You are not logged in.

Thông báo! Vì có nhiều người (hoặc Spam) dùng diễn đàn cho những quãng cáo riêng tư nên tạm thời Admin sẽ đóng lại chức năng tự động "Activate" của những thành viên mới và sẽ manually "Activate" new user. Quý vị nào đã đăng ký mà không sử dụng được diễn đàn xin vui lòng email hoặc private message. Thank you. Admin

Dear visitor, welcome to Welcome our forum!. If this is your first visit here, please read the Help. It explains in detail how this page works. To use all features of this page, you should consider registering. Please use the registration form, to register here or read more information about the registration process. If you are already registered, please login here.

161

Saturday, December 19th 2015, 5:09am

Đặng Tiểu Bình 'hiểu rõ lãnh đạo VN'
16 tháng 12 2015
BBC Tiếng Việt

Cuốn sách mới xuất bản của một sử gia người Anh hé lộ những chi tiết thú vị liên quan đến Việt Nam trong quan hệ Liên Xô-TQ thời cuối Chiến tranh Lạnh.

Sử gia Robert Service, người Anh, vừa ấn hành cuốn ‘End of the Cold War: 1985-1991’, khai thác những tài liệu trong văn khố Nga mà cho đến nay chưa ai biết.

Tuy nội dung cuốn này tập trung vào quan hệ Liên Xô-Mỹ, tác giả dành hẳn chương 33 nói về quan hệ Trung -Xô thời điểm ấy. Chương này mô tả những gì Tổng bí thư Mikhail Gorbachev, Eduard Shevardnadze (Ngoại trưởng Liên Xô), Đặng Tiểu Bình (Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc) và Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng bàn về Việt Nam.

Tác giả viết: “Ông Đặng không giấu giếm sự hoài nghi của mình về chính sách cải tổ (perestroika) của Liên Xô trong lúc Gorbachev thận trọng vì mối quan hệ với Washington có thể bị tổn hại nếu Moscow trở nên thân thiện với Bắc Kinh."

Khi Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu hợp tác, Gorbachev và Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô muốn duy trì cơ sở hạt nhân gần biên giới với Trung Quốc.

Tháng12/1988, Shevardnadze hoan nghênh Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham đến Moscow và hứa hẹn rằng Gorbachev muốn hai nước xích lại gần nhau. Đổi lại, ông Tiền cam đoan rằng Bắc Kinh muốn cải thiện quan hệ với Liên Xô. Ông đánh giá cao về lời đề nghị của Shevardnadze giúp đẩy quân đội Việt Nam ra khỏi Campuchia.

Trong một thời gian dài, Gorbachev che đậy sự bi quan về Việt Nam và nền kinh tế mà ông cho là có đến mười triệu người thất nghiệp. Ông muốn làm suy yếu mối quan hệ của Moscow với TP Hồ Chí Minh (đúng ra là Hà Nội, ghi chú của BBC), thay vào đó là ưu tiên việc hòa giải với Trung Quốc..

Trong một đoạn khác, Robert Service tiết lộ, Thủ tướng Lý Bằng gửi thông điệp đến Gorbachev rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ chấp nhận tình trạng phụ thuộc vào Liên Xô.

Gorbachev phủ nhận khả năng Liên Xô tận dụng Việt Nam để gây rắc rối cho Trung Quốc. Ông Lý tái khẳng định Trung Quốc muốn giữ vị trí độc lập và tránh vai trò 'đàn em' của Liên Xô.

Ông tuyên bố với Gorbachev rằng Trung Quốc và Liên Xô khó bình thường hóa quan hệ nếu Kremlin không thay đổi chính sách về Afghanistan và Campuchia.
Ông Lý mạnh miệng phản đối việc Moscow hậu thuẫn cho quân đội Việt Nam hiện diện trên lãnh thổ Campuchia.

'Phép thử'

...Shevardnadze thấy rằng Moscow cuối cùng sẽ phải lựa chọn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tình đồng chí giữa Liên Xô với Việt Nam thời điểm đó đang gặp trở ngại. Các nhà lãnh đạo Việt Nam phản đối khi Shevardnadze đề nghị thăm Campuchia. Shevardnadze đã không thể thuyết phục ông Lý về ý chân thành của Hà Nội rút quân tại Campuchia tháng 9/1989.


Ông Lý nói, Trung Quốc “hiểu rõ về Việt Nam hơn Liên Xô (hiểu)”. Bày tỏ sự không tin tưởng vào Hà Nội, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sẽ không có hòa bình tại Campuchia cho đến khi Việt Nam thực sự rút hết quân.
Trong thời điểm tiền đồng Việt Nam mất giá nghiêm trọng, điện Kremlin để ngỏ khả năng chấm dứt viện trợ cho Việt Nam. Nhưng điều này vẫn không thể khiến ông Đặng hài lòng. Ông Đặng cho rằng không ai hiểu giới lãnh đạo Việt Nam hơn ông ta.
Ông Đặng chống lại Việt Nam nhằm tiến tới thiết lập một Liên bang Đông Dương nằm dưới sự bảo trợ của họ.

Shevardnadze nhận ra rằng Trung Quốc dùng Việt Nam và Campuchia như phép thử sự chân thành của Liên Xô trong việc hàn gắn quan hệ. Shevardnadze sau đó ‘né’ thăm Việt Nam, như một chỉ dấu cho thấy lãnh đạo Liên Xô đã lựa chọn ưu tiên cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

This post has been edited 3 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 6:04pm)


162

Saturday, December 19th 2015, 5:29am

Đài Loan đáp trả cáo buộc của Việt Nam về Trường Sa
15.12.2015
VOA TiếngViệt
Theo CNA, Taipei Times, Focus Taiwan News Channel

Đài Loan tuyên bố rằng việc xây dựng của họ trên hòn đảo lớn nhất ở Trường Sa “không phải chuyện của nước khác”, sau khi Việt Nam chỉ trích Đài Bắc bất chấp quan ngại của mình, khi cử quan chức ra đảo Thái Bình mà người Việt gọi là Ba Bình.

Bộ Ngoại giao Đài Loan hôm 13/12 ra tuyên bố nói rằng theo luật pháp quốc tế, Đài Bắc có chủ quyền đối với biển Đông, trong đó có quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) và Tây Sa (tức Hoàng Sa) cũng như các vùng lãnh hải lân cận.

Cơ quan ngoại giao của Đài Loan nói thêm rằng chính quyền Đài Bắc nhiều năm qua đã triển khai binh sĩ tới hòn đảo; chưa từng có bất kỳ xung đột quân sự nào với bất kỳ ai cũng như chưa bao giờ cản trở lưu thông hàng hải và hàng không tại đảo Thái Bình.

Đài Bắc hôm 12/12 khánh thành một ngọn hải đăng và cầu cảng mới được tôn tạo lại trên hòn đảo này.
Đích thân Bộ trưởng Nội vụ Đài Loan Trần Uy Nhân đã tới dự lễ khánh thành trên hòn đảo có diện tích lớn nhất ở Trường Sa.

Sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Hải Bình, lên tiếng rằng việc Đài Loan “bất chấp quan ngại của Việt Nam, của các nước cũng như cộng đồng quốc tế, cử quan chức đến đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và tiếp tục tuyên bố đưa vào hoạt động một số công trình trên đảo là hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình tranh chấp ở Biển Đông”.

Ông Bình tuyên bố: “Việt Nam kiên quyết phản đối và mạnh mẽ bác bỏ hành động này” và “yêu cầu Đài Loan chấm dứt ngay những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam, không tái diễn các hành động tương tự”.

Bộ Ngoại giao Đài Loan cho rằng việc Hà Nội cáo buộc chuyến thị sát của ông Trần làm tổn hại tới hòa bình khu vực “không đúng thực tế, và đi ngược lại với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế”.

Bộ này cũng cho rằng việc Đài Loan nâng cấp hạ tầng cơ sở trên hòn đảo nhằm giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, và giúp hoàn tất nhiệm vụ của hòn đảo này là căn cứ nghiên cứu khoa học, cứu trợ khẩn cấp và bảo vệ môi trường.
Đài Loan trước đó cho biết sẽ “biến Thái Bình thành một hòn đảo hòa bình, trung tâm bảo tồn sinh thái và thải ít khí CO2 nhằm thực thi ‘Sáng kiến Hòa bình Nam hải’ của Tổng thống Mã Anh Cửu”.
Sáng kiến công bố hôm 26/5 dựa trên nguyên tắc “bỏ qua một bên các vấn đề chủ quyền” và “cùng nhau khai thác tài nguyên”.

Việt Nam hồi tháng Mười vừa qua đã phản đối việc Trung Quốc xây dựng hải đăng ở Hoàng Sa, coi đó là “sự xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam”.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 19th 2015, 5:37am)


163

Saturday, December 19th 2015, 5:52am

Bất chấp TQ, Mỹ bán tàu khu trục tên lửa điều khiển cho Đài Loan
15.12.2015
VOA TiếngViệt
Theo Reuters, Press TV

Chính quyền của Tổng thống Obama dự kiến sẽ chuẩn thuận việc bán 2 tàu khu trục tên lửa điều khiển cho Đài Loan nội trong tuần này, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, Reuters trích nguồn tin quốc hội Hoa Kỳ cho biết hôm thứ Hai.
Một phụ tá Quốc hội đảng Cộng hòa cho biết: “Chúng tôi đang chờ thông báo vào đầu tuần này,” trong khi một phụ tá Quốc hội khác nói thông báo dự kiến sẽ đưa ra “bất cứ lúc nào kể từ bây giờ”.

Động thái này diễn ra một năm sau khi Quốc hội Mỹ thông qua Luật Chuyển giao Hải quân vào tháng 12/2014, cho phép Mỹ bán 4 tàu khu trục lớp Perry cho Đài Loan.

Đài Loan dự kiến phải trả khoảng 176 triệu đôla cho 2 tàu khu trục và sẽ xem xét nhu cầu trước khi quyết định mua thêm 2 tàu nữa.

Một phát ngôn viên sứ quán Trung Quốc hôm thứ Sáu nói Trung Quốc “kiên quyết chống lại bất kỳ việc bán vũ khí nào từ Hoa Kỳ cho Đài Loan. Chúng tôi kêu gọi chính phủ Mỹ ngừng bán vũ khí cho Đài Loan để tránh làm tổn thương mối quan hệ Trung - Mỹ và sự phát triển hoà bình của mối quan hệ giữa hai bên eo biển”.

Thương vụ trên đánh dấu lần đầu tiên trong bốn năm Hoa Kỳ vận chuyển vũ khí cho Đài Loan, khoảng cách dài nhất trong các thương vụ về vũ khí giữa hai nước trong gần bốn thập kỷ.

