sản.
Lẽ dĩ nhiên, Bunker là người điều hành chung kế hoạch.
Sở dĩ Bunker được Tổng thống Johnson tín nhiệm cho trọng trách giúp Mỹ thoát khỏi vũng lầy quân sự tại Việt Nam là vì nhà ngoại giao Mỹ ngoại thất tuần này đã giải quyết thành công khủng hoảng năm 1965-66 tại Cộng hòa Đôminica sau khi các đặc phái viên khác của Hoa Kỳ và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ thất bại.

Tháng 12/1963, Juan Bosch, một ứng cử viên cánh tả, đã được bầu làm tổng thống. Sau khi nhậm chức vào tháng 2/1963, Bosch đã tiến hành một số cải cách theo hướng xã hội dân chủ, điều này khiến ông bị dán nhãn cộng sản. Vào tháng 9 cùng năm, một nhóm sĩ quan cấp cao đã lật đổ ông và đưa Donald Reid làm tổng thống mới. Tháng 4/1965, một nhóm quân nhân liên kết với những người cánh tả đã nổi dậy và lật đổ chế độ quân phiệt để đưa Bosh trở lại cầm quyền. Cuộc nổi dậy này được gọi là “Cách mạng tháng Tư”. Để tránh một Cuba thứ hai ở bán cầu Tây, Tổng thống Johnson đã đưa 42.000 quân vào Dominica và lực lượng này đã đụng độ trực tiếp với lực lượng nổi dậy. Thấy rằng sự can thiệp quân sự của Mỹ sẽ làm nước này sa lầy nên Bunker, lúc đó là Đại sứ Mỹ tại Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) chủ trương một giải pháp chính trị dựa trên tổ chức một cuộc bầu cử mới với sự tham gia của các bên tham chiến người Dominica. Nố lực của Bunker và các đại sứ khác của Tổ chức các nước châu Mỹ theo hướng này đã thành công, cho phép quân Mỹ triệt thoái khỏi đảo quốc này một cách êm ả, điều này đã mang lại cho ông biệt danh “Người giải quyết rắc rối” (Troubleshooter)

Sau này trong một cuộc phỏng vấn, Bunker nói: “Tôi đã giúp ông ấy (Tổng thống Johnson) thoát khỏi Cộng hòa Dominica và đạt được mục đích chính trị ở đó. Ông ấy muốn tôi làm điều tương tự ở Nam Việt Nam”. Vẫn theo nhà ngoại giao này, Johnson muốn bắt đầu rút quân đội Mỹ khỏi Việt Nam nhưng trước khi các lực lượng này có thể rời đi, quân đội Nam Việt Nam phải mạnh hơn, hoàn thiện hơn và người Nam Việt Nam phải tăng tốc quá trình phát triển dân chủ và chịu trách nhiệm hoàn toàn về vận mệnh chính trị của Nam Việt. Nói ngắn gọn, Johnson muốn vai trò của Mỹ tại Việt Nam giảm đi với tốc độ tương ứng với sự tăng cường tự lực của Nam Việt Nam.

Ngay sau khi đặt chân tới Sài Gòn, tại buổi trình ủy nhiệm thư ngày 28/4/1967, Bunker nói với Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu rằng miền Nam Việt Nam phải gánh lấy cuộc chiến chống các lực lượng cộng sản thay cho các đơn vị chiến đấu Mỹ được hỗ trợ bằng các cuộc ném bom miền Bắc. Vị đại diện Hoa Kỳ này nói tiếp, để giành chiến thắng, miền Nam Việt Nam phải xây dựng một chính phủ chính danh đại diện cho các lực lượng chính trị đa dạng trong nước song song với bình định hóa nông thôn.

Lựa chọn hoàn hảo
Để thực hiện thành công sứ mệnh giúp Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến mà vẫn bảo đảm cho chính quyền Sài Gòn khả năng tự mình đương đầu với địch thủ Cộng sản, Đại sứ Bunker buộc phải tìm ra một nhân vật người Việt không chỉ là dân sự mà còn phải đáp ứng chí ít ba tiêu chí: có năng lực chống Cộng, có uy tín chính trị và nhất là, có chiến lược xây dựng một Việt Nam Cộng hòa có khả năng “độc lập tác chiến”. Rất nhanh chóng, ông đã tìm thấy nhân vật đó ở Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