Ông Eliot Engel, thành viên cao cấp Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, hồi tuần rồi lên tiếng kêu gọi bán vũ khí cho Đài Loan thường xuyên hơn, bất chấp tính nhạy cảm chính trị của Trung Quốc về vấn đề này.
Ông Engel nói:

“Không nên để mong muốn không làm phật lòng Bắc Kinh của chúng ta ảnh hưởng đến an ninh của Đài Loan”.

Hoa Kỳ cho biết sẽ bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc tìm cách thống nhất đảo quốc này bằng vũ lực.
Thương vụ bán vũ khí diễn ra trong bối cảnh căng thẳng đang tăng cao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.
Hoa Kỳ liên tục chỉ trích việc Bắc Kinh xây đảo nhân tạo nhằm khẳng định chủ quyền trong khu vực có tranh chấp ở Biển Đông. Washington gần đây đưa tàu khu trục tên lửa dẫn đường và máy bay B-52 tới tuần tra gần khu vực này, động thái đã khiến Bắc Kinh rất giận dữ.

Trung Quốc liên tục cáo buộc Washington can thiệp vào các vấn đề trong khu vực và cố tình khuấy động căng thẳng ở Biển Đông.

Lập trường của Washington về vấn đề Đài Loan đã gây ra vụ giằng co quân sự kéo dài nhiều thập niên giữa Trung Quốc và Mỹ.

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan chỉ mới trở lại bình thường kể từ khi Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu lên nắm quyền vào năm 2008.

164

Saturday, December 19th 2015, 5:57am

Việt Nam 'chuẩn bị đương đầu với TQ'
Greg Torode
Reuters, viết từ Việt Nam
18 tháng 12 2015

Quân đội Việt Nam đang tăng cường vũ trang để chuẩn bị nếu xảy ra xung đột với Trung Quốc sau một thập niên dài trên đường hiện đại hóa. Đây là đợt trang bị quân sự lớn nhất của Hà Nội kể từ đỉnh điểm cuộc chiến tranh Việt Nam.

Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là đánh đuổi người hàng xóm khổng lồ khi căng thẳng lên cao vì xung đột ngoài Biển Đông. Nếu mục tiêu này không đạt được, thì Việt Nam vẫn có thể tự vệ trên mọi mặt trận khác, các quan chức cao cấp và giới thạo tin nói với Reuters.

Chiến lược của Việt Nam đã vượt xa kế hoạch phòng ngự. Các đơn vị chủ chốt đã được đặt vào vị trí “sẵn sàng chiến đấu cao” – một tín hiệu cho thấy sẵn sàng cho việc bị tấn công bất ngờ. Cả Sư đoàn 308 tinh nhuệ trấn giữ vùng núi phía Bắc cũng được đặt vào tình trạng này.

Việt Nam và Trung Quốc từng có cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu năm 1979. Điểm bùng phát bây giờ có thể là Biển Đông, nơi cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

“Chúng tôi không muốn có xung đột với Trung Quốc và chúng tôi phải đặt niềm tin vào chính sách ngoại giao của mình.” - Một quan chức cao cấp của chính phủ Việt Nam đề nghị giấu tên cho Reuters biết. “Nhưng chúng tôi biết mình cần phải sẵn sàng cho điều tồi tệ nhất.”

Đáng chú ‎ ý hơn cả, Hà Nội đang xây dựng lực lượng phòng vệ hải quân rất lớn từ chỗ gần như không có gì, bằng việc mua sáu tàu ngầm lớp Kilo cao cấp từ Nga.
Trong vài tháng gần rồi, chiếc tàu ngầm đầu tiên đã bắt đầu tuần tra trên Biển Đông, các quan chức quân sự Việt Nam và nước ngoài cho biết, và đây là xác nhận đầu tiên về sự hiện diện của tàu ngầm Việt Nam trong vùng biển chiến lược.

Sư đoàn 308

Về mặt quân sự, có thể thấy phần nào không khí căng thẳng tại trụ sở Sư đoàn 308 phía tây bắc Hà Nội. Đây là đơn vị quân đội tinh nhuệ nhất của Việt Nam, nơi các tướng lãnh quân sự cao cấp liên tục nhắc đến việc “sẵn sàng chiến đấu cao”.
Cụm từ này được ghi trên bảng lớn bên dưới ảnh tên lửa và chân dung người sáng lập cách mạng Việt Nam, ông Hồ Chí Minh, cùng ảnh anh hùng quân đội huyền thoại, Tướng Võ Nguyên Giáp.
Nằm ở giữa vùng núi non hiểm trở phía bắc Việt Nam và những cánh đồng lúa cổ xưa của đồng bằng Sông Hồng, Sư đoàn 308 là đơn vị quân đội lâu đời nhất của Việt Nam và vẫn đang trấn giữ hiệu quả khu vực phía Bắc tiếp giáp Hà Nội.

Một quan chức cao cấp, Đại tá Lê Văn Hải [Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 308], nói ông không thể bình luận về Trung Quốc, cho thấy sự nhạy cảm của chủ đề này về mặt chính thống. Nhưng Việt Nam sẵn sàng đẩy lùi bất cứ lực lượng nước ngoài nào, ông nói với Reuters trong cuộc viếng thăm hiếm hoi của một phóng viên nước ngoài.

Ông Lê Văn Hải phát biểu: “Sẵn sàng chiến đấu là ưu tiên hàng đầu của sư đoàn, của Bộ Quốc phòng và của quốc gia. Chúng tôi có thể xử lý bất kỳ tình huống bất ngờ hoặc không mong đợi nào... Chúng tôi luôn sẵn sàng.”

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 19th 2015, 6:05am)


165

Sunday, December 20th 2015, 3:22pm

Bài giảng của TTg Lý Hiển Long về QHQT và CSĐN Singapore
Posted on 14/12/2015 by The Observer
Nguồn: PM Lee Hsien Loong at the 8th S Rajaratnam Lecture on 27 November 2015.
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Xin chào và xin chúc quý vị một buổi chiều tốt lành!

Vậy là chúng ta vừa mừng lễ kỷ niệm 50 năm ngày giành độc lập. Đây là lúc nhìn lại những thành tựu chúng ta đã đạt được, và hiểu điều gì đã khiến chúng ta thành công. Đồng thời, năm nay cũng sẽ là năm mà chúng ta cần phải vạch ra hướng đi cho tương lai của mình.

Việc tự đánh giá bản thân sẽ rất có ích cho quan hệ đối ngoại của chúng ta. Dù đây không phải là vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều người Singapore, vì chúng ta đang sống hòa bình và ổn định, cũng như có mối quan hệ thân thiện với hầu hết các nước.

Bộ Ngoại giao đã thực hiện rất tốt công việc của mình đến mức nhiều người khó nhận ra sự tồn tại của bộ này. Người ta quan tâm nhiều hơn đến những thứ có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ – như chuyện tàu điện thi thoảng bị hỏng, y tế, thi cử, hay việc làm.

Nhưng trong thực tế, chính sách đối ngoại có vai trò rất quan trọng đối với vị thế của chúng ta trên trường quốc tế, nó đảm bảo sự ổn định khu vực, tạo ra các điều kiện bên ngoài thuận lợi để nền kinh tế phát triển thịnh vượng, và đem đến cho chúng ta một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Khi so sánh với cách đây 50 năm, vị thế của Singapore hiện nay đã được cải thiện đáng kể. Singapore ngày nay là một quốc gia thành công và được tôn trọng. Chúng ta nắm giữ một vị trí cao trong cộng đồng quốc tế, và có những người bạn trên khắp thế giới. Điều này là nhờ vào công sức của nhiều thế hệ cán bộ ngoại giao, bắt đầu với Ngoại trưởng đầu tiên của chúng ta, ông S. Rajaratnam, người mà loạt bài giảng này đã vinh dự được đặt tên theo.

Thế giới ngày nay rất khác với thế giới của 50 năm trước.

Năm 1965, Chiến tranh Lạnh đang vào giai đoạn căng thẳng; nhưng giờ thì nó đã kết thúc lâu rồi. Đông Nam Á khi ấy là một khu vực đầy xung đột, với Chiến tranh Việt Nam là một điểm “nóng”; còn chính chúng ta thì phải trải qua thời kỳ Konfrontasi – một cuộc xung đột cường độ thấp giữa Malaysia và Indonesia.

Nhưng hôm nay, Đông Nam Á đã hòa bình trở lại, và ASEAN sẽ trở thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm nay. Trên cương vị một quốc gia, đất nước chúng ta hiện nay đã thịnh vượng và vững vàng hơn trước, và trên cương vị một dân tộc, ý thức về bản sắc, về chủ quyền quốc gia của chúng ta cũng mạnh hơn rất nhiều.

Nhưng một số nguyên tắc cơ bản về sự tồn tại của chúng ta không thay đổi.

Singapore sẽ luôn là một đất nước nhỏ bé trong một thế giới không ổn định, và đôi khi còn nguy hiểm.
Chúng ta vẫn bị bao quanh bởi các nước láng giềng lớn hơn, và nằm giữa khu vực Đông Nam Á. Khu vực này dù đã ổn định hơn và thịnh vượng hơn trước, nhưng nó vẫn là nơi mà các lợi ích của các cường quốc lớn giao thoa nhau, và là một khu vực đa dạng khó dự đoán hơn so với Bắc Mỹ, và cho tới gần đây là so với châu Âu.
Chúng ta vẫn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có trí thông minhnguồn dự trữ ngoại tệ mà chúng ta đã khó nhọc tích lũy nên, để đưa chúng ta qua những lúc khó khăn.

Sự thật này sẽ rất khó thay đổi trong một thời gian dài nữa.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 28th 2015, 6:52am)


166

Sunday, December 20th 2015, 3:22pm

Thực tế của các nước nhỏ

Các nước nhỏ như chúng ta phải không ngừng tự hỏi:

Làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo rằng chúng ta luôn tồn tại, và giữ vững lợi thế của mình?

Theo ngôn ngữ ngoại giao, quan hệ quốc tế dựa trên các nguyên tắc cao cả.

Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định sự “bình đẳng chủ quyền” giữa các quốc gia, và tuyên bố các nước phải “giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.”

Phong trào Không liên kết được dựa trên Năm Nguyên tắc Chung sống Hòa bình, thể hiện một khát vọng còn cao hơn nữa. Tôi không định kiểm tra kiến thức của các bạn, nhưng Năm nguyên tắc đó là:

- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau;
- Không xâm lược lẫn nhau;
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
- Bình đẳng và hợp tác vì lợi ích chung; và
- Chung sống hòa bình.

Đây là những khẳng định quan trọng, xác định các quy chuẩn của quan hệ giữa các quốc gia và luật pháp quốc tế.