1,029

Thursday, November 14th 2019, 7:27pm

Nguyễn Văn Bông sinh năm 1929, trong một gia đình nghèo, cha là thợ bạc, mẹ là thợ may. Vì vậy, ông phải làm việc từ lúc mới 12 tuổi để kiếm thêm tiền đi học. Năm 1949, ông mua một vé tàu hạng ba đi Pháp để du học. Tại Paris, ông làm bồi bàn tại tiệm ăn La Table du Madarin và kết thân với một sinh viên Việt Nam khác cũng đang làm bồi bàn tại đây là Nguyễn Ngọc Huy, người sẽ sát cánh cùng ông trong các hoạt động chính trị sau này. Sau khi đạt học vị Tiến sĩ Luật và Tiến sĩ Chính trị học vào năm 1960 và Bằng Giảng dạy đại học (Agrégation) (3) về công pháp vào năm 1962, ông về nước vào tháng 1/1963 theo lời mời của chính quyền Ngô Đình Diệm để giảng dạy tại Phân Khoa Luật - Viện Ðại Học Sài Gòn. Trước khi về nước, ông đã hứa hôn với một nữ sinh viên tên là Lê Thị Thu Vân, người mà ông sẽ cưới làm vợ vào năm 1964. Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền mới bổ nhiệm ông làm Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh có chức năng đào tạo các công chức trung, cao cấp.

Về tiêu chí thứ nhất, Giáo sư Bông là một người chống Cộng có bài bản.
Thời điểm ông về nước, chính quyền Ngô Đình Diệm đang đàn áp dữ dội phe đối lập với việc truy cứu hình sự nhiều người trong số 18 chính khách chống Cộng thuộc Khối Tự do Tiến bộ (gọi tắt là Cấp Tiến), còn gọi là Nhóm Caravelle, Nguyễn Tường Tam, tức nhà văn Nhất Linh… do ủng hộ cuộc đảo chính ngày 11.11.1960 của nhóm sĩ quan Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông. Ngày 7/7/1963, trước khi quyên sinh để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ông ra xét xử, Nguyễn Tường Tam viết trong di chúc: “Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản".

Đồng quan điểm chống độc tài gắn với chống Cộng nêu trên của vị cựu thủ lĩnh Tự Lực Văn Đoàn, Giáo sư Bông cho rằng sự tồn tại của đối lập chính trị mới giúp chống được Cộng sản. Trong bài thuyết giảng “Vấn đề đối lập trong chánh thể dân chủ” nhân lễ khai giảng 1/8 cùng năm tại Trường Luật, ông nhấn mạnh: “… vì thiếu đối lập mà cộng sản và những phần tử dân chủ đoạt mất chánh nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn, than phiền của quần chúng.
Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chánh quyền và nhân dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách ôn hòa, để cho những phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra”.
Sau bài thuyết giảng này, theo bà Jackie Bông, Giáo sư Bông đã phải liên tục thay đổi chỗ ngủ trong một thời gian vì sợ mật vụ của ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn của Tổng thống Diệm, hãm hại.

Cũng bởi tầm quan trọng có tính sinh tử của đối lập chính trị trong cuộc chiến chống Cộng sản mà Giáo sư Bông đã dành hẳn một chương, Chương IV, Thiên thứ ba, cho vấn đề này trong giáo trình “Luật Hiến pháp và chính trị học”. Tuy nhiên theo ông, để có đối lập chính trị thì phải có hệ thống đa đảng vì hệ thống độc đảng triệt tiêu nó. Ở phần “Chính đảng” của giáo trình này, ông viết: “Với một chính đảng duy nhất – dù trên Hiến pháp phân quyền được ấn định – nguyên tắc này chỉ là hư ảo vì Hành pháp và Lập pháp chỉ là thừa hành mệnh lệnh của trung ương đảng bộ. Chính phủ gồm toàn nhân viên cao cấp của đảng, còn Quốc hội là cán bộ của đảng chỉ biết hoan hô. Đại hội của đảng có một tầm quan trọng gấp trăm lần phiên họp của Quốc hội. Đối lập – lẽ dĩ nhiên – không thành vấn đề. Vì chỉ có một chính đảng được phép công khai hoạt động. Không những không có chính đảng đối lập mà cũng không có đối lập trong chính đảng duy nhất ấy”. Tóm lại, Giáo sư Bông cổ súy hệ thống đa đảng cũng là nhằm chống Cộng sản.

Đối tượng tác động của ông không chỉ là sinh viên mà còn, và nhất là, bản thân thể chế chính trị. Đầu tháng 3 năm 1967, ông đã cho xuất bản thành sách giáo trình nói trên với cùng tiêu đề nhằm ảnh hưởng trực tiếp đến việc soạn thảo Hiến pháp cho Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa. Kết quả là Hiến pháp được ban hành sau đó 1 tháng đã quy định “Chính Đảng và Đối Lập” tại Chương VII.

Vẫn theo Giáo sư Bông, để chống Cộng thành công, chính quyền phải lôi kéo được dân đi với chính quyền. Trong bài “Vai trò chánh đảng và cuộc sinh hoạt chính trị tại Việt Nam Cộng hòa”, ông viết:
“Đa số quần chúng ở với ta nhưng vẫn chưa theo ta. Trong lúc đó, ở vùng Cộng sản kiểm soát sự tham gia của dân chúng vào guồng máy đấu tranh là một điều bắt buộc, dưới hình thức này hay hình thức khác, với mọi phương tiện và thủ đoạn. Cộng sản huy động mọi tầng lớp nhân dân cùng chiến đấu với họ. Đối với Cộng sản bất cứ ai cũng không thể đứng ngoài cuộc tranh chấp. Và giải pháp của vấn đề không phải chỉ có phát gạo, phát đường, mà phải còn đặt nặng vấn đề chính trị, củng cố lập trường, cùng ý thức hệ…Xây dựng nông thôn, tranh thủ nhơn tâm, trước hết là xậy dựng tư tưởng chính trị, tranh thủ quần chúng chấp nhận xã hội ta, chế độ ta”. Và để lôi kéo được dân, Giáo sư Bông chủ trương “chính trị hóa sinh hoạt” của bộ máy chính quyền, biến từng viên chức chính quyền thành “cán bộ chính trị”.

1,030

Thursday, November 14th 2019, 7:28pm

Cũng cần nói thêm rằng phương pháp “dân vận” này của Giáo sư Bông hoàn toàn khớp với mục tiêu “bình định nông thôn” (pacification) bằng phương thức tình báo của người đứng đầu CORDS. Thực vậy, Komer tổ chức các “Đoàn cán bộ xây dựng nông thôn" được trang bị vũ khí nhẹ, còn gọi là “Đội quân áo đen” và thực hiện "ba cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với dân, nhất là với những nhà có người tập kết ra Bắc hoặc thoát ly theo Cộng sản, để phát hiện và tiêu diệt “Cộng sản nằm vùng”. Cũng như vậy, phương pháp này của Giáo sư Bông hoàn toàn phù hợp với “chiến tranh toàn diện” gồm cả hành quân, bình định và gia tăng năng lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa của Đại tướng Abrams.

Về tiêu chí thứ hai, Giáo sư Bông có một loạt lợi thế để tập hợp lực lượng và tạo đoàn kết cả trong và ngoài chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Là Giám đốc Học viện quốc gia hành chính, chắc chắn ông có được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các học trò của ông đang và sẽ nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương. Là một trí thức nổi tiếng chống độc tài và cổ súy cho đảng chính trị và hệ thống đa đảng, điều được thể hiện rõ qua các tác phẩm đã dẫn ở trên của ông, Giáo sư Bông dễ có được sự hợp tác của các đảng phái hơn bất cứ ai khác.
Sự liêm khiết của Giáo sư Bông cũng là một thế mạnh nữa của ông trong bối cảnh chính quyền Sài gòn bị ngay người Mỹ nhận định tham nhũng trầm trọng (4). Ông Hoàng Đức Nhã cũng khẳng định: “Không có gì phải nghi vấn về sự trong sạch của Giáo sư Bông”. Phẩm chất này của ông hẳn sẽ giúp xây dựng được một chính quyền “sạch” hơn để tranh thủ dân chúng một khi ông tham gia Chính phủ.
Tóm lại, uy tín của Giáo sư Bông chẳng những có thể mang lại cho Việt Nam Cộng hòa tính chính danh trong mắt của đa số người dân miền Nam mà quan trọng hơn, có thể giúp chính thể này chiến thắng trong viễn cảnh tổng tuyển cử để định ra chính quyền tương lai cho Nam Việt Nam mà Hội nghị Paris đang bàn tới.

Về tiêu chí thứ ba, Giáo sư Bông đã tìm ra phương thức khả dĩ giúp Việt Nam Cộng hòa trụ vững trong cuộc chiến một khi Mỹ rút quân. Đó chính là công tác chính trị. Vẫn trong bài “Vai trò chánh đảng và cuộc sinh hoạt chính trị tại Việt Nam Cộng hòa”, ông viết: ”Chính trị hóa sinh hoạt còn có nghĩa nung đúc tinh thần chiến đấu…Chỉ có tinh thần mới có thể giúp ta tự lực, tránh cho ta thái độ ỷ lại vào người. Nếu ngoại viện là điều cần thiết trong giai đoạn hiên tại thì chính vì ngoại viện ấy mà chúng ta càng phải mau mau phát động ý chí tự lực, tự cường hầu có thể chịu đựng khi không còn ngoại viện”.
Cũng như vậy, trong bài “Mặt trận quân sự” viết trong bối cảnh Hội nghị Paris về Việt Nam đã được tiến hành, ông chủ trương “phát triển triệt để chiến tranh chính trị trong quân đội” với giải thích: ”Thực vậy, sự rút quân của đồng minh sẽ tạo một khủng hoảng tâm lý quan trọng cho quân đội Việt Nam. Ngành tâm lý chiến phải đánh tan mặc cảm bị bỏ rơi, thái độ ỷ lại, tinh thần chủ bại, tâm lý ngạo khó, ngán địch, đồng thời phát huy mạnh mẽ ý chí tự lực, tự cường, tự túc, nâng cao tinh thần tự vệ và đoàn kết với nhơn dân để tiêu diệt địch trong nhơn dân”.