Nhưng việc giải quyết các vấn đề quốc tế thường phản ánh một thực tế khắc nghiệt hơn nhiều.

Quyền lực sẽ quyết định nước nào chiếm ưu thế, và nước nào sẽ thiết lập chương trình nghị sự. Chính trị cường quyền chưa bao giờ biến mất, dù mọi thứ không hoàn toàn giống với luật rừng. Ngay tại Liên Hiệp Quốc, dù có các điều khoản trong Hiến chương, thì quyền lực vẫn là cốt lõi của ngoại giao.

Trong Hội Đồng Bảo An gồm 15 thành viên, chỉ nhóm P5 mới có quyền phủ quyết, còn 10 nước được bầu ra thì không. Ngay cả trong P5 cũng tồn tại một thứ bậc. Không phải mọi quyền phủ quyết đều có trọng lượng như nhau. Chúng ta đều biết rằng quyền phủ quyết của một số nước sẽ có giá trị hơn những nước khác, mặc dù nói về vấn đề này sẽ không được ngoại giao cho lắm. Nhưng sự thực là như vậy. Và hệ thống thứ bậc quyền lực này được thể hiện rõ ngay cả trong những điều nhỏ nhất.

Trong những bức ảnh chụp tại các cuộc họp quốc tế, người nào đứng ở đâu?
Nếu xem xét một cách cẩn thận, bạn sẽ thấy được câu chuyện ẩn đằng sau.

Ai sẽ là người phát biểu đầu tiên hoặc cuối cùng?
Điều đó phụ thuộc vào người nào được vị Chủ tọa quan tâm.

Hoặc nước nào mới có quyền chọn khách sạn mà đoàn đại biểu của họ sẽ ở lại?

Điều đó cũng phụ thuộc vào nước nào có sức thuyết phục lớn hơn.

Có lẽ đó là lý do tại sao người Trung Quốc lại nói “小 国 无 外交” (Xiǎoguó wú wàijiāo) – Tiểu quốc vô ngọai giao (Nước nhỏ không có chính sách đối ngoại) – bởi vì họ không thể định hình các sự kiện, mà chỉ có thể đi theo những gì đã được định đoạt trước.

Cũng có một câu nói tương tự như vậy ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, trong tác phẩm “Lịch sử Chiến tranh Peloponnese” của Thucydides. Đó là câu nói nổi tiếng:

Kẻ mạnh làm những điều họ có thể làm, và kẻ yếu phải gánh chịu những điều mà họ phải gánh chịu.

Bối cảnh mà câu cách ngôn này ra đời cũng đáng được xem xét. Cuộc chiến Peloponnese diễn ra giữa hai thành bang AthensSparta, cùng với các đồng minh của mỗi bên.
Athens là bá chủ của Liên minh Delos, một trong hai “siêu cường” trong thế giới các thành bang Hy Lạp cổ đại. Athens muốn buộc Melos, một đảo quốc yếu hơn, gia nhập Liên minh Delos. Vì vậy, họ đã gửi một đội quân sang xâm lược Melos, nhưng trước khi làm điều đó, họ đã gửi các đại biểu và các phái viên đến thuyết phục người Melos tự đầu hàng, nếu không sẽ bị hủy diệt. Melos là một hòn đảo nhỏ ở Biển Aegea.

Cuộc đối thoại ở Melos” của Thucydides mô tả lại những gì người Athens có lẽ đã nói, gồm những lập luận và hồi đáp. Đó là một phân tích về quyền lực và cân nhắc giữa hai bên. Người Melos đưa ra những tranh luận mang tính thực dụngluân lý, giải thích tại sao Athens không nên tấn công Melos. Nhưng phía
Athen
chỉ đáp lại một cách tàn bạo: “Kẻ mạnh làm những điều họ có thể làm, và kẻ yếu phải gánh chịu những điều mà họ phải gánh chịu.


Người Melos vẫn từ chối đầu hàng.
Kết quả là Athens đã quét sạch Melos, giết chết tất cả đàn ông, bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ.


Đó là câu chuyện của 2.400 năm trước, nhưng thực ra nó không hoàn toàn xa lạ trong thế giới hiện đại ngày nay.

Hãy nhớ lại những gì đã xảy ra khi Iraq xâm chiếm Kuwait, rồi hãy so sánh nó với những gì xảy ra gần đây, khi mà Nga sáp nhập Crimea. Sức mạnh có vai trò quan trọng.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 3:38pm)


167

Sunday, December 20th 2015, 6:51pm

Thúc đẩy lợi ích quốc gia

Dù là một nước nhỏ, nhưng Singapore đã từ chối chấp nhận đó là số phận của mình. Chúng ta quyết tâm làm chủ vận mệnh của chính mình. Chính sách đối ngoại của chúng ta là một sự cân bằng giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lý tưởng.
Chúng ta biết mình sẽ phải chấp nhận thế giới, theo một thực tế mà chúng ta chẳng hề mong muốn. Nhưng chúng ta tin rằng mình có thể, và sẽ phải bảo vệ bản thân và thúc đẩy lợi ích quốc gia.


Tất nhiên, chúng ta cần hiểu rõ đâu là lợi ích căn bản của mình, và thực ra những lợi ích này đã không thay đổi trong suốt 50 năm qua. Đó là: hòa bình thế giới; một trật tự quốc tế mà trong đó các nước tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế; thiết lập một mạng lưới bạn bè và đồng minh mà chúng ta có thể làm việc cùng; có được một khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, ổn định và an toàn; và cuối cùng là giữ gìn chủ quyền và quyền quyết định tương lai của chúng ta.

Làm thế nào Singapore có thể thúc đẩy các lợi ích quốc gia?

Tôi xin gửi các bạn một câu ngạn ngữ cổ Trung Quốc nữa – người Trung Quốc quả là đã giải quyết tất cả những vấn đề này từ lâu. Câu nói này trích từ cuốn “Đại Học,” một trong Tứ Thư của Nho giáo – “修身, 齐家, 治国, 天下” (Xiūshēn, qí jiā, zhìguó, píng tiānxià – Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).

Một người trước tiên phải biết tu dưỡng bản thân, thứ đến là chỉnh đốn gia đình, tiếp đó là thiết lập trật tự quốc gia, cuối cùng mới có thể khiến cho toàn thiên hạ thái bình, hạnh phúc. Đây là quan điểm Nho giáo về trị quốc, và nó nằm sâu trong tâm lý người Trung Quốc. Có sợi dây liên kết trực tiếp từ đạo đức cá nhân, đến gia đình, đến cộng đồng, và toàn thể thế giới.

Singapore là một xã hội hiện đại, nhưng chúng ta luôn cố gắng hết sức để duy trì các giá trị truyền thống và phù hợp với chúng ta, và câu nói trên là một sự đúc kết trí tuệ, gói gọn những gì chúng ta có thể suy nghĩ về việc thúc đẩy lợi ích quốc gia trên trường quốc tế. Một chính sách đối ngoại thành công phải dựa trên những gì chúng ta làm trong nước. Chúng ta trước tiên phải yên ổn trong nhà thì sau đó quan hệ đối ngoại của chúng ta mới có thể phát triển lớn mạnh được.
Tôi xin được giải thích cụ thể như sau:

- Đầu tiên, trên bình diện quốc tế, chúng ta phải là một thành viên chủ độngxây dựng, tìm cách mang lại các giá trị gia tăng (cho cộng đồng quốc tế) và làm cho đất nước chúng ta quan trọng với các nước khác.
- Thứ hai, trong khu vực, chúng ta phải tìm ra mục tiêu chung với các nước láng giềng.
- Thứ ba, Singapore phải tiếp tục là một dân tộc thành công, phải biết tận dụng bất kỳ ảnh hưởng nào ở nước ngoài.
- Thứ tư, sự thành công của Singapore, dù ở trong hay ngoài nước, đều phụ thuộc vào sự đoàn kết toàn dân, và có niềm tin vững chắc rằng Singapore sẽ đủ sức để trường tồn và nổi bật.

Một chủ thể mang tính xây dựng trên trường quốc tế

Đầu tiên, trên trường quốc tế, chúng ta phải là một nhân tố chủ độngmang tính xây dựng.
Ngoại giao bao gồm rất nhiều vấn đề, diễn ra trong hàng chục các diễn đàn.
Các nhà ngoại giao dường như dành tất cả thời gian của mình trong các cuộc họp, uống trà, hay gặp mặt – từ thời chiến đến thời bình, bàn về thương mại, bảo vệ môi trường, hợp tác văn hóa và xã hội, về gần như mọi lĩnh vực của đời sống con người.
Các nước nói chuyện với nhau, kinh doanh với nhau, và cố gắng tác động lẫn nhau.

Là một nước nhỏ, chúng ta không thể có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng chúng ta phải có mặt tại các diễn đàn chủ chốttrong những vấn đề quan trọng, ví dụ như Liên Hợp Quốc, WTO, APEC, nơi mà chúng ta có lợi ích bị ảnh hưởng.

Nhiều vấn đề trong số đó sẽ còn tiếp tục trong một thời gian rất dài. Các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu đã kéo dài suốt nhiều năm; các hiệp định thương mại đa phương – như Vòng đàm phán Doha – bắt đầu từ năm 2001 và có lẽ còn tiếp diễn một thời gian dài nữa. Đó là một quá trình dài, nhưng cứ theo định kỳ trong quá trình đó sẽ lại có những hội nghị quốc tế về các vấn đề này, và sau đó chúng ta có một đợt cao trào các hoạt động: những cuộc đàm phán căng thẳng, nguy cơ đổ vỡ và những thỏa thuận phút chót; những đêm không ngủ để dàn xếp ở giờ thứ 11, thậm chí là 13.

Với kịch bản này, chúng ta phải có tư duy chiến lược để duy trì chính sách và đường lối của mình trong nhiều năm, để bảo đảm lợi ích quốc gia, nhưng đồng thời vẫn có chiến thuật linh hoạt trong các hội nghịcác can dự khác, để gây ảnh hưởng ở mọi nơi mà chúng ta có thể, và trong mọi tình huống quan trọng với chúng ta.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 7:00pm)


168

Sunday, December 20th 2015, 7:03pm

Vậy chúng ta phải làm gì?

Đầu tiên, hãy tìm điểm chung với các nước khác, đặc biệt là với các nước nhỏ. Tiếng nói của từng nước có thể yếu, nhưng khi chung sức, tiếng nói của chúng ta sẽ được khuếch đại, và nó sẽ được lắng nghe.

Đó là lý do tại sao tại Liên Hiệp Quốc, chúng ta thành lập Diễn đàn các Nước nhỏ (Forum of Small States – FOSS). Chúng ta nhỏ nhưng lại rất đông. FOSS gồm các nước dưới 10 triệu dân. Tuy chỉ là một nhóm không chính thức, nhưng 105 thành viên của FOSS có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Các thành viên gặp nhau, thảo luận, hình thành các lập trường chung, chia sẻ kinh nghiệm và chiến lược.

Ngoài ra, còn một tổ chức khác mà chúng ta đã lập ra, đó là Nhóm Quản trị Toàn cầu (Global Governance Group). Đó là một liên minh không chính thức, do 30 nước nhỏ và vừa thành lập, nhằm trao đổi quan điểm về quản trị toàn cầu.

Quản trị toàn cầu nghĩa là gì? Đó là các vấn đề như: quy tắc tài chính, IMF và WB, các chính sách kinh tế, nhằm đưa chúng vào các tiến trình G20 và biến G20 thành một nhóm mang tính bao trùm, minh bạch và đại diện hơn. Tóm lại, điều đầu tiên chúng ta phải làm để gia tăng ảnh hưởng của mình là phải tìm ra “mục tiêu chung” với các nước khác.

Thứ hai là phải thường xuyên nhìn về phía trước, để dự đoán sự phát triển, để định vị bản thân, để bảo vệ lợi ích quốc gia, và để dự kiến các sự kiện sẽ diễn ra. Quan trọng nhất là trong những thời điểm bất ổn, khi không thể dự đoán được điều sẽ xảy ra, chúng ta buộc phải chuẩn bị cho nhiều tình huống.

Ví dụ, chúng ta đang bắt đầu thực hiện dự án liên chính phủ (Government-to-Government, G-to-G) thứ ba với Trung Quốc ở Trùng Khánh. Điều này sẽ đặt chúng ta tại một đầu trong “Một Vành đai, Một Con đường” của Trung Quốc. Giờ đây Singapore đã là một phần của “vành đai,” đó là Con đường Tơ lụa bắt đầu từ Trung Quốc, đi qua lục địa Á – Âu, và chúng ta cũng là một phần của “con đường” – Con đường Tơ lụa trên biển, đi qua khu vực Đông Nam Á. Và đó là một vị thế giá trị mà chúng ta có được.

Một ví dụ khác, chúng ta gia nhập Hội đồng Bắc Cực (Arctic Council) với tư cách quan sát viên, nhằm tìm ra những gì có thể xảy đến nếu các tuyến đường biển phía bắc trở nên khả thi khi băng Bắc Cực tan chảy.

Một đất nước vùng xích đạo đáng lẽ không cần quan tâm đến Bắc Cực, nhưng chúng ta có lý do của mình. Sam Tan, phái viên ngoại giao của chúng ta, là người đã làm việc rất chăm chỉ và đã có rất nhiều bạn ở trong nhóm Vòng tròn Bắc cực (Arctic Circle), thuộc Hội đồng Bắc Cực. Điều này có liên quan đến chúng ta. Nó sẽ không xảy ra vào ngày mai. Nó có thể sẽ diễn ra hoặc có thể không.
Nhưng nó có thể xảy ra, và nếu nó xảy ra chúng ta cũng sẽ có mặt ở đó. Đây là những món đặt cược nhỏ để làm bảo hiểm cho vị thế của chúng ta.


Thứ ba, điều chúng ta có thể làm để trở thành một bên có liên quan là hãy đóng góp một điều gì đó. Chúng ta không có nhiều tiền để có thể phân phát, cũng không đủ quyền lực để ép buộc người khác. Nhưng chúng ta biết làm chủ các vấn đề, chúng ta đưa ra những ý tưởng mang tính xây dựng, và mỗi nhà ngoại giao của chúng ta đều có đóng góp trong các cuộc thảo luận.

Đây là những gì mà một thế hệ trước đây chúng ta đã làm được, khi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) đang được đàm phán. Công ước được ký vào năm 1982. Giáo sư Tommy Koh, hiện là Đại sứ lưu động và là nhà ngoại giao kỳ cựu của chúng ta, đã đóng một
vai trò trung tâm trong các cuộc đàm phán trên cương vị Chủ tịch Hội nghị lần thứ ba về Luật Biển. Khi ấy ông đang ở độ tuổi đầu 30, có lẽ là người trẻ tuổi nhất trong hội nghị. Giáo sư Jayakumar Thẩm phán Chao Hick Tin, theo tôi nhớ thì Giáo sư Jayakumar lúc bấy giờ đang là Đại diện Thường trực của Singapore tại Liên Hiệp Quốc, cả hai đã giữ vai trò chủ đạo, thành lập một liên minh “Land-locked nations ( những quốc gia không giáp biển và có hoàn cảnh địa lý khó khăn) nhằm thúc đẩy lợi ích chung.


Bạn sẽ thắc mắc thế nào là một liên minh “những quốc gia không giáp biển và có hoàn cảnh địa lý khó khăn?”

Nó cũng là một liên minh của các nước có cùng mục đích, cùng lợi ích. Những nước không giáp biển là những nước như Lào, Mông Cổ, hoặc Chad – thật ra có khá nhiều nước như vậy trên thế giới. Và ví dụ về nước có hoàn cảnh địa lý khó khăn chính là Singapore. Chúng ta có các đại dương xung quanh, nhưng các nước láng giềng của chúng ta đều đã tuyên bố chủ quyền trên những đại dương đó; và điều này là bất lợi lớn cho chúng ta. Do đó, chúng ta có lợi ích tương tự như các nước không giáp biển. Vì vậy chúng ta thành lập một nhóm “những quốc gia không giáp biển và có hoàn cảnh địa lý khó khăn” nhằm gây áp lực, vốn không phải là không có hiệu quả trong các cuộc đàm phán của UNCLOS.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 7:12pm)


169

Sunday, December 20th 2015, 7:04pm

Chúng ta là một đảo quốc nhỏ, với thương mại hàng hải là huyết mạch kinh tế. Chúng ta phải bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không. UNCLOS quy định về các quyền này, và đã trở thành một điểm tham chiếu pháp lý quan trọng cho các tuyên bố chủ quyền và hoạt động trên các vùng biển. UNCLOS tạo ra một sự cân bằng cẩn trọng giữa quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển với quyền và lợi ích tương tự của các nước khác, cung cấp cơ chế phân xử và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. UNCLOS cũng là khuôn khổ để chúng ta suy nghĩ và thảo luận về các vấn đề mà các nước hiện đang phải đối mặt ở Biển Đông.

Đàm phán UNCLOS đã diễn ra một thế hệ trước. Nhưng hiện tại, chúng ta cũng đang tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu, bao gồm cuộc họp quan trọng diễn ra tại Paris vào tuần tới.

Singapore không phải là một nước có lượng phát thải khí nhà kính lớn. Ngay cả khi tất cả người dân Singapore ngừng thở, điều đó cũng chẳng tạo nên bất kỳ khác biệt nào đối với sự nóng lên toàn cầu. Nhưng Đại sứ về biến đổi khí hậu của chúng ta vẫn đóng vai trò tích cực, vận động ủng hộ, đóng vai trò như một cầu nối giữa các nước phát triển và đang phát triển, và biến chúng ta thành những người hữu ích. Bộ trưởng Vivian Balakrishnan trong nhiệm kỳ trước của mình, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường và Nước, đã đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc họp trước đây. Trong Hội nghị các bên ở Lima, Peru hồi năm ngoái, Bộ trưởng Vivian là một trong hai “Bạn của Chủ tọa” (Friends of the Chair), người còn lại là của Na Uy, và “Bạn của Chủ tọa” là những người giúp Chủ tọa đưa ra được một thỏa thuận cho các thành viên tham gia hội nghị. Và họ đã làm việc đằng sau hậu trường để xây dựng sự đồng thuận về một thỏa thuận cho phép hội nghị kết thúc với kết quả tích cực, để quá trình có thể tiếp tục, và đến được Paris, chứ
không kết thúc mà không có thỏa thuận nào. Chúng ta có thể rất nhỏ, nhưng đó là đóng góp mà chúng ta có thể làm.


Thỉnh thoảng, chúng ta cũng may mắn khi đưa ra một sáng kiến nhỏ nhưng dẫn đến một kết quả có ý nghĩa lớn hơn, ví dụ như Hiệp định Đối tác Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Câu chuyện này bắt đầu cách đây 10 năm, khi bốn nước nhỏ ký một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Bốn nước đó được gọi là “Thái Bình Dương 4” (Pacific 4 – P4) gồm: Singapore, Brunei ChileNew Zealand. Đây không phải là 4 nước đầu tiên mà mọi người sẽ nghĩ đến khi nói về một FTA đầy hứa hẹn trên thế giới, nhưng đây là 4 nước có cùng chí hướng và mục đích trong việc hướng tới thỏa thuận. Thương mại giữa các nước này khá khiêm tốn. Tổng tác động của FTA của P4 lên thương mại thế giới là không đáng kể. Nhưng chúng ta đã tạo dựng P4 với hy vọng rằng nó sẽ trở thành hạt nhân mà sau này các nước châu Á – Thái Bình Dương khác có thể tham gia, và dần dần phát triển thành một Hiệp định Thương mại Tự do quan trọng trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Và quả thực, đó là những gì đã xảy ra. Nhiều nước muốn trở thành một phần của hiệp định này; từng nước một đã bày tỏ quan tâm – Australia, Canada, Peru, Việt Nam.

Sau đó, người Mỹ đến và thay đổi cuộc chơi hoàn toàn. Tiếp nữa, Nhật Bản tham gia – tuy muộn, nhưng họ hội nhập rất nhanh. Cuối cùng, nó đã trở thành nhóm TPP với 12 quốc gia thành viên, chiếm 40% GDP toàn cầu, tính cả Mỹ và Nhật Bản. TPP từ một con vịt con xấu xí trở thành thiên nga. TPP khác hoàn toàn với P4 – về quy mô và tham vọng. Nó không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chiến lược. Nó làm tăng thêm mối quan hệ giữa Mỹ và châu Á, làm cho khu vực trở nên hội nhập và ổn định hơn, và là con đường để cuối cùng dẫn đến một khu vực thương mại tự do thậm chí còn tham vọng hơn nữa ở châu Á Thái Bình Dương. Vì vậy, tuy không thể tuyên bố mình là “cha đẻ” của TPP, nhưng chúng ta đã tham gia vào tiến trình dẫn tới sự hình thành TPP.

Đó là cấp độ đầu tiên. Trên trường quốc tế, chúng ta cần phải làm cho mình trở thành bên có liên quan, và phải có đóng góp.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 9:31pm)


170

Sunday, December 20th 2015, 9:36pm

Tăng cường hợp tác và ổn định khu vực

Ở cấp độ thứ hai, chúng ta phải duy trì quan hệ tốt với các nước láng giềng, cụ thể là khu vực Đông Nam Á.