Nói cho đúng, Bunker có được Giáo sư Bông như một lựa chọn hoàn hảo cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” chính là nhờ người tiền nhiệm: Henry Cabot Lodge. Thực vậy, vị cựu Thượng nghị sĩ bang Massachusetts này đã phát hiện ở Giáo sư Bông một chính khách có bản lĩnh, và hơn thế nữa, một thủ lĩnh đối lập tiềm tàng qua bài thuyết giảng “Vấn đề đối lập trong chánh thể dân chủ” của ông. Bảo trợ và gây dựng vị thế cho vị giáo sư Trường Luật này vì vậy là chuyện không phải bàn cãi đối với Cabot Lodge, vốn được Tổng thống Kennedy cử sang Nam Việt Nam để chấm dứt chế độ Ngô Đình Diệm đang gây phương hại nghiêm trọng cho cuộc chiến chống Cộng sản của Mỹ tại đây (5).
Điều này giải thích vì sao Hội đồng Quân nhân Cách mạng đã bổ nhiệm Giáo sư Bông làm người đứng đầu Học viện Quốc gia Hành chánh ngay sau cuộc đảo chính sát hại ông Diệm cùng bào đệ là ông Nhu mà Cabot Lodge là người trực tiếp đứng đằng sau.
Sự bảo trợ chính trị này không hề kín đáo, ngược lại là khác. Bà Jackie Bông kể: “Đại sứ Cabot Lodge luôn mời anh Bông và tôi dự các buổi tiếp tân của Đại sứ quán, và nhất là dành cho tôi ghế danh dự, bên tay mặt ông, trong khi anh Bông tuyệt nhiên không phải là quan chức cao cấp. Ông ấy còn đến đám tang Khánh em trai tôi, chỉ là một trung úy tử trận”.

Chú thích:
(1), (2) Ngẫm lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam” (In Retrospect: The Tragedy and Lesson of Vietnam), Robert S.McNamara, Times Books,1995.
(3) "Agrégation" là bằng cần có để giảng dạy Đại học ở Pháp, người có bằng này được gọi là “agrégé”. Ngược lại, “Capes” (Certificat d’Aptitude au Professorat de l’Enseignement du Second degré) là bằng cần có để giảng dạy trung học. Trong hệ thống giáo dục miền Nam Việt Nam trước 1975, “Agrégation” được dịch là “Thạc sĩ”. Trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay, “Thạc sĩ” là học vị trên Cử nhân và dưới Tiến sĩ, tương đương “Maitrise” (Pháp) hay Master (Anh, Mỹ). Để tránh nhầm lẫn, theo tác giả bài viết này, “Agrégation” cần được dịch là “Bằng Giảng dạy đại học”. Cũng như vậy, “Capes” cần được dịch là “Bằng Giảng dạy trung học”.
(4) Theo nhà báo Mỹ William J. Lederer, kẻ thù tồi tệ nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là nạn tham nhũng của Việt Nam Cộng hòa; hàng tỷ USD viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ bị quan chức tham ô rồi bán ra chợ đen.
(5) Tổng thống Ngô Đình Diệm không chỉ cai trị theo lối gia đình trị, đàn áp Phật giáo gây phẫn nộ lớn cả trong chính quyền và quân đội lẫn ngoài xã hội mà còn muốn độc lập với Mỹ và thỏa hiệp với Cộng sản. Khi Đại sứ Frederick Nolting đề nghị để cho Hoa Kỳ chia sẻ những quyết định về Chính trị, Quân sự và Kinh tế, ông Diệm trả lời rằng "chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ". Theo ông Cao Xuân Vỹ, phụ tá của Cố vấn Ngô Đình Nhu, vào tháng 2 năm 1963, ông Nhu mượn cớ đi săn cọp ở khu rừng Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy, để bí mật gặp Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị Đảng Lao Động Việt Nam. Thông tin này là có cơ sở vì Phạm Hùng giữ chức Trưởng Ban Thống nhất thuộc Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (từ 1958 đến 1966), cơ quan này có chức năng nghiên cứu và triển khai thống nhất hai miền Bắc-Nam Việt Nam bằng phương pháp hòa bình