ASEAN là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của chúng ta.
Singapore tích cực hợp tác với các đối tác thuộc ASEAN, tham gia vào các dự án của ASEAN, giúp đỡ các nước kém phát triển hơn trong ASEAN như Campuchia, Lào, Việt Nam, đặc biệt là Myanmar, giúp họ thu hẹp chênh lệch trình độ phát triển thông qua Sáng kiến Hội nhập ASEAN (Initiative for ASEAN Integration IAI).
Và chúng ta cố gắng thúc đẩy sự đồng thuận trong ASEAN về các vấn đề chung, cho dù đó là theo đuổi hội nhập kinh tế nội khối, hay giải quyết ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, vốn là một vấn đề chung của nhiều quốc gia ASEAN.


Chúng ta thuộc số những quốc gia nhỏ thuộc ASEAN. Chúng ta không ở vị trí thống trị, nhưng chúng ta vẫn làm phần việc của mình. Và chúng ta cũng làm việc với các nước ASEAN trong các diễn đàn rộng hơn, bên ngoài ASEAN, nhằm biến ASEAN thành một thành viên hiệu quả và đáng tin cậy trong các diễn đàn khu vực và đa phương lớn hơn. Chẳng hạn, tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN, WT hay Liên Hiệp Quốc. Trong các diễn đàn này, thường lợi ích của các nước ASEAN hội tụ, điều tạo cho Singapore một cơ hội đóng góp bằng cách hợp tác với các thành viên ASEAN khác, thay vì đối lập với họ trên bàn đàm phán. Trong quá trình này, nhờ làm việc cùng nhau, chúng ta xây dựng mối quan hệ chặt chẽ hơn với họ.

Tất nhiên, ngoại giao ASEAN không phải luôn luôn là về tăng cường hợp tác. Nhiều lần chúng ta cũng phải giải quyết tranh chấp và va chạm, như chúng ta đang làm trong trường hợp Biển Đông. Singapore không phải là một bên yêu sách, nhưng chúng ta có lợi ích quan trọng bị ảnh hưởng – tự do hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng có một vai trò riêng, vì Singapore là nước Điều phối viên quan hệ đối thoại ASEAN – Trung Quốc trong ba năm tới. Mục đích của chúng ta trên cương vị điều phối viên là trở thành một bên trung gian trung thực, làm việc công bằng và cởi mở với tất cả các bên, vì mục đích của chúng ta không chỉ là duy trì ổn định và hòa bình khu vực, mà còn tạo dựng danh tiếng là một quốc gia đáng tin cậy để hợp tác, và cũng để nâng cao uy tín của ASEAN trong vai trò một tổ chức hiệu quả, đủ khả năng đối phó với các vấn đề an ninh khó khăn.

Trong ASEAN, mối quan hệ sâu sắc nhất của chúng ta là với hai nước láng giềng, MalaysiaIndonesia. Tuần trước, khi tôi ở Kuala Lumpur, Thủ tướng Najib và tôi đã khai mạc một cuộc triển lãm, với tên gọi Titian Budaya – Cầu nối văn hóa – nhằm kỷ niệm 50 năm quan hệ hữu nghị Singapore-Malaysia thông qua nghệ thuật và văn hóa. Tôi đã phát biểu và Thủ tướng Najib cũng vậy. Tôi mô tả mối quan hệ giữa hai nước bằng câu tục ngữ Malay, “bagai aur dengan tebing” – tức giống như quan hệ giữa bờ sông và cây tre mọc trên bờ sông; chúng phụ thuộc vào nhau. Tre mọc bên bờ sông, và rễ tre giữ đất ven bờ để chúng không bị lở. Cả hai cùng cộng sinh và cùng tồn tại với nhau.

Singapore và Malaysia phụ thuộc vào nhau, và chúng ta phải học cách làm việc với nhau. Vì thế mà Singapore đang cố gắng thúc đẩy quan hệ với Malaysia và Indonesia, hai trong số những đối tác kinh tế lớn nhất của chúng ta. Chúng ta hợp tác về an ninh, môi trường, du lịch, và nhiều lĩnh vực khác. Công dân của từng nước đều sang nước còn lại, để du lịch hay vì lý do công việc.

Nhưng tất nhiên, đây là những mối quan hệ phức tạp, và chắc chắn, theo thời gian, sẽ phát sinh vấn đề, nhưng khi chúng xảy ra, Singapore sẽ giải quyết chúng một cách bình thản mà không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ rộng lớn hơn, hay gây ra căng thẳng.

Đó là cách chúng ta xử lý vấn đề Pedra Branca, một tranh chấp với Malaysia. Nếu các bạn đã quên, thì đây là tranh chấp về chủ quyền trên đảo Pedra Branca, nơi có ngọn hải đăng Horsburg.
Tranh chấp này bắt đầu vào năm 1979. Đó là một vấn đề khó khăn cho cả hai bên, nhưng chúng ta đã đồng ý đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice – ICJ) và cuối cùng, vào năm
2008
, gần 30 năm sau khi bắt đầu tranh chấp, ICJ đã ra phán quyết. Cả hai nước đều chấp nhận phán quyết đó, và không để nó ảnh hưởng đến mối quan hệ song phương rộng hơn. Và hai bên tiếp tục làm việc với nhau trong các dự án cùng có lợi khác, như Dự án Đường sắt cao tốc.


Tương tự, với Indonesia, chúng ta cũng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, và hy vọng sẽ tiến xa hơn nữa dưới thời Tổng thống Joko Widodo. Đó là cấp độ thứ hai trong chính sách đối ngoại của chúng ta, liên quan tới khu vực láng giềng: ASEAN và khu vực Đông Nam Á.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 9:46pm)


171

Sunday, December 20th 2015, 11:37pm

Đảm bảo thành công của Singapore

Nền tảng thứ ba cho một chính sách ngoại giao tích cực và hiệu quả là đưa Singapore trở thành một quốc gia thành công. Điều tôi muốn nói ở đây là một nền kinh tế thịnh vượng, người dân sống trong hòa bình và hòa hợp, đất nước hoạt động có hiệu quả và đặc biệt, phải là một quốc gia an toàn – có thể tự bảo vệ bản thân, và quyết tâm sẽ làm như vậy.

Một quốc gia thất bại không thể có một chính sách đối ngoại hiệu quả. Các nhà ngoại giao có thể xuất sắc, đôi khi họ thực sự như vậy. Họ có thể phát biểu hùng hồn tại Liên Hợp Quốc, thường thì họ sẽ làm được như vậy. Nhưng nếu đất nước là một mớ hỗn độn, chẳng có ai xem xét chúng một cách nghiêm túc.
Vì nền kinh tế của Singapore đã phát triển thịnh vượng, nên những nước khác muốn làm kinh doanh với chúng ta. Bởi xã hội chúng ta đang hòa thuận, và chúng ta đã tìm thấy giải pháp cho nhiều vấn đề của mình, như nhà ở, y tế, hoặc cấp nước, nên các quốc gia khác cũng coi trọng và xem chúng ta là một ví dụ thú vị để học hỏi.

Đó là lý do tại sao chúng ta hợp tác với nhiều quốc gia trong các dự án tập trung vào chuyên môn và uy tín của mình, và điều này tạo cơ hội cho doanh nghiệp và người dân của chúng ta. Chúng ta có các dự án liên chính phủ với Trung Quốc Khu Công nghiệp Tô Châu, Thành phố Xanh Thiên Tân, và giờ là Dự án Khu vực phía Tây Trùng Khánh. Chúng ta còn có các khu công nghiệp liên doanh tại Indonesia, Việt Nam, và trên thực tế ở Việt Nam, nó được gọi là Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore (Vietnam-Singapore Industrial Park, VSIP). Chữ S trong tên gọi viết tắt đó phần nào có giá trị về mặt xây dựng thương hiệu. Tại Ấn Độ, các công ty của chúng ta gần đây đã quy hoạch tổng thể cho Amaravati, thủ phủ mới của bang Andhra Pradesh, một khu vực còn nguyên sơ. Các công ty cấp nước và dịch vụ đô thị của chúng ta c nhà máy trên khắp châu Á, Bắc PhiTrung Đông. Vậy nên chúng ta phải là một quốc gia thành công.

Nhưng ngoại giao cần được hỗ trợ bởi nhiều thứ hơn là lời nói suông.
Lời nói thực sự quan trọng. Singapore luôn coi trọng những lời nói ra.
Ông Rajaratnam là một bậc thầy về sử dụng ngôn từ trong những bài phát biểu cũng như bút chiến. Chúng ta rất, rất xem trọng những từ ngữ nói ra. Chúng ta cân nhắc từng chữ một trong mỗi tuyên bố được đưa ra. Chúng ta tôn trọng tất cả các thỏa thuận mà chúng ta ký kết, và chúng ta mong các nước khác cũng hành động như vậy.

Khi báo chí dẫn sai lời của chúng ta, hoặc đưa tin sai, chúng ta đã mất rất nhiều thời gian để sửa chữa chúng. Những lời nói rất quan trọng đối với chúng ta, vì chúng ta là một nước nhỏ. Như một nhà ngoại giao Phần Lan đã từng nói – “Là một nước nhỏ, vũ khí duy nhất của chúng ta là ngôn từ và các điều ước quốc tế.”

Chúng ta xem trọng chúng, nhưng cuối cùng thì ngôn từ phải được biến thành hành động và kết quả, hay hậu quả.

Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải có một lực lượng quốc phòng vững mạnh, để có thể bảo vệ Singapore khi tất cả các biện pháp khác đều thất bại. Do đó, một Lực lượng Vũ trang Singapore (Singapore Armed Forces – SAF) vững mạnh là một tầng nấc quan trọng trong quan hệ đối ngoại và chính sách đối ngoại của chúng ta. May mắn thay, chúng ta đã có điều đó.

Trong suốt 50 năm qua, dù chưa một lần phải bắn một phát súng với sự giận dữ, nhưng SAF đã gìn giữ cho Singapore được an toàn, và đảm bảo rằng các nước khác cũng xem trọng chúng ta. Hy vọng tương lai vẫn sẽ tiếp tục như vậy.