1,031

Saturday, November 16th 2019, 7:30am

Bổ nhiệm định mệnh
Để chuẩn bị cho việc Giáo sư Bông chấp chính trong đường hướng “Việt Nam hóa chiến tranh”, Đại sứ Bunker hẳn đã đề nghị ông lập đảng để tạo hậu thuẫn chính trị (6). Kết quả là vào mùa xuân năm 1969, Giáo sư Bông đã cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Tổng thư ký Đảng Tân Đại Việt và là bạn cố tri, cựu giáo sư tại Học viện Quốc gia hành chính, lập ra Phong trào quốc gia cấp tiến (7) sau chừng gần nửa năm chuẩn bị. Bà Jackie Bông khẳng định: “Những gì Phong trào quốc gia cấp tiến thực sự đòi hỏi, đương nhiên là tìm một sách lược chiến thắng cộng sản, đề nghị một giải pháp dứt trừ tham nhũng và những hành vi quá trớn của các chính phủ quân nhân liên tiếp đã cai trị đất nước, sau khi ám sát Tổng thống Diệm”. Vẫn theo bà, có nhiều giáo sư của Học viện Quốc gia Hành chánh tham gia Phong trào, như Tạ Văn Tài, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Huệ…

Vẫn với sự hỗ trợ đắc lực của “Người giải quyết rắc rối”, Giáo sư Bông đã bành trướng Phong trào quốc gia cấp tiến không chỉ ở các khu vực thành thị mà còn cả nông thôn. Bà Jackie Bông nhớ lại: “Anh Bông hay xuống làng, xã, cùng ăn cùng ở, thậm chí nằm trên đất cùng chủ nhà. Những lần như vậy đều có nhân viên của bộ phận chính trị Tòa Đại sứ Mỹ đi cùng. Anh Bông nằm đất thì họ cũng nằm đất”. Cựu dân biểu Nguyễn Văn Tiết, người thường xuyên đi cùng Giáo sư Bông xuống địa phương, cho biết: “Phong trào quốc gia cấp tiến phát triển và lớn mạnh nhanh chóng, chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày ra mắt, hầu hết các tỉnh, thị xã và các xã quan trọng trên toàn miền Nam đều có cơ sở, tổ chức của Phong trào”. Với khẩu hiệu “Chống Cộng và chống hối lộ”, Phong trào Quốc gia Cấp tiến cùng với Đảng Tân Đại Việt đã giành được 21/159 ghế tại Hạ viện sau cuộc bầu cử tổ chức vào tháng 8/1971, một con số đáng kể trong bối cảnh có tới 9 đảng phái có chân trong cơ quan lập pháp.

Bà Jackie Bông kể: “Khoảng đầu năm 1970, ông Martin Herz, Tham tán chánh trị Đại sứ quán Mỹ, tức người quan trọng thứ ba sau Đại sứ và Phó Đại sứ, mời cơm vợ chồng tôi và ông Hoàng Đức Nhã, Bí thư và là “cánh tay mặt” của Tổng thống Thiệu (8 ). Sau khi bàn luận về tình hình chánh trị ở Nam Việt Nam, ông Herz hỏi thẳng ông Nhã: “Nếu Tổng thống Thiệu mời Giáo sư Bông với tư cách lãnh tụ Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến lập một chánh phủ liên hiệp (coalition government) để có nhiều sức mạnh chống lại Cộng sản thì ông Nhã nghĩ sao?”. Ông Nhã liền trả lời: “Nếu Giáo sư Bông vào chánh phủ thì thì chúng tôi (chánh phủ Thiệu) sẽ ra và lập khối đối lập để chống lại”. Phản ứng này của ông Nhã, người đã học tại Đại học Pittsburgh, không làm anh Bông và tôi ngạc nhiên. Chúng tôi đã nghe nói ông Nhã từng tuyên bố: “Những người học bên Tây (Pháp) là bỏ thùng rác. Bây giờ là thời (era) của những người học bên Mỹ”.
Khi chia tay, ông Herz buồn phiền nói với chúng tôi: ”Sao người Việt không biết bắt tay nhau để cùng đấu tranh chống Công Sản trong lúc tình hình miền Nam lâm nguy?!”
Với tư cách là người bảo trợ cho “Giải pháp Nguyễn Văn Bông”, lẽ dĩ nhiên Bunker không chịu lùi bước. Chuyến ghé Sài Gòn trên đường bí mật đi Trung Quốc vào đầu tháng 7/1971 của Kissinger, Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, sẽ áp đặt giải pháp chính trị này cho Tổng thống Thiệu.