Singapore đã là một quốc gia thành công, nhưng chúng ta không bao giờ được để điều đó làm chúng ta kiêu ngạo. Đừng bao giờ tin rằng chúng ta vượt trội so với các nước khác, hay chúng ta giỏi hơn các nước khác trong việc giải quyết vấn đề của họ. Chúng ta không giải quyết được hết mọi vấn đề của chúng ta, và chúng ta càng biết ít hơn về cách làm thế nào để giải quyết tất cả các vấn đề của người khác. Chúng ta không giả vờ là một “thành phố trên đỉnh đồi”, hay là một dân tộc khai sáng, coi mình là tấm gương mà mọi quốc gia khác phải noi theo. Chúng ta giải quyết vấn đề của riêng mình, chúng
ta thành công theo cách của riêng mình, chúng ta cố gắng trở thành người láng giềng và người bạn tốt – quan trọng với các nước khác, nhưng vẫn khiêm tốn và hiểu rõ vị trí của mình trên trường quốc tế.

Các nước khác có những điểm mạnh mà chúng ta thiếu. Người dân của họ cũng có khả năng và tài năng như người dân của chúng ta, nhưng hoàn cảnh, lịch sử của họ khác chúng ta, và những thách thức họ phải đối mặt thường sẽ phức tạp hơn. Cũng như những người khác hy vọng sẽ học được điều gì từ chúng ta,
chúng ta cũng luôn phải mong muốn học được điều gì đó mới mẻ mỗi lần chúng ta gặp ai đó từ một nước khác.

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 11:46pm)


172

Sunday, December 20th 2015, 11:48pm

Một dân tộc thống nhất

Thứ tư, để thành công, chúng ta phải là một dân tộc thống nhất – thống nhất về chính trị và thống nhất trong một xã hội đa sắc tộc gắn kết.

Chúng ta phải thống nhất về mặt chính trị.
Điều đó không có nghĩa là không có chính trị trong nước, hoặc đối lập chính trị. Nhưng nó có nghĩa là người dân sẽ bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử công khai, nhằm chọn ra những người mà họ muốn sẽ điều hành Chính phủ, và chúng ta có một phe đối lập hiểu được lợi ích căn bản của Singapore trên thế giới, và sẽ không tìm cách phá hoại lợi ích căn bản của Singapore, dù là để tìm kiếm sự hỗ trợ từ nước ngoài hay để đạt được ưu thế chính trị. Tức là sau các cuộc bầu cử, chúng ta vẫn sẽ thống nhất với nhau, đặc biệt là khi phải đối phó với các nước khác.


Chúng ta đã có những đảng đối lập như thế. Ông Chiam See Tong, người đã nghỉ hưu – mặc cho bất cứ bất đồng, tranh luận, hay khác biệt quan điểm chính sách nào diễn ra trong nước, thì mỗi khi ông ra nước ngoài, hoặc trong một phái đoàn chính thức hoặc với tư cách một đại biểu Quốc hội, ông luôn đứng lên vì Singapore. Đó là một tiêu chuẩn thực sự nên được ưu tiên áp dụng tại Singapore.

Ổn định chính trị là rất quan trọng để duy trì đường lối và nhận thức rõ ràng về lợi ích quốc gia, và theo đuổi chúng một cách nhất quán trong một thời gian dài. Nếu chúng ta có thể làm điều đó, nó có thể bù đắp cho sự thiếu hụt sức mạnh của chúng ta; nó khiến nước khác có cơ sở để tin rằng chúng ta sẽ là đối tác tin cậy.

Nếu xem xét những nước có nền chính trị bất ổn, với các làn gió chính trị đổi chiều liên tục, thì thường chính sách đối ngoại của họ cũng thay đổi liên tục. Điều này gây cản trở rất nhiều khi nước khác muốn hợp tác với các nước này, bởi vì họ không thể chắc chắn rằng những gì họ đạt được với một chính phủ này sẽ không bị chính phủ kế tiếp từ bỏ và lật ngược lại. Hơn nữa, những nước này cũng rất dễ bị lợi dụng, vì họ có thể đợi bạn hết cầm quyền do biết rằng chính phủ của bạn chỉ là một “chính phủ vịt què” không thể tồn tại lâu.Vì vậy, chúng ta phải thống nhất về mặt chính trị để có một chính sách đối ngoại hiệu quả.

Chúng ta cũng cần thống nhất, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo, để không bị chia rẽ khi tiến hành chính sách đối ngoại, và không bị nước khác làm cho suy yếu và lợi dụng việc ta bị chia rẽ nội bộ. Chúng ta có thể là người Singapore gốc Ấn Độ, gốc Mã Lai hay gốc Hoa, nhưng trên tất cả, chúng ta là người Singapore.

Chúng ta phải nhìn thế giới qua đôi mắt của Singapore, và thúc đẩy lợi ích của Singapore, lợi ích chung của chúng ta. Vẫn có những mối liên hệ về văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, quan hệ họ hàng giữa các nhóm dân tộc của chúng ta và các nhóm tương ứng ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Đông Nam Á.

Thực tế, trong mỗi trường hợp, các nhóm sắc tộc này ở nước ngoài còn lớn hơn các nhóm ở Singapore. Hiện có hơn 1 tỷ người Trung Quốc trên thế giới, nhưng chỉ khoảng 2-3 triệu người là ở Singapore. Tương tự với người Ấn Độ và Mã Lai.

Và không chỉ các nhóm dân tộc mà còn các nhóm tôn giáo – người Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo sinh sống ở nước ta, tất cả đều có các giáo đoàn hay các cộng đồng lớn hơn đang ở nước ngoài. Những mối quan hệ đó là một tài sản quý giá, bởi vì chúng giúp chúng ta hiểu và làm việc được với các đối tác ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, hay Trung Đông. Nhưng chúng cũng có thể là điểm yếu, nếu các nhóm dân tộc hay tôn giáo ở bên ngoài chia rẽ chúng ta theo những đường chia cắt căn bản này. Vì vậy, chúng ta phải củng cố hòa hợp sắc tộc và tôn giáo, tiếp tục tăng cường bản sắc của người Singapore.Ngày nay, xã hội chúng ta đã có sự gắn kết nhiều hơn và bản sắc quốc gia Singapore cũng đã mạnh lên nhiều, nhưng trước đây thì không như thế.

Trong những năm 1970, đội tuyển bóng bàn Trung Quốc đến Singapore – đó là ngoại giao bóng bàn. Họ đã đấu với đội Singapore, và đám đông người Singapore lại cổ vũ đội tuyển Trung Quốc.

Năm 1984, quân đội Ấn Độ tấn công Đền Vàng ở Amritsar, và người dân chúng ta cũng đã có phản ứng. Indira Gandhi bị ám sát bởi vệ sĩ người Sikh của bà, cũng có phản ứng tại Singapore.

Tức là các sự kiện bên ngoài có ảnh hưởng lên chúng ta; nhưng ảnh hưởng không đồng đều đối với từng bộ phận khác nhau trong xã hội.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 20th 2015, 11:55pm)


173

Sunday, December 20th 2015, 11:59pm

Giờ đây, bản sắc quốc gia của chúng ta đã rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn, chúng ta tự hào là người Singapore. Tại SEA Games vài tháng trước đây, khi tiếng nhạc đã ngừng, đám đông vẫn tiếp tục hát bài Majulah Singapura (Quốc ca Singapore)! Tôi nghĩ điều đó thực sự rất tốt, nhưng đối với chúng ta, củng cố bản sắc quốc gia vẫn luôn luôn là một quá trình liên tục. Chúng ta đang rất thận trọng trong quan hệ với các nước khác, khi mà sắc tộc hay tôn giáo có thể dẫn đến hiểu lầm.

Chẳng hạn như quan hệ của chúng ta với Trung Quốc, nhìn chung là rất tốt. Nhưng rõ ràng chúng ta là người Singapore, còn họ là người Trung Quốc, là hai quốc gia khác nhau. Chúng ta không giống như cách Chủ tịch Tập Cận Bình nói về Đài Loan – hai nước mà “xương gãy nhưng gân vẫn còn nối” – “打断 骨头 筋 相连” (Dǎ duàn gǔtou jīn xiānglián- Tào đoạn cốt đầu cân tương liên). Khi lãnh đạo Singapore gặp lãnh đạo Trung Quốc trong các cuộc họp chính thức, chúng ta nói chuyện bằng tiếng Anh và sử dụng thông dịch viên, dù rằng nhiều nhà lãnh đạo của ta vẫn hiểu và có thể nói được tiếng Quan thoại.

Đây là một điểm quan trọng về mặt nguyên tắc. Các nước khác có thể không nhận ra điều này, và họ có thể nghĩ rằng do nhiều người dân Singapore là người gốc Trung Quốc nên Singapore là một xã hội người Hoa.

Ví dụ, trong các cuộc họp quốc tế, đôi khi các nhà lãnh đạo sẽ có hướng dẫn viên mặc trang phục dân tộc của họ, để họ có thể biết nên đi theo ai, hay đi tới chỗ nào. Đôi khi, hướng dẫn viên của đại biểu Singapore lại thường mặc một bộ sườn xám Trung Quốc màu đỏ. Sườn xám thanh lịch thật đấy, nhưng đó không phải là quốc phục của chúng ta!

Tôi đã từng giải thích với một Thủ tướng Nhật Bản rằng một người Hoa Singapore (Singapore Chinese) khác với một người Hoa Trung Quốc (Chinese Chinese). Tôi giải thích sao lại như vậy. Ông ấy đã lắng nghe tôi một cách cẩn thận, nhưng sau đó lại bối rối hỏi thông dịch viên của mình rằng:

“Thế nào là người người Hoa Trung Quốc (Chinese Chinese)?”

Đó là một khái niệm hoàn toàn xa lạ với ông. Người Hoa là người Trung Quốc.
Một người Hoa Trung Quốc nghĩa là gì?

Nhưng thực chất vẫn có những nhóm dân tộc Hoa khác nhau, và sự khác biệt là vô cùng quan trọng trong một xã hội đa sắc tộc.

Đây không phải là vấn đề chỉ có ở Singapore. Ở Mỹ, Henry Kissinger có thể là người Do Thái, và Israel là một đồng minh thân cận của Mỹ, nhưng khi ông trở thành Cố vấn An ninh Quốc gia và Ngoại trưởng Mỹ, ông đã hành động vì lợi ích của nước Mỹ, không phải của Israel. Và ông đã gây sức ép rất mạnh lên Israel trong việc ký thỏa thuận hòa bình với Ai Cập.

Ở Singapore cũng vậy, chúng ta đã có năm Ngoại trưởng là người gốc Ấn Độ, nhưng họ đều đã nhìn tất cả theo quan điểm của Singapore và đại diện cho lợi ích của Singapore, với tư cách là người Singapore. Đó là cách nó phải như vậy.

Lựa chọn và Niềm tin

Cuối cùng thì cả tác động bên ngoài lẫn sự đoàn kết và thành công trong nước đều quy về niềm tin của chúng ta trong tư cách những công dân Singapore. Chúng ta phải xác định rằng chúng ta muốn là người Singapore, để đứng lên với thế giới, và trở thành một chấm đỏ sáng ngời.