Ông Hoàng Đức Nhã kể: “Ngay khi đến Sài Gòn, ông Kissinger gặp Tổng thống Thiệu. Với tư cách Bí thư của Tổng thống tôi cũng có mặt trong buổi gặp. Ông Kissinger nhấn mạnh đến việc Việt Nam Cộng hòa phải chuẩn bị thật tốt cho đấu tranh chính trị trong bối cảnh Hội nghị Paris đang bàn về tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam. Tổng thống Thiệu và tôi đều hiểu ẩn ý của ông Kissinger là Việt Nam Cộng hòa phải cải tổ nội các, cụ thể thế nào thì Đại sứ Bunker sẽ bàn”.

Về phần mình, bà Jackie Bông cho biết: “Sau khi ông Kissinger gặp bốn nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa gồm Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại sứ Bunker tổ chức một bữa tiệc tại Đại sứ quán Mỹ để ông Kissinger tiếp anh Bông với tư cách lãnh tụ một đảng đối lập - Phong trào quốc gia cấp tiến và tôi với tư cách vợ anh Bông. Ông Kissinger và anh Bông đã nói chuyện riêng với nhau”. Còn theo cựu Bộ trưởng Đoàn Bá Cang, Giáo sư Bông có kể với ông rằng trong cuộc gặp đó cũng như những lần gặp trước đó với Kissinger, Giáo sư Bông luôn khẳng định các chức vụ hành chính quan trọng phải được giao cho dân sự để cải tổ chính quyền thành công (9).

Cuối cùng, việc gì phải đến đã đến. Trong hồi ký “Mây mùa thu”, bà Jackie Bông viết: “Ngày 9 tháng 11, Tổng thống Thiệu gửi một phái viên, người anh của Tổng thống, Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ ở Đài Loan, đến nhà chúng tôi để thảo luận. Anh Bông đoán ông Kiểu muốn cái gì, vì thế mới mời ông ta ở lại dùng cơm trưa. Sau khi ăn cơm xong anh Bông nói với tôi rằng ảnh đã chấp thuận làm Thủ tướng cho Tổng thống Thiệu”. “Trong vòng 15 phút sau khi anh ông Thiệu từ nhà chúng tôi ra về - Bà Jackie Bông viết tiếp - báo chí được biết nhờ tin lọt ra, khởi sự gọi điện thoại anh Bông để xin xác nhận việc anh được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Anh Bông từ chối không bốc điện thoại lên, và bảo tôi trả lời, nói rằng tốt hơn là để Tổng thống Thiệu loan báo chính thức sự bổ nhiệm cho truyền thông và dân chúng Việt Nam. Nhưng khi François Nivolon, phóng viên tờ báo France Soir (thực ra là Le Figaro -CHHV) cũng là người bạn tốt gọi đến, tôi đưa điện thoại cho anh Bông. Bị hỏi dồn, anh Bông xác nhận việc bổ nhiệm”.

Được hỏi do đâu mà Giáo sư Bông “đoán được ông Kiểu muốn gì”, bà Jackie Bông nói: “Vì báo chí đã ầm lên về việc anh Bông sẽ là Thủ tướng sắp tới sau cuộc gặp riêng giữa ông Kissinger và ảnh”. Thật ra, Giáo sư Bông biết rất rõ cuộc đến thăm của ông Kiểu chỉ là “long trọng hóa” thỏa thuận đã đạt được giữa Tổng thống Thiệu và ông. Điều bất ngờ và không kém phần thú vị là thỏa thuận đó lại được xúc tiến bởi chính nhân vật đã “dọa” sẽ làm “đối lập” với Giáo sư Bông nếu ông lập chính phủ.

Ông Hoàng Đức Nhã kể: “Ngay sau chuyến thăm của ông Kissinger vào đầu tháng 7/1971, Tổng thống Thiệu cử tôi làm đại diện Tổng thống đi gặp Giáo sư Bông để mời ông ấy với tư cách lãnh tụ Phong trào Quốc Gia Cấp tiến làm Thủ tướng trong bối cảnh “vừa đánh vừa đàm“ với Cộng sản. Thực ra trước đó ông Thiệu đã nhờ ông Trần Quốc Bửu, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam và cũng là Chủ tịch Đảng Công Nông Việt Nam, đứng ra tập hợp các đảng phái để lập một chính phủ liên hiệp nhưng sau chừng 4, 5 tháng thì ông Bửu nói là không làm nổi. Tôi đã có dịp làm việc với Giáo sư Bông vào khoảng cuối 1969, đầu 1970. Khi đó, một đài truyền hình Pháp đề nghị tổ chức tại Paris một cuộc gặp giữa hai phe Quốc gia và Cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Họ yêu cầu phái đoàn Việt Nam Cộng hòa gồm cả người của chính quyền lẫn người đại diện các đảng phái. Tôi được Tổng thống Thiệu chỉ định đại diện cho chính quyền còn Giáo sư Bông thì do các đảng phái cử ra”.