Như ông Rajaratnam đã nói – “Là một người Singapore không phải là vấn đề về gốc gác tổ tiên, mà là về lựa chọn và niềm tin.” Nếu chúng ta lựa chọn và có niềm tin rằng chúng ta muốn Singapore trường tồn và vươn lên, thì tất cả mọi điều rồi sẽ tự theo sau mà trở thành hiện thực.

Những nước khác cũng đang theo dõi chúng ta, để xem liệu Singapore có niềm tin đó hay không, liệu chúng ta có sự mãnh liệt bên trong đó hay không và liệu chúng ta có “tấm lòng” để trở một dân tộc không chỉ biết tập trung vào thành công hẹp hòi của mình hay không.

Nó được thể hiện trong tinh thần của mỗi người lính chuyên nghiệp, hay những người lính nghĩa vụ trong các đơn vị quân đội của chúng ta – để đấu tranh cho những gì chúng ta yêu mến và tin tưởng.

Nó thể hiện trong cách chúng ta giúp đỡ nhau và giúp đỡ các nước láng giềng.

Ví dụ, khi có sóng thần ở Indonesia, SAF đã tới giúp đỡ và giải cứu, phân phối và vận chuyển hàng hóa, viện trợ trong tình thế cấp thiết. Khi các đám khói mù xuất hiện gần đây, tình nguyện viên từ các tổ chức Relief.sg và Let’s Help
Kalimantan
đã đến KalimantanSumatra rất nhiều lần, nhằm cung cấp khẩu trang cho người dân địa phương. Họ làm việc với các tổ chức quốc tế, với Chính phủ Indonesia, và họ đang mang lại những thay đổi tích cực, dù nhỏ nhưng cụ thể và hữu ích. Vâng, chúng ta bảo vệ lãnh thổ, và chăm sóc cho người dân của chúng ta, nhưng người dân của chúng ta không hề hẹp hòi. Chúng ta phải thể hiện tinh thần hào phóng và bác ái đối với mọi người.


Và đó là một trong những lý do tại sao Rajaratnam lại là một ngoại trưởng thành công. Bởi vì ông đã chiến đấu cho quyền lợi của Singapore nhưng đồng thời cũng quan tâm đến người khác, ông đã làm việc hòa hợp cùng với những người khác, trò chuyện với ngoại trưởng các nước khác, tạo dựng quan hệ với họ, và thúc đẩy những vấn đề quan trọng đối với cả hai bên.

Vì vậy, thậm chí ngay từ góc nhìn hẹp thì đây cũng là điều tích cực. Nhưng thực ra, điều phải trở nên căn bản là chúng ta là người Singapore, và hào phóng với người khác là một phần trong tâm trí của người dân Singapore. Nếu chúng ta có niềm tin đó, nếu chúng ta có tư duy đó, thì tất cả mọi điều khác sẽ tự động theo sau. Chúng ta sẽ là một dân tộc thống nhất, chúng ta sẽ đưa Singapore đến thành công. Từ đó, Singapore sẽ có một chính sách đối ngoại hiệu quả, và chúng ta sẽ có thể đem ánh sáng từ chấm đỏ nhỏ bé của mình ra với thế giới.

Xin trân trọng cảm ơn!

See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/12/14/ba…h.9kafi91b.dpuf

This post has been edited 2 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 21st 2015, 12:11am)


174

Monday, December 21st 2015, 12:12am

Nhận định:

Quả đúng là cuộc gặp mặt "tay bắt mặt mừng" giữa họ Tập và họ Mã không có gì đáng kể và chắc chắn không bao giờ Ðài Loan dám và có khả năng tách rời khỏi quỹ đạo Hoa Kỳ. Bởi thế cho nên Quốc Hội Mỹ mới mau mắn cho phép bán 4 tàu khu trục lớp Perry cho Đài Loan.

Sau một thời gian dài không muốn làm phật lòng Bắc Kinh và phớt lờ Đài Loan trong tay của Tổng thống Mã Anh Cửu từ năm 2008, Mỹ mới lại nói đến việc sẽ bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc tìm cách thống nhất đảo quốc này bằng vũ lực.

Bởi vì sao ?

Bởi vì Tổng thống Mã Anh Cửu bây giờ chỉ là một “con vịt què” không hơn không kém. Hơn nữa người dân Đài Loan đã không còn mơ hồ về cái bã thuốc độc “Nhất quốc lưỡng chế“ của TC nhờ vào dũng khí của tuổi trẻ Hong Kong.

Thêm vào đó là “sự trỗi dậy một cách man rợ” của TC đã khiến cho Mỹ phải có những hành động răn đe một cách mạnh mẽ hơn.

Dựa vào cái thế tương liên đó nên Bộ Ngoại giao Đài Loan mới tuyên bố rằng Đài Bắc có chủ quyền đối với biển Đông, trong đó có quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) và Tây Sa (tức Hoàng Sa) cũng như các vùng lãnh hải lân cận.

Vấn đề là Pháp đã thông đồng cho Đài Loan ăn trộm đảo Ba Bình của VN, còn Mỹ thì chống lưng cho tên trộm nầy. Nếu không thì hòn đảo có nhiều nước ngọt và đất đai màu mỡ nầy chắc cũng lại lọt vào tay TC thôi.

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 21st 2015, 12:19am)


175

Tuesday, December 22nd 2015, 5:02am

Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, có diện tích gần 0,5 km2, nằm cách đảo Đài Loan khoảng 1.600 km. Thật ra ở vị trí nầy, Đài Loan tự mình không có khả năng chiếm giử nó một cách lâu dài và liên tục. Trong qúa khứ Đài Loan đã từng phải rút lui khỏi nơi dây. Sau nầy cho dù Đài Loan có trở thành một quốc gia thực thụ thì cũng không có những quyền lợi sinh tử như Nhật, TC hay Mỹ để mà phải cố thủ ở nơi đây bằng mọi giá. Nên nhớ quân của Tưởng Giới Thạch và Trung Hoa Quốc Dân Đảng mới là kẻ trộm có cùng một tham vọng bá quyền với người anh em Hán Tộc TC của chúng. Chứ người Đài Loan bản địa và đảng Dân Tiến cũng chỉ mong " thóat Trung " như VN mà thôi.

Và một khi VN có thể củng cố vị thế chính trị của mình trên thế giới thì việc lấy lại đảo Ba Bình chỉ dễ như trở bàn tay.
Lúc đó VN sẽ có rất nhiều sự chọn lựa, bằng đường lối ngọai giao hay bằng quân sự.

Thế nhưng ở tại thời điểm nầy, khi mà VN đang bị tổn thương bởi nội xâm ngọai nhập thì những vùng biển sát nách như Vịnh Bắc Bộ còn bị lấn chiếm một cách êm thấm gọn gàng thì nói chi đến nơi long tranh hổ đấu nầy.
Một con hổ đói như TC chẳng lẽ không chảy nước miếng trước miếng mồi ngon Ba Bình hay sao mà lại cam kết sẽ tôn trọng chủ quyền của Đài Loan trên hòn đảo nầy ?
Chẳng lẽ TC cứ phải ép bụng mà chịu cảnh " Cọp ăn bù mắt " hay sao ?
Chẳng qua là bọn TC nghĩ rằng trước sau gì chúng cũng tóm gọn Đài Loan thì Ba Bình sẽ thuộc về chúng một cách danh chính ngôn thuận mà thôi.

176

Tuesday, December 22nd 2015, 5:40am

Còn Mỹ thì sao ?
À, thì Mỹ đã bảo rằng sẽ không đứng về phe nào trong vấn đề đòi hỏi chủ quyền ở Hòang-Trường Sa.
Thế có nghĩa là:
- thằng nào ăn cắp được thì cứ ăn cắp,
- thằng nào ăn cướp được thì cứ ăn cướp,
- nhưng chớ có dại dột mà động đến quyền lợi của tao.
- Còn tao cũng chẳng có rỗi hơi mà phân xử cho chúng mày !
- Nếu thích thì cứ kéo nhau ra ba tòa quan lớn mà kiện nhau nhé !

Vậy thì thế nào là động đến quyền lợi của Mỹ ?

- Trước hết là muốn chơi trội, muốn ngang hàng, hay muốn chơi kèo trên, muốn làm trùm.
- Thứ hai là muốn dành địa bàn, muốn độc chiếm biển Đông để mà được đằng chân thì lân đằng đầu.
- Thứ ba là muốn phá vỡ thế trận thiên la địa võng bằng kinh tế hay bằng quân sự.

Trên thế giới nầy từ đệ nhị thế chiến đến nay chỉ có Nga và TC là có ý đồ và có khả năng làm những điều đó.
Nga Sô Viết thì Mỹ đã xử rồi, còn Russia của Putin bây giờ thì đang bị xử và có mòi bị co cụm.
Còn TC thì đang vùng lên để " đòi quyền sống ", hay đòi quyền cùng chết ( lưỡng bại câu thương ) í mà !

Ông bà mình lại có câu:

" Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ bần cùng liều thân ".

Vậy cho nên Mỹ phải còn đắn đo suy nghĩ để xem cái thằng TC nầy là anh hùng thật hay là bần cùng mà liều thân.

177

Thursday, December 24th 2015, 2:33am

Vậy thì trông trước nhìn sau,
ngó ngang liếc dọc,
ngước lên dòm xuống,
chỉ thấy có anh ba TC là có bộ mặt cô hồn,
đang cướp đảo giết người và "có nợ máu" với nhân dân VN mà thôi.
Quả là cảnh hải hùng:

" Người nách thước, kẻ tay dao;
Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi."

Thử hỏi còn ai mà dám trồng khoai đất nầy ?
Đích danh kẻ thù thiên cổ là đây !
Bởi vậy NP rất mừng khi được biết VN đang chuẩn bị để đương đầu với bọn hải tặc và thổ phỉ nầy.
Thế nhưng nói là một chuyện còn làm lại là một chuyện khác.
Không phải là nổi ngờ vực " nói mà không làm " ( năng thuyết bất năng hành ).
hay là "nói một đàng mà làm một nẻo", hay là " nói dzậy mà không phải dzậy".
Vâng, NP tin là VN luôn có ý chí chống ngọai xâm ( trừ những tên bán nước hay TC nằm vùng ).

Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là:
- VN chuẩn bị và sẳn sàng cho một cuộc chiến như thế nào nếu không may xảy ra ?
- VN có hình dung hay mường tượng được cuộc chiến vệ quốc đó sẽ ra sao không ?
- Nhất là tòan dân VN có lường trước được mức độ tàn khốc của cuộc chiến đó sẽ như thế nào không ?
Có sẳn sàng chấp nhận mọi hậu quả của nó hay không ?
Đó là chưa kể câu hỏi đã từng vang lên ở Hội Nghị Diên Hồng:
- Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh ?
Biết rồi: Hy sinh !
Nhưng mà ai sẽ hy sinh, lấy cái gì để hy sinh và hy sinh cho cái gì ?

Không, các bác ạ ! Trong thời đại truyền thông nhanh như chớp nầy các bác không thể giử mãi cái tư duy củ rích ấy được:
- Cường quyền và binh lực ở trong tay ta thì ta cứ bảo "đánh" là "đánh", "hàng" là "hàng".
- Ta cứ bảo "tiến" là "tiến", "lùi" là "lùi". Mà hể ta hô " Xung Phong " là chúng nó phải liều chết mà lao lên!

Xin lỗi các bác nhé: " Xưa rồi, Diễm ơi ! ".

Các bác có còn nhớ bài thơ nầy không:

Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền nghểnh sĩ.

Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.

Bài thơ " Đánh Cờ " của bà Hồ Xuân Hương ấy mà !
Các bác thấy không ? Cái chuyện phòng the:
" Chàng với thiếp canh khuya trằn trọc,
đốt đèn lên bày cuộc cờ người "
mà còn phải có thứ tự lớp lang, tiến thóai chống đở như thế!
Huống hồ là chuyện quốc gia đại sự.

Vâng, chúng tôi biết các bác thì " gian khổ nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng "
Thế nhưng nếu bọn giặc chúng nó "đốt trụi cả rặng Trường Sơn và nhuộm đỏ máu cả Biển Nam Hải " thì các chiến thuật chiến lược nào của các bác sẽ ngăn được chúng nó " đốt sạch giết sạch " ????

This post has been edited 5 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 24th 2015, 6:23pm)


178

Saturday, December 26th 2015, 5:59pm


" Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm "

Lời kinh nguyện nầy vẫn còn vang vọng trong lòng chúng ta khi lễ Giáng Sinh đã trải qua.
Một lễ Giáng Sinh thật an bình và đầy ân phúc cho những người tin:

" Đêm nay ngôi hai trời xuống, ánh sao lung linh muôn màu "

Thế nhưng trên trần thế nầy có rất nhiều, rất nhiều nơi vẫn còn chiến tranh lọan lạc, không an bình.
Cũng như khắp trái đất nầy vẫn còn rất nhiều, rất nhiều người chẳng có thiện tâm, mà cũng không tin Chúa.
Có những con người vẫn chối bỏ:

- hiểu biết đúng (Chánh Kiến)
- suy nghĩ đúng (Chánh Tư Duy)
- ăn nói đúng (Chánh Ngữ)
- hành động đúng (Chánh Nghiệp)
- sinh sống đúng (Chánh Mạng)
- cố gắng đúng (Chánh Tinh Tiến)
- nhận xét đúng (Chánh Niệm) (có nghĩa là ý thức đúng được bản chất của chính mình và mọi sự vật)
- tập trung tâm thần đúng (Chánh Định) (có nghĩa là thiền định đúng)

Thay vào đó họ thích:
- tôn thờ những ý tưởng tàn độc dã man, tham lam kiêu ngạo, gian manh lừa đảo, bạo lực hung ác.
- mơ mộng viễn vông hay ích kỷ hại người.
- hô hào dối trá, khích động, dụ dỗ đưa vào cạm bẩy.
- cưởng chiếm bốc lột, trộm cắp cướp đọat, hành hung đọat mạng.
- sinh sống và hưởng thụ từ nhũng thống khổ của người khác.
- lười biếng suy tư và làm việc.
- hùa theo đám đông và thành kiến.
- bị lôi cuốn bởi sự náo nhiệt của hào nhóang xa hoa, hư danh hình thức.

Nếu hầu hết mọi người có tâm lọan động như họ thì thế giới tránh làm sao cho khỏi động lọan chiến tranh. Hoặc là họ chờ đón chiến tranh, hoặc là họ sẽ mang chiến tranh đi gieo rắc khắp nơi.Chẳng những nước khác không được hưởng thanh bình mà chính nơi xứ họ cũng chẳng có thanh bình.Chỉ mong câu hát trong bài thánh ca buồn " Đêm Thánh Vô Cùng " nầy có ý nghĩa hơn với họ:
" Hởi những ai đang an hưởng trong lạc thú,
Hảy nhớ rằng Chúa đang đền bù ! "

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 26th 2015, 6:22pm)


179

Saturday, December 26th 2015, 6:36pm

Vậy thì hậu quả điển hình là:
TC đang mang chiến tranh đi gieo rắc khắp nơi theo đúng tư duy tà vạy của bọn lãnh tụ tham ác của chúng " Thiên hạ đại lọan, Trung Quốc hưởng lợi ".
Còn VN thì đang chờ đón chiến tranh.
Nếu không may cuộc chiến tranh nầy xảy ra thì đây là đúng là một cuộc chiến tranh có chính nghĩa vì đó là cuộc chiến tranh vệ quốc. VN không mang quân đi đánh xứ người, mà TC mang quân đến xâm chiếm nước ta như cha ông chúng đã từng làm trong lịch sử. Đích danh thiên cổ cừu nhân. Không mơ hồ, không lầm lẫn.

Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là:
- VN có hình dung hay mường tượng được cuộc chiến vệ quốc đó sẽ ra sao không ?


Hảy thử tưởng tượng nếu Mỹ và TC phải đánh nhau thì Mỹ sẽ phải khởi động một cuộc chiến như thế nào ?
- Trước hết Mỹ phải có khả năng đánh một cách bất ngờ, xuất kỳ bất ý, nghĩa là đánh vào lúc mà TC không thể nào phản ứng kịp thời được. Mỹ phải đánh vào nơi mà TC không thể nào biết mà phòng bị được, điểm vào tử huyệt.
- Đồng thời Mỹ phải vô hiệu hóa được khả năng tấn công ngược lại của TC. Tức là Mỹ phải gây được sự thiệt hại vô cùng to lớn đến độ làm tê liệt khả năng cũa Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc.
- Sau hết quân đội của Mỹ phải có khả năng tấn công thần tốc và quyết dịnh chiến trường trong một thời hạn ngắn tối đa để chiến tranh không thể lan rộng.

Cuộc chiến tưởng tượng Mỹ-TC nầy rất khó mà xảy ra vì cả Mỹ và TC không dại dột gì mà khởi động chiến tranh với nhau vì có thể Mỹ chưa giải quyết được ưu thế tuyệt đối cho tình huống nầy. Còn TC thì có thể chưa muốn hay không bao giờ dám liều mạng với con " cọp giấy " nầy.

Nhưng nếu nó phải xảy ra thì chắc chắn Mỹ sẽ phải tính tóan như vậy.

Tương tự như thế, nếu chiến tranh VN-TC không may xảy ra thì TC cũng sẽ phải tính tóan như thế. Mỹ có thể không đạt được ưu thế tuyệt đối với TC nhưng TC rất dễ đạt được ưu thế tuyệt đối với VN.
Vậy thì TC sẽ:
- quyết đánh VN vào cái lúc mà VN tưởng là mình đã giải quyết được êm thấm mọi xung đột với TC bằng một cách thức nào đó, cho dù là việc cắt đất dâng biển cho TC đi nữa.
- vô hiệu hóa ngay từ giây phút đầu tiên khả năng tấn công ngược lại của VN. Tức là TC đã gây được sự thiệt hại vô cùng to lớn đến độ làm tê liệt khả năng cũa Quân Đội VN.
- tấn công thần tốc và quyết dịnh chiến trường trong một thời hạn ngắn vô cùng ngắn.

Muốn làm được như thế TC sẽ không từ một thủ đọan tàn độc nào để làm cả nước VN tang hoang như bãi chiến trường mà chúng thắng ta thua. Có nghĩa là chúng sẽ " đuổi tận giết tuyệt " không phân biệt và không cần biết đó là thường dân hay bộ đội hay đảng viên, hay nam phụ lão ấu. Chỉ cần nghi ngờ là giết, chỉ cần đạt được mục đích khủng bố và làm tan rã ý chí cũng như khả năng chống đối của người VN là giết.

Vậy thì VN sẽ không bao giờ có một cơ hội thứ hai để trường kỳ kháng chiến hay lật lại thế cờ.
Nước VN sẽ trở thành quá khứ hay ít ra sẽ giống như nước Syria đại lọan.
Vậy thì nếu TC quyết định tấn công VN thì ngưới VN chỉ có một cơ hội duy nhất để quyết tử với giặc mà thôi !!!

This post has been edited 4 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 27th 2015, 5:38am)


180

Sunday, December 27th 2015, 7:32pm

Câu hỏi kế tiếp là:

Tòan dân VN có lường trước được mức độ tàn khốc của cuộc chiến đó sẽ như thế nào không ?
Có sẳn sàng chấp nhận mọi hậu quả của nó hay không ?

Có thể trả lời ngay là trừ một thiểu số ở trên đỉnh cao quyền lực và tiền bạc có thể đánh hơi được mùi thuốc súng đang ủ kín. Còn hầu hết dân VN thì chẳng hay biết gì cả !
Mọi người còn thì đang bận rộn vất vã mưu sinh, nói đúng ra là tìm kiếm cái ăn để đút vào mồm, kể cả rất nhiều rất nhiều cái mồm đang ăn nhậu bất kể ngày đêm. Người Việt đã chi ra trên sáu chục ngàn tỷ đồng vào bia rượu nhưng chỉ hai ngàn tỷ đồng để mua sách đọc ( báo cáo tổng kết năm 2015 , được báo chí trong nước đăng tải ).

" Ăn chưa no thì lo chưa tới " đúng không ?
Không biết, không thấy trước thì mọi chuyện xảy ra đều bất ngờ, đúng không ?
Mà hả bất ngờ là hỏang hốt, phải không ?
Tinh thần hỏang hốt sẽ đưa đến tình trạng hỏang lọan, mạnh ai nấy chạy để thóat thân.
Mà dân chúng ùn ùn bỏ chạy thì quân đội sẽ ra sao ? có yên lòng chống giặc hay không ?
Còn cái bọn chóp bu ăn hại, tướng tá sôi thịt ấy à ? Chúng đã cao bay xa chạy từ khuya rồi !!!
Vô lý à, ăn nói linh tinh à ??
Các bác hảy xem lại cuộn phim Ba Mươi Tháng Tư ( năm 1975 ) nhá !

This post has been edited 1 times, last edit by "nguoi pham" (Dec 28th 2015, 4:56am)


31 users apart from you are browsing this thread:

31 guests

Similar threads