“Tôi gọi điện cho Giáo sư Bông đang có mặt ở Học viện Hành chính Quốc gia - ông Nhã kể tiếp - và đề nghị gặp riêng tại nhà ông nhưng không vào giờ cơm trưa. Đầu giờ chiều ngày 10 /7, tôi đến gặp Giáo sư Bông như đã hẹn và tiếp đó thảo luận với ông khoảng 2 tiếng. Giáo sư Bông nhận lời mời làm Thủ tướng nhưng đề nghị cho ông ấy đưa hết bộ tham mưu của mình ở Học viện Quốc gia Hành chánh vào chính phủ. Tôi không chịu, nói: “Một vài người thì được chứ anh mang hết người của anh ở Học viện đi thì lấy ai giảng dạy. Đâu có thể lấy các giáo sư nơi khác về để làm lại từ đầu cả một nền tảng Quốc gia Hành chánh. Nếu có trình Tổng thống ý kiến này của anh thì tôi cũng sẽ bác. Còn về thành lập nội các thì trừ Tổng trưởng bốn bộ - Ngoại giao, Quốc Phòng, Nội vụ và Thông tin – do Tổng thống quyết định, các thành viên nội các khác sẽ do anh chọn và về nguyên tắc Tổng thống sẽ chấp thuận. Nhân đây tôi cũng nói với anh rằng Tổng thống muốn có trong nội các những người trẻ tuổi nhưng học ở nước khác ngoài Pháp”.
Cuối cùng Giáo sư Bông cũng đồng ý với tôi. Hai hôm sau, tôi gặp ông ấy một lần nữa để chốt thỏa thuận. Phải nói Giáo sư Bông là một người rất kín đáo. Tóm lại, chính tôi là người bắt đầu và hoàn tất việc bàn thảo với Giáo sư Bông về việc bổ nhiệm ông ấy làm Thủ tướng”. “Còn ông Kiểu – ông Nhã nói thêm – ông ấy là Đại sứ tại Đài Loan nên chủ yếu ở nước ngoài. Việc Tổng thống Thiệu cử ông Kiểu đến gặp anh Bông khi mọi việc đã được định đoạt cốt lấy tiếng trong nước cho ông Kiểu mà thôi”.

Bất luận thế nào, việc Giáo sư Bông chính thức nắm chức Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa chỉ là vấn đề ngày một, ngày hai. Vậy mà, chỉ hơn 24 tiếng đồng hồ sau cuộc đến thăm của phái viên của Tổng thống Thiệu cùng với xác nhận của vị thủ lĩnh Phong trào Quốc gia Cấp tiến về việc bổ nhiệm này với báo giới, vụ nổ tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản giữa Đô thành Sài Gòn đã làm mọi toan tính chiến lược của cả chính quyền Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa với “Giái pháp Nguyễn Văn Bông” tan thành khói – theo đúng nghĩa đen của từ này!

1,032

Monday, November 18th 2019, 4:24am

Chú thích:

(6) Nhiều tài liệu đáng tin cậy cho thấy Đại sứ Mỹ Bunker có lối đặt vấn đề không úp mở nhằm tạo chuyển biến trên chính trường Việt Nam Cộng hòa.
Trong hồi ký “Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào?”, Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống và Chủ tịch Ủy ban hành pháp (Thủ Tướng) Việt Nam Cộng hòa, viết: “Một buổi chiều, Đại sứ Bunker đến nhà tôi trong căn cứ không quân và nói với tôi: "Bầu cử và độc diễn thì không phải là tấm gương tốt cho thế giới". Ông ta còn xung phong kiếm tiền cho tôi vận động bầu cử, chắc hẳn ông ta thừa biết tôi chẳng có hy vọng gì trúng cử, nhưng có lẽ người Mỹ nghĩ rằng nếu phải tổn phí mà tạo được một cái vỏ ngoài bầu cử tự do thì cũng đáng đồng tiền. CIA cũng làm áp lực để tôi phải ra tranh cử, nhưng tôi trả lời họ như tôi đã trả lời Đại sứ Bunker: "Không thể được. Thiệu nắm chắc quá, và nhất định sẽ không chịu để cho tôi trúng cử ".
Frank Snepp, cựu chuyên gia phân tích chiến lược của CIA tại Sài Gòn có nhận định tương tự trong hồi ký “Cuộc tháo chạy tán loạn” (Decent Interval). Ông viết: “Bunker sử dụng mánh khóe sở trường để hối lộ nhân vật đối lập ôn hòa là Tướng Dương Văn Minh để ông này tiếp tục vai trò người tranh cử.Cuộc dàn dựng có thể thành công nếu như cuối cùng Minh không tính ra rằng 3 triệu Dollars vận động cũng chỉ đưa tới một kết quả chắc chắn thất cử”.
(7) Vì Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là Tổng thư ký Đảng Tân Đại Việt nên nhiều tài liệu cho rằng Phong trào Quốc gia Cấp tiến là tổ chức ngoại vi của đảng này. Bà Jackie Bông phủ nhận điều này, cho rằng đây là hai tổ chức chính trị độc lập, nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau. Theo Hoài Sơn, tác giả bài “Cảm Nghĩ Nhân Kỷ Niệm Lần 49 Ngày Thành Lập Đảng Tân Đại Việt” đăng trên trang điện tử “Đảng Tân Đại Việt” ngày 10/02/2014, Giáo sư Huy nhận thấy Đảng Tân Đại Việt chỉ là đảng cán bộ chứ không phải đảng đại chúng nên ông đến trình bày với Giáo sư Bông để cùng nhau lập ra. Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến qui tụ 3 thành phần chính là dân cử, chuyên viên trí thức, và đảng phái, tôn giáo.
Theo tác giả bài viết này, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến giống như một công ty có hai cổ đông: Giáo sư Bông và Đảng Tân Đại Việt. Đảng Tân Đại Việt góp “vốn” bằng nhân sự còn “vốn” của Giáo sư Bông là uy tín chính trị của bản thân ông. Tóm lại, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến không do một mình Đảng Tân Đại Việt lập ra và vì vậy không thể là tổ chức ngoại vi của đảng này. Để so sánh, Việt Minh thực sự là tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản Đông Dương vì được thành lập theo Quyết nghị ngày 19/5/1941 của Hội nghị lần thứ VIII, Khóa I của đảng này, các thành viên Tổng bộ Việt Minh đều là đảng viên cộng sản cao cấp, bao gồm cả Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh sau này). Nói cách khác, Giáo sư Bông là lý do tồn tại của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến. Điều này giải thích vì sao tổ chức này đi vào thoái trào sau khi ông bị ám sát vào ngày 10/11/1971 để cuối cùng, vào năm 1973, nhập vào Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội do Tổng thống Việt nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu lập ra năm 1969 trên cơ sở Đảng Dân chủ cũng do chính ông Thiệu lập ra năm 1967 để tranh cử trong cuộc bầu cử Tổng thống cùng năm.
(8 ) Hoàng Đức Nhã, sinh năm 1942 tại tỉnh Ninh Thuận, là em họ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi đậu Kỹ sư điện tại Đại học Pittsburgh (Mỹ) vào năm 1966, ông về Sài Gòn tham chính. Ông là Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của Tổng thống Thiệu từ năm 1968 và Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi từ tháng 4/1973. Trong bài “Hoàng Đức Nhã, người phát ngôn mới của Sài Gòn” (Saigon's New Chief Spokesman Hoang Duc Nha) đăng trên New York Times ngày 1/1/1973, nhà báo Fox Butterfield đánh giá ông Nhã, 31 tuổi, bà con với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, là “người có quyền hành nhất sau Tổng thống” (the most powerful man in the country after the President). Vẫn theo nhà báo này, "ông Nhã nhúng tay vào mọi chuyện, từ giúp viết diễn văn cho ông Thiệu đến bổ nhiệm các đại sứ và thuyên chuyển các tướng lĩnh...Trên thực tế, ông Nhã dường như tổng hợp các vai trò ở Washington của ông Kissinger, Ronald L. Ziegler, phát ngôn viên Nhà Trắng và Charles G. (Bebe) Rebozo, người bạn thân nhất của Tổng thống Nixon". Về phần mình, Henry Kissinger có một cái nhìn hoàn toàn tiêu cực về ông Nhã khi dùng các từ "quá đáng" (outrageous), kinh khủng (egregious), "đáng ghét" (obnoxious), "mưu mô“ (intrigue) để nói về ông.
Tóm lại, cứ theo nhận định của hai người Mỹ này, ông Hoàng Đức Nhã quả là “Ngô Đình Nhu Đệ Nhị” khi liên tưởng tới người em ruột và là Cố vấn của Tổng thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.
(9) Hồi ức về GS Nguyễn Văn Bông, Đoàn Bá Cang, Youtube, 10/8/2019.

Similar threads